Tải bản đầy đủ (.docx) (31 trang)

TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ NGUYÊN VẬT LIỆU LÀ BIỆN PHÁP CƠ BẢN ĐỂ GIẢM CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (197.2 KB, 31 trang )

TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ NGUYÊN VẬT LIỆU LÀ BIỆN PHÁP CƠ
BẢN ĐỂ GIẢM CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP
1. VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN VẬT LIỆU
1.1. Khái niệm
Nguyên vật liệu là cách gọi tắt của nguyên liệu và vật liệu. Cả nguyên liệu và vật liệu là
bộ phận quan trọng chủ yếu của tư liệu sản xuất. Đối với các doanh nghiệp sản xuất nguyên
vật liệu là đối tượng lao động chủ yếu cấu thành nên thực thể của sản phẩm. Chúng là đối
tượng lao động đã trải qua lao động của con người để khai thác và sản xuất ra chúng. Hay
nói cách khác có sự kết tinh lao động của con người trong nguyên vật liệu.
Nghiên cứu sự khác nhau giữa nguyên vật liệu và đối tượng lao động nói chung có ý
nghĩa rất quan trọng. Để có cơ sở nguyên vật liệu phát triển thì phải phát triển các ngành
khai thác và chế biến tài nguyên thiên nhiên. Nếu không thì tài nguyên thiên nhiên chỉ là
tiềm năng. Ta lấy ví dụ như, ở một số địa phương của nước ta có chứa những khoáng sản
kim loại quý, nhưng chúng ta vẫn chưa có điều kiện khai thác. Như vậy thì chúng vẫn chưa
trở thành nguyên vật liệu cho ngành luyện kim hoặc hoá chất,...
Trong sản xuất kinh doanh, nguyên vật liệu được vận động theo một quá trình liên tục
qua nhiều khâu. Còn trong phạm vi một doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu bắt đầu từ
kho và kết thúc cũng tại kho dưới dạng kết tinh trong thành phẩm qua một quá trình chế
biến trên dây chuyền công nghệ.


Sơ đồ 1. Đường vận động của nguyên vật liệu
Các công đoạn sản
xuất
Kho th nh phà ẩmKho nguyên vật liệu
1.2. Vai trò
Xuất phát từ khái niệm trên chúng ta thấy nguyên vật liệu có một vai trò rất quan trọng,
thể hiện dưới một số khía cạnh sau:
- Cũng như con người và máy móc, nếu thiếu nguyên vật liệu thì quá trình sản xuất sẽ bị
gián đoạn hoặc không thể tiến hành được.
- Nguyên vật liệu trực tiếp cấu tạo nên thực thể sản phẩm, vì vậy chất lượng của nó ảnh


hưởng trực tiếp đến chất lượng của sản phẩm.
- Vốn nguyên vật liệu chiếm từ 40-60% tổng số vốn lưu động. Điều này sẽ dẫn đến phải
đảm bảo sử dụng nguyên vật liệu hiệu quả nếu như muốn sử dụng vốn lưu động hiệu
quả.
Phế liệu phế phẩm
Huỷ bỏ
- Đứng trên phương diện kinh doanh nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng từ 60-80%
trong cơ cấu giá thành. Điều này có nghĩa là, để phấn đấu hạ giá thành thì phải sử
dụng tiết kiệm và hiệu quả nguyên vật liệu.
Nói tóm lại, nguyên vật liệu có thể làm gián đoạn sản xuất, rút ngắn chu kỳ sống của sản
phẩm cũng như làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị thua lỗ, hoặc tạo ra một kết quả
hoàn toàn ngược lại với những điều vừa kể trên.
1.3. Phân loại
Đứng trên từng mục đích nghiên cứu và căn cứ khác nhau chúng ta có thể phân loại
nguyên vật liệu theo các loại khác nhau. Sau đây là một số cách phân loại thông dụng:
1.3.1. Căn cứ vào tính chất, mức độ tác động của lao động vào đối tượng lao động

Dựa trên tiêu chí này chúng ta có thể phân thành hai loại sau:
- Nguyên liệu: là những loại mà mức độ tác động của con người còn thấp, chỉ dừng lại ở
khai thác và sơ chế, ví dụ như các loại quặng,...
- Vật liệu: là loại đã qua những công đoạn chế biến của con người. Nó có thể là đầu vào
của quá trình sản xuất tiếp theo hoặc là sử dụng ngay cho một số mục đích, ví dụ như
vải có thể tiêu dùng ngay hoặc trở thành vật liệu cho ngành may.
1.3.2. Căn cứ vào vai trò tham gia cấu thành nên thực thể của sản phẩm

- Vật liệu chính: là những loại mà sau quá trình gia công, chế biến sẽ trở thành thực thể
vật chất chủ yếu của sản phẩm, như sợi thành vải, lá thuốc lá thành điếu thuốc,...
- Vật liệu phụ: có tác động phụ trợ trong sản xuất, được sử dụng kết hợp với nguyên vật
liệu chính làm thay đổi hình dáng, màu sắc, mùi vị, hoặc phục vụ cho lao động hay sự
hoạt dộng của các tư liệu lao động, ví dụ như thuốc nhuộm vải, hương liệu cho mùi vị

của điếu thuốc,...

1.3.3. Căn cứ vào nguồn tạo thành
Dựa trên tiêu thức này chúng ta có:
- Nguyên vật liệu "công nghiệp": bao gồm nguyên vật liệu khoáng sản với hai đặc điểm
cơ bản không có khả năng tái sinh và thường phân bố trong lòng đất, và nguồn
nguyên vật liệu tổng hợp nhân tạo có khả năng mở rộng vô hạn cả về quy mô và đặc
tính kỹ thuật dựa trên cơ sở của thành tựu khoa học công nghệ.
- Nguyên vật liệu "động thực vật ": do các ngành nông lâm, ngư nghiệp sản xuất ra,
chúng có khả năng tái sinh, song tốc độ tái sinh phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và
khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các ngành này.

Ngoài ba cách phân loại chủ yếu trên, chúng ta còn có thể phân loại nguyên vật liệu
thành nguyên vật liệu trong nước và nguyên vật liệu nhập khẩu,... Nghiên cứu các loại
nguyên vật liệu này sẽ giúp chúng ta hoạch định cho mình những kế hoạch nguồn nguyên
vật liệu thích hợp.
2. QUẢN TRỊ NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP
2.1. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống định mức tiêu hao NVL
Khi nói đến sử dụng nguyên vật liệu thì vấn đề quan tâm đầu tiên đó là định mức tiêu
dùng nguyên vật liệu. Vì lẽ này mà trước khi xem xét tình hình sử dụng nguyên vật liệu,
chúng ta sẽ xem xét vấn đề định mức và công tác xây dựng định mức qua một số nội dung
sau.
2.1.1. Khái niệm và ý nghĩa của định mức
2.1.1.1. Khái niệm
Định mức tiêu dùng nguyên vật liệu là lượng tiêu dùng lớn nhất cho phép để sản xuất ra
một đơn vị sản phẩm hoặc một công việc nào đó trong những điều kiện nhất định về tổ chức
và kỹ thuật của kỳ kế hoạch.
2.1.1.2. ý nghĩa
Từ khái niệm trên chúng ta có thể nhận biết được vai trò của định mức tiêu dùng nguyên
vật liệu, thể hiện qua một số mặt sau:

- Nó là cơ sở để xây dựng kế hoạch mua nguyên vật liệu, điều hoà cân đối lượng nguyên
vật liệu cần dùng trong doanh nghiệp.
- Là căn cứ trực tiếp để cấp phát nguyên vật liệu một số cách hợp lý, kịp thời cho các
phân xưởng, bộ phận sản xuất, đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành cân
đối, nhịp nhàng và liên tục.
- Là cơ sở để tiến hành hạch toán kinh tế nội bộ, tính toán giá thành, nhu cầu vốn lưu
động và huy đông nguồn vốn một cách chính xác, hiệu quả.
- Định mức tiêu dùng nguyên vật liệu là mục tiêu cụ thể để thúc đẩy cán bộ công nhân
viên sử dụng hợp lý tiết kiệm nguyên vật liệu, ngăn ngừa những lãng phí có thể xảy ra.
- Ngoài ra nó còn là thước đo đánh giá trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật và ứng dụng
công nghệ mới vào sản xuất, là cơ sở để xác định các mục tiêu cho các phong trào cải
tiến kỹ thuật,...
Tóm lại, định mức tiêu dùng nguyên vật liệu có một vai trò vô cùng quan trọng. Hơn thế
nữa nó còn là một chỉ tiêu động, đòi hỏi phải thường xuyên được đổi mới và hoàn thiện theo
sự tiến bộ của kỹ thuật, công tác quản lý, tổ chức sản xuất, trình độ tay nghề của công
nhân,...
2.1.2. Công tác quản lý định mức tiêu dùng nguyên vật liệu trong doanh nghiệp

2.1.2.1. Xây dựng định mức tiêu dùng nguyên vật liệu
Để xây dựng định mức tiêu dùng nguyên vật liệu thì tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của
từng doanh nghiệp mà có thể lựa chọn một trong các phương pháp sau:
Phương pháp thống kê kinh nghiệm: là phương pháp dựa vào hai căn cứ: các số liệu thống
kê về mức tiêu dùng nguyên vật liệu của kỳ báo cáo và những kinh nghiệm của những công
nhân tiên tiến, rồi dùng phương pháp bình quân gia quyền để xác định định mức.
Phương pháp này có ưu nhược điểm sau:
- Ưu điểm: đơn giản, dễ vận dụng, có thể tiến hành nhanh chóng, phục vụ kịp thời cho
sản xuất.
- Nhược điểm: tính chính xác và khoa học không cao.
Phương pháp thực nghiệm: là phương pháp dựa vào kết quả của phòng thí nghiệm kết hợp
với những điều kiện sản xuất nhất định để kiểm tra sửa đổi các kết quả đã tính toán, hoặc

tiến hành sản xuất thử nhằm xác định mức cho kỳ kế hoạch.
- Ưu điểm: có tính chính xác và khoa học hơn phương pháp thống kê.
- Nhược điểm: chưa phân tích toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến định mức và còn phụ
thuộc vào điều kiện phòng thí nghiệm, có thể không phù hợp với điều kiện sản xuất.
Ngoài ra chi phí cả về mặt vật chất lẫn thời gian đều tương đối cao.

Phương pháp phân tích: thực chất của phương pháp này là kết hợp việc tính toán về kinh tế
kỹ thuật với việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lượng tiêu hao nguyên vật liệu. Chính
vì vậy nó phải được tiến hành qua ba bước sau:
Bước 1: Thu thập và nghiên cứu các tài liệu đến mức, đặc biệt là các tài liệu về thiết kế
sản phẩm, đặc tính nguyên vật liệu, chất lượng máy móc thiết bị, trình độ tay nghề công
nhân,... và số liệu thống kê về tình hình thực hiện mức của kỳ báo cáo.
Bước 2: Phân tích từng thành phần trong cơ cấu định mức, và các nhân tố ảnh hưởng để
tìm giải pháp xoá bỏ mọi lãng phí, tiết kiệm mức tiêu dùng nguyên vật liệu.
Bước 3: Tổng hợp các thành phần trong cơ cấu định mức, tính hệ số sử dụng và đề ra
biện pháp phấn đấu giảm mức trong kỳ kế hoạch.
Phương pháp này có những ưu nhược điểm sau:
- Ưu điểm: Có tính khoa học và chính xác cao, đưa ra một mức tiêu dùng hợp lý nhất.
Hơn nữa khi sử dụng phương pháp này định mức tiêu dùng luôn luôn nằm trong trạng
thái được cải tiến.
- Nhược điểm: Nó đòi hỏi một lượng thông tin đương đối lớn, toàn diện và chính xác.
Điều này có nghĩa là công tác thông tin trong doanh nghiệp phải được tổ chức tốt. Một
điều dễ nhận thấy khác đó là với một lượng thông tin như vậy đòi hỏi phải có đội ngũ
xử lý thông tin có trình độ và năng lực cao. Nhưng dù nói thế nào thì đây vẫn là
phương pháp tiên tiến hiệu quả nhất.
2.1.2.2. Đưa định mức vào sản xuất và theo dõi tình hình thực hiện
Kết quả của bước công việc trên sẽ được đưa vào áp dụng trong thực tế. Nhưng trước
hết nó phải được thông qua hội đồng định mức và được giám đốc chuẩn y. Việc giao định
mức cho công nhân trực tiếp sản xuất được tiến hành khi có sự chứng kiến của thủ trưởng
đơn vị giao mức, cán bộ định mức và công nhân thực hiện định mức. Sau khi người công

nhân nhận định mức thì các bộ phận liên quan phải tạo điều kiện thuận lợi cho họ tiến hành
như: cung cấp đúng đủ kịp thời nguyên vật liệu, đảm bảo tình trạng của trang thiết bị,...
Trong khi người công nhân tiến hành sản xuất thì cán bộ định mức phải có trách nhiệm
theo dõi tình hình thực hiện và tiến hành phân tích tình hình thực hiện theo định kỳ. Việc
phân tích này phải tìm ra được cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan của việc vượt
mức, đạt mức và không đạt mức và đưa ra các giải pháp khắc phục kịp thời. Kết quả của
công tác này sẽ là căn cứ cho công tác điều chỉnh định mức.
2.1.2.3. Sửa đổi định mức
Như đã nói ở trên, định mức tiêu dùng nguyên vật liệu là một chỉ tiêu động, nó đòi hỏi
phải thường xuyên đổi mới và hoàn thiện theo tình hình mới. Để tiến hành được công tác
này phải dựa vào các căn cứ sau:
- Các điều kiện sản xuất thay đổi: ví dụ như đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm,...
- Kết quả của các bước công việc như đã nói ở phần trên. Đây là căn cứ quan trọng
nhất. Nếu kết quả phân tích không chính xác và không có tính thuyết phục thì sẽ không
sửa đổi được,...
- Thời gian đưa mức vào sản xuất ít nhất phải được ba tháng trừ trường hợp có lệnh
đặc biệt của giám đốc. Nếu như thời gian áp dụng chưa lâu mà đã sửa đổi thì sẽ gây
tâm lý hoang mang và đặc biệt khó hiệu quả vì chưa đánh giá mức cũ một cách toàn
diện.
Qua những phần trên ta có thể rút ra rằng định mức là một trong những công cụ quản
lý rất quan trọng đặc biệt trong lĩnh vực quản lý nguyên vật liệu.
2.2. Xây dựng kế hoạch cung ứng nguyên vật liệu
2.2.1. Nguyên tắc và những căn cứ để xây dựng kế hoạch nguyên vật liệu

2.2.1.1. Nguyên tắc
Chúng ta hiểu rằng kế hoạch nguyên vật liệu là một bộ phận quan trọng trọng hệ
thống kế hoạch phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy khi xây dựng phải đảm
bảo tính khoa học và thực tế, dựa trên những căn cứ sau:
- Luôn đảm bảo lượng dự trữ hợp lý về số lượng, chất lượng và quy cách.
- Đảm bảo cung cấp kịp thời cho sản xuất, đồng thời không bị ứ đọng vốn ở khâu dự

trữ.
- Dựa vào kết cấu sản phẩm, khi tính toán lập kế hoạch phải tính riêng cho từng loại
nguyên vật liệu.
- Góp phần nâng cao các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn
2.2.1.2. Căn cứ
Để đảm bảo các nguyên tắc trên khi xây dựng kế hoạch nguyên vật liệu phải trên các căn
cứ sau:
- Kế hoạch sản xuất sản phẩm trên cơ sở cầu thị trường và các nhân tố khác
- Hệ thống định mức tiêu hao nguyên vật liệu, đặc điểm sản phẩm, đặc điểm nguyên vật
liệu,...
- Tình hình giá cả và các yếu tố cạnh tranh trên thị trường nguyên vật liệu
- Các hợp đồng mua bán vật tư và giao nộp sản phẩm cho khách hàng.
- Tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch
- Hệ thống kho tàng hiện có của doanh nghiệp,...
2.2.2. Các chỉ tiêu cần xác định khi xây dựng kế hoạch nguyên vật liệu
2.2.2.1. Xác định cầu nguyên vật liệu trong kỳ kế hoạch

Trên cơ sở phân tích và dự báo các nhân tố ảnh hưởng đến cầu nguyên vật liệu cũng như
sự thoả hiệp của các bộ phận, việc xác định cầu về nguyên vật liệu bao gồm các nội dung cụ
thể là:
- Xác định số nguyên vật liệu cần thiết cho một thời kỳ kế hoạch nào đó cũng như
từng thời điểm mua sắm với số lượng cụ thể. Dựa theo những căn cứ đã xem xét
ở trên thì về nguyên tắc, cầu về nguyên vật liệu của một thời kỳ không được đáp
ứng một lần mà được chia nhỏ và được cung ứng làm nhiều lần khác nhau.
- Xác định người cung ứng cũng như giá cả nguyên vật liệu trong từng thời điểm
mua sắm.
Trong thực tế, các doanh nghiệp có thể sử dụng các tài liệu dưới đây để xác định cầu
về nguyên vật liệu cho thời kỳ kế hoạch:
1. Các báo cáo về tình hình thị trường có chú ý đến việc đánh giá khả năng phát triển
kinh tế trong kỳ kế hoạch.

2. Các thống kê của các cơ quan thống kê, các phân tích và dự báo thị trường của các cơ
quan nghiên cứu, các số liệu thu thập được từ các hội chợ triển lãm,...
3. Thống kê về tiêu thụ sản phẩm ở các thời kỳ trước đó và các nhân tố ảnh hưởng đến
khả năng tiêu thụ sản phảm trong kỳ kế hoạch.
4. Các định mức tiêu hao nghuyên vật liệu hoặc phân tích số liệu tiêu hao nguyên vật liệu
của thời kỳ trước đó.
5. Thẻ (sổ) kho theo dõi nguyên vật liệu theo từng nhóm loại cụ thể để biết được các
thông tin về lưu kho mỗi loại.
6. Thẻ (sổ) theo dõi lượng đặt hàng từ nhiều người cấp hàng khác nhau vào các thời
điểm khác nhau.
2.2.2.2. Xác định lượng đặt hàng và dự trữ tối ưu
Cầu về nguyên vật liệu của một thời kỳ kế hoạch không được cung ứng một lần mà
phải chia ra làm nhiều lần cung ứng với số lượng xác định. Về nguyên tắc, số lần và lượng
cung ứng nguyên vật liệu cụ thể do tốc độ sản xuất sản phẩm, các thông số về kho tàng và
lưu kho nguyên vật liệu, diễn biến và dự báo về cung ứng nguyên vật liệu, giá cả nguyên vật
liệu trên thị trường,...qui định.
Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải xác định được lượng đặt hàng và dự trữ đem lại hiệu
quả kinh doanh cao nhất (lượng đặt hàng và dự trữ tối ưu). Các nhân tố khác cần xem xét
khi xác định lượng đặt hàng và dự trữ tối ưu là: tổng cầu về nguyên vật liệu trong kỳ kế
hoạch, thời gian, mua sắm, khả năng cung ứng từng phần, năng lực kho tàng, giới hạn về
tài chính.
Đồ thị.1 Mô hình đặt hàng tối ưu
AC
AVC
AFC
AVC
ACmin
TCmin

AFC

0 Qopt Q

Vì chi phí kinh doanh mua sắm và lưu kho trong kỳ kế hoạch là tổng của chi phí kinh
doanh mua sắm, đặt hàng và kho (cả tiền trả lãi cho số vốn tương ứng với giá trị nguyên vật
liệu lưu kho) nên nếu gọi:
D
n
là số cầu về nguyên vật liệu của thời kỳ kế hoạch (một năm)
P là giá mua 1 đơn vị nguyên vật liệu
VC
ms
là chi phí kinh doanh mua sắm trực tiếp
FC
dh
là chi phí kinh doanh cố định đặt hàng, gắn với từng lần đặt hàng
VC
i
là chi phí kinh doanh lưu kho và tiền trả lãi tương ứng với số vốn liên quan
đến nguyên vật liệu lưu kho trong kỳ kế hoạch
i là tỷ lệ lãi suất phải trả và chi phí kinh doanh lưu kho so với lượng chi phí
kinh doanh lưu kho và tiền trả lãi trong kỳ kế hoạch
TC là tổng chi phí kinh doanh mua sắm và lưu kho trong kỳ kế hoạch
Q là lượng đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng
Q
opt
là lượng hàng đặt tối ưu cho mỗi lần đặt hàng.
Ta sẽ thiết kế được hàm chi phí kinh doanh mua sắm và lưu kho sau:
VC
ms
+ FC

đh
+ VC
i
=TC
Hàm này phải tiến tới cực tiểu: TC→min
Có : D
n
.P + FC
đn
.D
n
/Q + Q.P.i/2 = TC
dTC/dQ = - FC
đh
.D
n
/Q
2
+ P.i/2

×