Tải bản đầy đủ (.docx) (30 trang)

THỰC TRẠNG NỢ QUÁ HẠN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (236.41 KB, 30 trang )

THỰC TRẠNG NỢ QUÁ HẠN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
I)Giới thiệu về NHNo &PTNTTP Hà Nội:
1.Sự hình thành và phát triển:
Tháng 3/1998,hệ thống ngân hàng Việt Nam có sự chuyển đổi từ hệ thống ngân hàng
một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp, Ngân hàng nông nghiệp thành phố Hà Nội
(NHNoHN) được thành lập trên cơ sở tách chuyển từ NHNN tại thành phố Hà Nội và
12 huyện ngoại thành, ra đời sau nghị định 53/HĐBT ban hành ngày 26/3/1988 và hai
pháp lệnh 1990/NHNN có hiệu lực. Đây là một ngân hàng thương mại quốc doanh, là
ngân hàng thành viên và hạch toán phụ thuộc của NHNoVN hoạt động trên địa bàn Hà
Nội.
Tháng 9/1991,quốc hội khoá IX đã phân định lại địa giới hành chính các tỉnh- thành
phố,huyện ngoại thành của thủ đô Hà Nội được tách chuyển về các tỉnh khác nên qui
mô và phạm vi hoạt động của NHNoHN bị thu hẹp. Đứng trước tình hình đó kết hợp
với định hướng mở rộng mạng lưới kinh doanh,NHNNo đã chuyển hướng kinh doanh
tập trung khai thác địa bàn nội thành Hà Nội bằng cách thành lập thêm 8 ngân hàng
quận nội thành nhằm khai thác hết nguồn vốn còn đang nhàn rỗi trong dân cư, cho
vay, cung cấp cac dịch vụ phát triển kinh tế thủ đô đồng thời làm nhiệm vụ của ngân
hàng phục vụ người nghèo trên địa bàn theo mô hình ngân hàng phục vụ người nghèo.
Với tên gọi:Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Hà Nội.
Tên giao dịch quốc tế:The branch for Agriculture and Rural Development Bank of Ha
Noi.
Trụ sở đặt tại:Số 77-Lạc Trung-Hai Bà Trưng-Hà Nội
NHNoHN là ngân hàng cấp thành phố, có địa bàn hoạt động rộng.Hà Nội là trung tâm
kinh té xã hội của cả nước, tập trung nhiều quan hệ kinh tế buôn bán lớn, nhiều doanh
nghiệp hoạt động.Do vậy hoạt động của NHNoHN tuân theo luật ngân hàng.Các hoạt
động chủ yếu của NHNoHN :
- Nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ.
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng đồng Việt nam và ngoại tệ cho mọi
thành phần kinh tế.


- Cho vay uỷ thác theo các chương trình của chính phủ trong và ngoài nước
- Thực hiện nghiệp vụ thanh toán trong và ngoài nước,mua bán ngoại tệ,tài
trợ ngoại thương,bảo lãnh và tái bảo lãnh.
- Thực hiện dịch vụ thanh toán chuyển tiền nhanh qua mạng vi tính trong phạm vi toàn
quốc và qua hệ thống mạng Swift trên toàn thế giới.
- Thực hiện dịch vụ chi trả kiều hối,giao nhận tiền tận nơi cho đơn vị,thu,chi ngân
phiếu,tiền mặt và thực hiện các nghiệp vụ khác.
2.Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố
HN
2. 1 Về cơ cấu tổ chức bộ máy
Hiện nay ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố HN có chi nhánh
trên 7 quận của thành phố Hà Nội và một ngân hàng khu vực (khu vực Tam
Chinh)Dưới chi nhánh quận có quỹ tiết kiệm (hiện có 20 quỹ ) Tại trụ sở chính tính
đến ngày 31/12/02 có 297 cán bộ gồm một giám đốc và hai phó giám đốc và gồm các
phòng ban sau:
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lí
Phòng
Hành
chính
Phòng
Kế
toán
Phòng
Vi
tính
Phòng
Kế
hoạch
Phòng
Kinh

doanh
Phòng
Tổ chức cán bộ
Phòng
Kiểm tra, kiểm soát
Phòng
Thanh tra quốc tế
Phòng
Ngân
quỹ
Các
Chi nhánh cấp hai
PHÓ GI M Á ĐỐC I
PHÓ GI M Á ĐỐC II
GI M Á ĐỐC
2. 2 Chức năng , nhiệm vụ của các phòng ban
Banh lãnh đạo: gồm 1 Giám đốc và 2 Phó giám đốc. Giám đốc là người trực tiếp
điều hành mọi hoạt động của Ngân hàng, chịu trách nhiệm trước pháp luật và Tổng
giám đốc NHN
0
&PTNT Việt Nam. Quyền và nghĩa vụ của Giám đốc được thể hiện
trong quyết định 169/QĐ/HĐQUá TRìNH của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam.
Giúp việc cho Giám đốc là các Phó Giám đốc trong chỉ đạo điều hành, tham gia
chỉ đạo một số nghiệp vụ do Giám đốc phân công và thay mặt Giám đốc khi được
uỷ quyền.
Phòng Kế hoạch: Đây là phòng có vai trò rất quan trọng trong việc nghiên cứu
xây dựng các kế hoạch, hỗ trợ đắc lực cho ban lãnh đạo Ngân hàng trong việc ra
các quyết định kinh doanh chiến lược của Ngân hàng Nhiệm vụ phòng ban:
- Nghiên cứu và đề xuất chiến lược khách hàng, chiến lược huy động vốn trên địa
bàn thành phố Hà Nội.

- Xây dựng kế hoạch kinh doanh theo định hướng kinh doanh của Ngân hàng Nông
nghiệp Việt Nam.
- Tổng hợp, theo dõi các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh và quyết toán kế hoạch đến
các chi nhánh NHN
0
&PTNT trên địa bàn này, xây dựng các báo cáo trình giám
đốc.
- Cân đối nguồn vốn, sử dụng nguồn vốn và điều hoà vốn kinh doanh đối với chi
nhánh NHN
0
&PTNT trên địa bàn.
- Làm đầu mối thực hiện thông tin phòng ngừa rủi ro và xử lý thông tin tín dụng.
Phòng kinh doanh: Phòng kinh doanh thông qua các nghiệp vụ chuyên môn là
cho vay và đầu tư, tiến hành.
- Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng, phân loại khách hàng và đề xuất
các chính sách ưu đãi tín dụng đối với khách hàng.
- Thẩm định và cho vay theo cấp uỷ quyền nhằm mở rộng hoạt động, đảm bảo an
toàn và hiệu quả.
- Tiếp nhận và thực hiện các chương trình, dự án thuộc nguồn vốn trong và ngoài
nước, trực tiếp làm dịch vụ uỷ thác nguồn vốn thuộc Chính Phủ, bộ, ngành và các
cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước.
- Tổng hợp, báo cáo định kỳ và thường xuyên theo dõi, tư vấn cho Giám đốc về
những lĩnh vực do phòng phụ trách.
Phòng thanh toán quốc tế:
- Thực hiện công tác thanh toán ngoài nước của chi nhánh, nghiên cứu xây dựng và
áp dụng các kỹ thuật thanh toán hiện đại.
- Phòng chuyên thực hiện những nghiệp vụ: thanh toán xuất nhập khẩu, mở L/C,
chuyển tiền nước ngoài cho các cá nhân và các Doanh nghiệp, thanh toán nhờ thu,
thanh toán biên mậu với các nước có chung biên giới, thanh toán quốc tế thông qua
mạng SWIFT và cho vay tài trợ xuất nhập khẩu…

- Tạo điều kiện cho việc thanh toán nhanh nhất, chính xác kịp thời đáp ứng nhu cầu
của khách hàng.
- áp dụng công nghệ thanh toán hiện đại
Phòng kế toán có nhiệm vụ:
- Ghi chép thống kê các giao dịch, hạch toán kế toán, thanh toán.
- Lập các báo cáo, xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch tài chính, quyết toán kế hoạch
thu, chi tài chính.
- Tổng hợp, lưu trữ hồ sơ tài liệu về hạch toán, kế toán, quyết toán và các báo cáo
theo quy định.
- Thực hiện nghiệp vụ thanh toán trong nước, bao gồm các bộ phận thanh toán qua
Ngân hàng bằng nội tệ, thanh toán bù trừ, thanh toán liên ngân hàng.
- Quản lý và sử dụng các thiết bị thông tin, điện toán phục vụ nghiệp vụ kinh
doanh theo quy định chung.
Phòng ngân quỹ có nhiệm vụ:
- Chuyển tiền theo lệnh của các phòng ban khác cho khách hàng, lưu tiền mặt trong
kho để đáp ứng nhu cầu chi trả, cho vay đối với khách hàng của Ngân hàng.
- Quản lý và sử dụng các quỹ chuyên dùng theo quy định của Ngân hàng Nông
nghiệp Việt Nam.
- Chấp hành các quy định về an toàn kho quỹ và định mức kho theo quy định.
Phòng tổ chức cán bộ và đào tạo: được tách ra từ phòng hành chính nhân sự (cũ)
do yêu cầu thay đổi cho phù hợp với thực tế kinh doanh tại Ngân hàng .
Nhiệm vụ của phòng:
- Xây dựng quy định lề lối làm việc trong đơn vị và mối quan hệ với tổ chức Đảng,
Công đoàn, chi nhánh trực thuộc địa bàn.
- Đề xuất mở rộng mạng lưới kinh doanh trên đại bàn.
- Thực hiện công tác quy hoạch cán bộ , quản lý hồ sơ cán bộ, và các phong trào thi
đua khen thưởng.
- Đề xuất bổ nhiệm, miễm nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các cán bộ trong phạm vi
quyền hạn của mình.
- Tổ chức liên hệ các khoá đào tạo cán bộ, đề cử cán bộ đi học trong và ngoài

nước.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do giám đốc chi nhánh giao.
Phòng hành chính: nằm trong bộ máy giúp việc cho Giám đốc và phục vụ cho các
phòng nghiệp vụ trong quá trình hoạt động kinh doanh, chịu sự lãnh đạo trực tiếp
của Giám đốc NHN
0
&PTNT Hà Nội. Phòng được hình thành ngay từ khi
NHN
0
&PTNT Hà Nội đi vào hoạt động và đã có những đóng góp quan trọng trong
việc trợ giúp ban lãnh đạo ra các quyết định đúng đắn kịp thời phục vụ cho hoạt
động kinh doanh.
- Xây dựng chương trình công tác bán hàng, hàng quý và đôn đocó các phòng ban
thực hiện theo chương trình đã được giám đốc phê duyệt.
- Lưu trữ các văn bản pháp luật có liên quan đến ngân hàng và văn bản định chế
của Ngân hàng Nông nghiệp.
- Trực tiếp quản lý con dấu của chi nhánh. Thực hiện công tác văn thư, phương tiện
giao thông, bảo vệ, xây dựng cơ bản, mua sắm văn phòng phẩm…
- Thực hiện công tác thông tin tuyên truyền, quảng cáo tiếp thị theo chỉ thị của Ban
lãnh đạo.
- Chăm lo đời sống vật chất, văn hoá tinh thần cho cán bộ công nhân viên trong
ngân hàng.
- Chăm lo đời sống vật chất, văn hoá tình thần cho các cán bộ công nhân viên trong
ngân hàng.
Phòng vi tính: được thành lập vào tháng 12 năm 2001 xuất phát từ yêu cầu hội
nhập, và nhanh chóng hiện đại hoá công nghệ trong ngân hàng.
Nhiệm vụ của phòng:
- Tổng hợp thống kê và lưu trữ số liệu thông tin liên quan đến hoạt động của chi
nhánh.
- Xử lý các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến hạch toán kế toán, kế toán thống kê,

hạch toán nghiệp vụ và tín dụng các hoạt động khác phục vụ cho hoạt động kinh
doanh.
- Chấp hành chế độ báo cáo, thống kê và cung cấp số liệu thông tin cho quy định.
- Quản lý, bảo dưỡng và sửa chữa máy móc thiết bị tin học.
- Làm dịch vụ tin học.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác được giao.
Phòng kiểm tra, kiểm soát nội bộ có nhiệm vụ:
- Kiểm tra công tác điều hành của chi nhánh và các đơn vị trực thuộc trên địa bàn.
- Kiểm tra, giám sát việc chấp hành quy trình nghiệp vụ kinh doanh, độ chính xác
của báo cáo tài chính và việc tuân thủ các nguyên tắc chế độ về tài chính kế toán
theo quy định của Nhà nước và ngành ngân hàng.
- Thực hiện giám sát việc chấp hành các quy định của Ngân hàng Nhà nước nước
đảm bảo an toàn trong hoạt động tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng.
Đồng thời cáo cáo và đề xuất các biện pháp xử lý khắc phục lên giám đốc chi
nhánh.
Phòng kiểm tra, kiểm soát làm việc tại NHN
0
&PTNT Hà Nội song là một bộ phận
đôc lập.
Ngoài ra trung tâm còn trực tiếp điều hành một mạng lưới chi nhánh gồm 7 chi
nhánh cấp quận (Ba Đình, Cầu Giấy, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Tây
Hồ, Thanh Xuân), 3 chi nhánh ngân hàng khu vực (gồm: Tràng Tiền. Chương
Dương, Tam Trinh) cùng với các phòng giao dịch, quầy tiết kiệm trên toàn thành
phố.
2.3 Tình hình kinh doanh của ngân hàng:
2.3.1 Tình hình vốn và nguồn vốn của ngân hàng
Trong những năm qua , bằng nhiều hình thức phong phú như tiến phong phú, nên
nguồn vốn huy động của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố
HN không ngừng tăng lên khách hàng. Đến nay mạng lưới khách hàng đã được mở
rộng , đến hầu hết các quận trong thành phố .

Đến ngày 31/12/02 tổng nguồn vốn ngân hàng đã huy động được là 2.322.760 triệu
đồng , tăng 24% so với năm 2001
Bảng số 1: Tình hình huy động vốn của ngân hàng qua 2 năm 2001, 2002 như sau:
(Đơn vị :triệu đồng )
Chỉ tiêu 2000 2001 2002
I. Tiền gửi của khách hàng 1.392.564 1.439.512 1.392.443
1. Tiền gửi có kì hạn
2.Tiền gửi không kì hạn
607.539
785.025
861.448
578.072
784.905
607.539
II.Tiền gửi của các TCTD trong nước:1.022.125 1.486.602 1.502.101
III.Kỳ phiếu 930.317 1.142.269 1.100.321
Tổng số 3.345.066 4.068.383 3.994.865
Qua số liệu đã cho ta thấy nguồn vốn của ngân hàng tăng lên với diễn biến tốt. Tuy
ngân hàng có nhiều phương thức huy động vốn khác nhau nhưng chủ yêú vẫn là nhận
tiền gửi của các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và dân cư. Trong tổng nguồn vốn
huy động thì tiền gửi của khách hàng luôn chiếm tỷ lệ cao. Năm 2001 đạt giá trị
1.439.521 triệu đồng chiếm 77% tổng nguồn huy động. Đến năm 2002 là 1.392.443
triệu, chiếm 60% tổng nguồn huy động .
Tuy lượng tiền gửi của khách hàng có giảm đi về tỷ trọng song tiền gửi có kì hạn của
khách hàng lại tăng lên từ 578.072 triệu đồng năm 2001 lên 607.593 triệu đồng năm
2002 nguồn tiền gửi có kỳ hạn này ngân hàng phải trả lãi suất cao hơn tiền gửi không
kì hạn, nhưng lại có thể sử dụng chúng cho vay với tỷ lệ lớn do có thời hạn ít biến
động hơn. Tuy nhiên đây là nguồn vốn đễ bị biến động do ảnh hưởng trực tiếp của các
yếu tố vi mô và vĩ mô như lãI suất, các quy định của chính phủ hay ngân hàng trung
ương ….. Do đó ngân hàng luôn theo dõi tình hình biến động để có thể sử dụng triệt

để nguồn vốn này, đồng thời phả luôn có khoản tiền dự trữ để đề phòng rủi ro xảy ra
khi khách hàng rút tiền.
Bên cạnh đó nguồn tiền gửi không kì hạn cũng chiếm một vị trí đáng kể trong tổng
nguồn vố huy động được nhưng đang giảm xuống từ 861.488 triệu đồng, chiếm 46%
tổng nguồn vốn huy động năm 2001 xuống còn 784.037 triệu đồng , chiếm 33% tổng
nguồn vốn huy động. Nguồn tiền gửi không kỳ hạn ngân hàng trả lãi suất rất thấp ,
nhưng nó có đặc đIểm là không ổn định , khách hàng có thể đến rút ra bất cứ lúc nào ,
do đó ngân hàng luôn phải dự trữ với một tỷ lệ lớn đề phòng khách hàng rút tiền bất
ngờ
Ngoài ra ngân hàng có nguồn vốn huy động từ phát hành các loại kì phiếu phục vụ
thanh toán trong nền kinh tế , cũng góp phần không nhỏ vào nguồn vốn huy động và
tỷ trọng đang tăng lên từ 424.665 tiệu đồng năm 2001 lên 930.317 triệu đồng năm
2002
Có thể thấy rằng , nguồn vốn huy động được của NHNo&PTNT thành phố HN hiện
nay chủ yếu là khai thác trong dân cư . Tuy đã đạt được mục tiêu huy động nhuồn tiền
nhàn rỗi vào sản xất lưu thông song thực sự vẫn còn một nguồn tiền rất lớn trong đân
cư .
2.3.2. Tài chính của ngân hàng
Song song với việc huy động vốn , việc đầu tư tín dụng cũng là một trong những mục
tiêu mũi nhọn của chi nhánh NHNo&PTNTHN. Nhờ thực hiện hiện chính sách sử
dụng vốn,chính sách khách hàng nên tổng dư nợ cho vay của ngân hàng đã có mức
tăng tưởng khá . Đến 31/12/02 dư nợ là 1.522.206 triệu đồng
Bảng số 2: Tình hình sử dụng vốn của ngân hàng
(Đơn vị : Triệu VNĐ)
Chỉ tiêu 2001 2002
I. Dư nợ 939.070 1.522.206
1.Kinh tế ngoài quốc doanh 33.256 74.660
2.Kinh tế quốc doanh 817.069 1.112.154
3. Hộ sản xuất 17.153 21.142
4.Cho vay khác 71.592 314.250

II. Quá hạn 45.915 23.380
1. Kinh tế ngoài quốc doanh 18.558 106
2.Kinh tế quốc doanh 15.636 21.239
3. Hộ sản xuất 8.305 1.068
4.Cho vay khác 3.416 967
Tổng dư nợ 984.985 1.545.586
II.Tình hình nợ quá hạn tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
thành phố Hà Nội:
1.Hoạt động tín dụng và nợ quá hạn:

×