Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Tài nguyên rừng và nguyên nhân suy thoái rừng ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (193.49 KB, 7 trang )



Tài nguyên rừng và nguyên
nhân suy thoái rừng ở Việt Nam


Năm 1943, diện tích rừng Việt Nam ước
tính có khoảng 14,3 triệu ha (Maurand,
1943), vớI tỷ lệ che phủ là 43,8%; trên
mức an toàn sinh thái là 33%. Năm 1976
giảm xuống còn 11 triệu ha vớI tỷ lệ che
phủ còn 34%. Năm 1985 còn 9,3 triệu ha
và tỷ lệ che phủ là 30%. Năm 1995 còn 8
triệu ha và tỷ lệ che phủ là 28%. Năm
1999 cả nước có 10,88 triệu ha rừng và
độ che phủ là 33% (Jyrki và cộng sự,
1999). Diện tích rừng bình quân cho 1
người là 0,13 ha (1995), thấp hơn
mức trung bình ở Đông Nam Á
(0,42%).
Trong thời kỳ 1945 – 1975 cả nước mất
khoảng 3 triệu ha rừng, bình quân
100.000 ha năm. Quá trình mất rừng diễn
ra nhanh hơn ở giai đoạn 1975 – 1990:
Mất 2,8 triệu ha, bình quân 140.000 ha/
năm. Nguyên nhân chính làm mất rừng
trong giai đoạn này là do dân số tăng
nhanh, nạn đốt nương làm rẫy tràn
lan, quá trình khai hoang lấy đất
trồng các cây công nghiệp như cà phê,
chè, cao su và khai thác gỗ xuất khẩu.


Tuy nhiên từ những năm 1990 – 1995,
do công tác trồng rừng được đẩy
mạnh đã phần nào làm cho diện tích
rừng tăng lên.
Về chất lượng, trước năm 1945 rừng
nước ta có trữ lượng gỗ vào khoảng 200
– 300m
3
/ha, trong đó các loài gỗ quí như
đinh, lim, sến, táu, nghiến, trai, gụ là rất
phổ biến. Những cây gỗ có đường kính
40 – 50cm chiếm tới 40 – 50% trữ lượng
của rừng. Rừng tre nứa với những cây tre
có đường kính 18 – 20cm, nứa 4 – 6cm
và vầu 8 – 12cm rất phổ biến (Hoàng
Hòe, 1998). Hiện nay chất lượng rừng đã
giảm sút đáng kể, chỉ còn chủ yếu là rừng
nghèo có giá trị kinh tế không cao. Trữ
lượng gỗ rừng năm 1993 ước tính
khoảng 525 triệu m
3
(trung bình 76
m
3
/ha). Tốc độ tăng trưởng trung bình
của rừng Việt Nam hiện nay là 1 –
3m
3
/ha/năm, đối với rừng trồng có thể
đạt 5 – 10 m

3
/ha/năm (Castren, 1999).
Ngoài tài nguyên gỗ, rừng Việt Nam
cũng rất giàu có về các loài tre nứa
(khoảng 40 loài có ý nghĩa thương
mại và khoảng 4 tỷ cây tre nứa);
Song mây có khoảng 400 loài ; hàng năm
khai thác khoảng 50.000 tấn..
Trong rừng Việt Nam cũng phong phú về
các loài dược liệu, hiện đã biết được
3800 loài (Viện Dược liệu, 2002), trong
đó có nhiều loài đã được biết và khai thác
phục vụ cho việc chế biến thuốc. Nhiều
loài cây cho chất thơm, tanin, tinh dầu và
dầu béo. Ngoài ra, rừng còn cung cấp
nhiều loại sản phẩm quý khác như cánh
kiến, nấm, mật ong, hoa lan, thịt thú
rừng.
Hiện nay, có rất nhiều loài thực vật quý
hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng cần được
bảo vệ như: cẩm lai (Dalbergia
bariaensis), trầm hương (Aquilaria
crassna) sam bông (Amentotaya
argotenia), thông tre (Podocarpus
neriifolius), gõ đỏ (Afzelia
xylocarpa), trắc (Dalbergia
cochinchinensis), giao xẻ tua
(Sterospermum ferebriatum), gạo bông
len (Bombax insigne).
Các loài động vật quý hiếm như: báo

gấm (Neophelis nebulosa), voọc quần đùi
trắng (Trachipythecus francoisi
delaconri), gà lôi hồng tía (Lophura
diardi), trĩ sao (Rheinartia ocellata),
chồn bạc má (Megogale personata
geeoffrory), cu li lớn (Nycticebus
coucang boddaert), bò tót (Bos
gaurus), cà tong (Cervus eldi), hổ
(Panthera tigris).
Những nguyên nhân chính làm suy
thoái rừng ở Việt Nam

×