Tải bản đầy đủ (.docx) (23 trang)

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY NGẮN HẠN TẠI CHI NHÁNH NHNoPTNT HUYỆN CHỢ LÁCH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (249.48 KB, 23 trang )

Phân tích hoạt động tín dụng ngắn hạn tại CN NHNo&PTNT huyện Chợ Lách
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY NGẮN HẠN TẠI CHI
NHÁNH NHNoPTNT HUYỆN CHỢ LÁCH
I. TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA CHI NHÁNH NHNo&PTNT CHỢ
LÁCH:
1.Tình hình nguồn vốn của Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Chợ Lách qua 3
năm (2003-2005):
Để đảm bảo đủ vốn cho việc thực hiện cho vay hay kinh doanh trong lĩnh vực tiền
tệ, mấy năm gần đây Chi nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông
Thôn huyện Chợ Lách đã không ngừng mở rộng và nâng cao các biện pháp công
cụ huy động vốn trên địa bàn huyện Chợ Lách.
1
GVHD: Phạm Xuân Minh 1 SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
Phân tích tình hình cho vay ngắn hạn tại CN NHNo&PTNT huyện Chợ Lách
Bảng 2- Tình hình huy động vốn nhận vốn điều hòa của Chi nhánh NHNo&PTNT Chợ Lách qua 3 năm(2003-2005):
Đơn vị tính: triệu đồng
Chỉ tiêu 2003 2004 2005
2004/2003 2005/2004
Số tiền % Số tiền %
I.Vốn huy động
1. TG không kỳ hạn
2.TGcó kỳ hạn dưới12 tháng
3.TG có kỳ hạn trên 12 tháng
II. Vốn điều hòa
Tổng nguồn vốn
57.200
32.700
7.700
16.800
107.533
164.733


83.800
52.500
11.300
20.000
104.055
187.855
109.828
64.725
12.407
32.696
106.912
216.740
26.600
19.800
3.600
3.200
-3.478
23.122
46,5
60,5
46,7
19,1
-3,2
14,04
26.028
12.225
1.107
12.692
2.857
28.885

31,1
23,2
9,78
63,4
2,7
15,4
(Nguồn: Phòng nghiệp vụ kinh doanh)
GVHD: Phạm Xuân Minh 2 SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
Phân tích hoạt động tín dụng ngắn hạn tại CN NHNo&PTNT huyện Chợ Lách
Biểu đồ 2:Tình hình huy động vốn, nhận vốn điều hòa qua 3 năm (2003-
2005)
1.1.Vốn huy động:
Năm 2003, nguồn vốn huy động chiếm 34,72% tổng nguồn vốn, năm 2004, vốn huy động
chiếm 44,61% tổng nguồn vốn tăng 46,5% tương ứng tăng 26.600 triệu đồng so với năm
2003. Đến năm 2005, vốn huy động chiếm 50,67% tổng nguồn vốn tăng 31,1% tương ứng
tăng 26.028 triệu đồng với 2004. Ta thấy nguồn vốn huy động tăng dần qua các năm, vốn
huy động tăng lên qua các năm là do Ngân hàng đã có nhiều chính sách tăng cường hoạt
động huy động vốn. Mấy năm các chương trình tiền gửi có rút thăm may mắn, chương
trình 3 chữ A… Khuyến khích khách hàng gửi tiền, mỗi năm Ngân hàng điều có kế hoạch
điều chỉnh khung lãi suất tiền gửi hợp lý trong công tác huy động vốn. Các chương trình
huy động vốn được quảng bá rộng rãi trên các đường phố, thị trấn thu hút nhiều sự chú ý
của khách hàng, thay vì khách hàng có tiền nhàn rỗi họ tham gia các hoạt trả góp, chơi
hụi… mang tính rủi ro cao, họ có thể gửi tiền vào Ngân hàng vừa hạn chế rủi ro, vừa có
lãi.
1.2.Vốn điều chuyển:
Hầu hết các ngân hàng quốc doanh không riêng gì NHNo&PTNT Chợ Lách nếu chỉ sử
dụng vốn huy động để cho vay thì sẽ không thể đáp ứng hết được nhu cầu về vốn của
3
GVHD: Phạm Xuân Minh 3 SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
Phân tích hoạt động tín dụng ngắn hạn tại CN NHNo&PTNT huyện Chợ Lách

khách hàng. Vì vậy, ngoài nguồn vốn huy động tại chỗ thì ngân hàng còn phải phụ thuộc
vào nguồn vốn điều hòa. Nguồn vốn này có lãi suất cao hơn so với lãi suất huy động vốn
làm tăng chi phí hoạt động của ngân hàng, gây ảnh hưởng đến lợi nhuận. Do đó các ngân
hàng đều có xu hướng giảm bớt nguồn vốn này. Cụ thể năm 2003 vốn điều hòa chiếm
65,28% tổng nguồn vốn, năm 2004 chiếm 55,39% tổng nguồn vốn, giảm 3,2% tương ứng
giảm 3.478 triệu đồng so với 2003, vốn điều hòa giảm làm giảm bớt một phần chi phí hoạt
động của ngân hàng, nhưng đến năm 2005 vốn điều hòa tăng 2,7% tương ứng tăng 2.857
triệu đồng so với năm 2004. Tuy năm 2005 mức vốn điều hòa có tăng lên nhưng không cao
lắm cũng không ảnh hưởng mấy đến chi phí, do năm 2005 mức doanh số cho vay tăng lên
dẫn đến nhu cầu về vốn tăng lên, mức huy động tuy cao nhưng vẫn không đủ đáp ứng nhu
cầu vay nên vốn điều hòa cũng tăng lên.
2. Đánh giá tình hình huy động vốn của Chi nhánh NHNo&PTNT Chợ Lách qua 3
năm (2003-2005)
Mấy năm qua hoạt động huy động vốn của Chi nhánh NHNo&PTNT Chợ Lách đã tăng
dần qua các năm, trong đó:
2.1.Tiền gửi không kỳ hạn:
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi vào và có thể rút ra bất cứ lúc nào cần. Qua bảng kết
quả huy động vốn ta thấy tỷ trọng của loại tiền gửi không kỳ hạn luôn chiếm tỷ trọng cao
trong nguồn vốn huy động tại chỗ, năm 2003 là 32.700 triệu đồng chiếm 19,85% trong
57.200 triệu đồng hay chiếm 34,72%. Năm 2004 là 52.500 triệu đồng trong 83.800 triệu
đồng tăng 60,5% tương ứng tăng 19.800 triệu đồng so với năm 2003. Năm 2005 tăng
23,2% tương ứng tăng 12.225 triệu đồng so với năm 2004. Tiền gửi không kỳ hạn tăng dần
qua các năm do loại tiền gởi này thuận lợi cho khách hàng gửi ở chỗ có thể rút ra bất kỳ lúc
nào cần đến mà không phải thông báo trước cho ngân hàng, với tâm lý ngân hàng là nơi
giữ tiền an toàn, lại có lãi, khi nào cần bao nhiêu là có thể lấy ra.
2.2.Tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng:
Qua bảng kết quả huy động ta thấy tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng chiếm tỷ trọng thấp so
với tổng nguồn vốn huy động tại chỗ. Cụ thể năm 2003 chiếm 7.700 triệu đồng trong
57.220 triệu đồng vốn huy động hay chiếm 4,67% trong 34,72%. Năm 2004 chiếm 11.300
4

GVHD: Phạm Xuân Minh 4 SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
Phân tích hoạt động tín dụng ngắn hạn tại CN NHNo&PTNT huyện Chợ Lách
triệu đồng trong 83.800 triệu đồng hay chiếm 6,01% trong 44,61% tăng lên 46,7% tương
ứng tăng 3.600 triệu đồng so với năm 2003. Năm 2005, chiếm 12.407 triệu đồng trong
109.828 triệu đồng hay 5,73% trong 50,67% tăng 9,79% tương ứng tăng 1.107 triệu đồng
so với năm 2004. Mặc dù, chiếm tỷ trọng ít so với tổng nguồn vốn huy động tại chỗ nhưng
tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng đều tăng dần qua các năm. Với mức lãi suất tương ứng
với thời gian gửi tiền, nên lãi suất loại tiền gửi này không cao lắm.
2.3. Tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng:
Với mức lãi suất thời gian càng dài thì lãi suất càng cao, mức lãi suất được điều chỉnh thay
đổi hợp lý theo các năm nên luôn thu hút khách hàng gửi loại tiền gửi này.
Năm 2003 tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng chiếm 16.800 triệu đồng trong 57.200 triệu
đồng, năm 2004 chiếm 20.000 triệu đồng tăng 19,04% tương ứng tăng 3.200 triệu đồng so
với năm 2003. Năm 2005 tăng 63,46% tương ứng tăng 12.692 triệu đồng so với 2004.
Tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng là loại tiền gửi mang tính ổn định, là hình thức huy động
truyền thống của ngân hàng, nhiều áp phích treo ở khắp đường phố, thị trấn để quảng bá
các chương trình khuyến mãi khi gửi tiền, có mức lãi suất hấp
Tóm lại, nhờ có các chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, cuộc sống của
người dân vùng nông thôn được cải thiện hơn trước, người dân huyện Chợ Lách ngày càng
tiếp cận các kiến thức mới, người dân ý thức được gửi tiền vào Ngân hàng nhiều hơn, một
phần tạo ra thêm thu nhập cho bản thân, một phần nhờ thông qua ngân hàng, qua hoạt động
tín dụng giúp những người không có vốn, họ có vốn để sản xuất góp phần cho việc phát
triển kinh tế huyện nhà. Nhờ đó nguồn vốn huy động tăng lên qua các năm.
II. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY VỐN NGẮN HẠN TẠI CHI NHÁNH
NHNo&PTNT HUYỆN CHỢ LÁCH:
1.Tình hình cho vay ngắn hạn tại Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Chợ Lách:
Hiện nay không chỉ có NHNo&PTNT Chợ Lách mà kể cả những Ngân hàng khác
việc huy động vốn là một điều khó nhưng việc sử dụng vốn sao cho đạt hệu quả là điều
khó hơn. Một trong những vấn đề mà cán bộ tín dụng quan tâm là làm sao sử dụng vốn đạt
hiệu quả cao, hạ thấp tỷ lệ rủi ro, đó là cả một nghệ thuật trong kinh doanh. Hiệu quả sử

dụng vốn của ngân hàng thể hiện khả năng quản lý của cán bộ tín dụng, đồng thời nó quyết
5
GVHD: Phạm Xuân Minh 5 SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
Phân tích hoạt động tín dụng ngắn hạn tại CN NHNo&PTNT huyện Chợ Lách
định sự tồn tại phát triển hay tiêu vong của ngân hàng. Tín dụng ngắn hạn một mặt giúp
cho hoạt động của ngân hàng đi lên, thu lại được nhiều lợi nhuận do vòng vay vốn tín dụng
ngắn, mặt khác nếu ngân hàng không thu hồi được các khoản nợ và dẫn đến các khoản nợ
này chuyển sang nợ quá hạn , nợ khó đòi thì đến một lúc nào đó ngân hàng sẽ không còn
khả năng thanh toán cho người gửi tiền và cũng không thực hiện được việc cho vay nữa,
lúc này ngân hàng sẽ bị phá sản.
Bảng 3- Tình hình cho vay ngắn hạn qua 3 năm (2003-2005)
Đơn vị tính: triệu đồng
Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2004/2003 2005/2004
ST % ST %
1.DS cho vay
2.DS thu nợ
3.Dư nợ cuối năm
4.Dưnợ bình quân
5.Nợ quá hạn
81.890
91.067
93.895
98.484
759
113.222
110.883
96.284
95.090
744
124.072

120.771
99.585
97.935
792
31.332
19.766
2.389
-2.394
-15
38.3
21.7
2.54
-2.43
1.98
10.850
9.938
3.301
2.845
48
9.58
88.96
3.4
2.99
6.45

( Nguồn: Phòng tín dụng)
Với diện tích cả huyện là 18.288km2, trong đó đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao, số dân
khoảng 130.820 người, trong đó khoảng hơn 80% sống bằng nghề nông, nên hoạt động tín
dụng của NHNo&PTNT Chợ Lách luôn nhắm vào thành phần này để phát triển hoạt động
tín dụng của mình.

1.1. Doanh số cho vay ngắn hạn:
Doanh số cho vay thể hiện khả năng hoạt động của ngân hàng, ta thấy qua bảng kết
quả hoạt động cho vay ngắn hạn doanh số cho vay tăng dần qua các năm. Năm 2003,
doanh số cho vay ngắn hạn là 81.890 triệu đồng, năm 2004 doanh số cho vay ngắn hạn là
113.222 triệu đồng tăng 38,26% tương ứng tăng 31.332 triệu đồng so với năm 2003. Năm
2005 doanh số cho vay là 124.072 triệu đồng tăng 9,58% tương ứng tăng 10.850 triệu đồng
6
GVHD: Phạm Xuân Minh 6 SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
Phân tích hoạt động tín dụng ngắn hạn tại CN NHNo&PTNT huyện Chợ Lách
so với năm 2004. Qua kết quả trên, cho thấy NHNo&PTNT Chợ Lách có bước chuyển
biến trong việc sử dụng vốn. Ngày càng ngày người dân cần vốn để phục vụ cho việc sản
xuất của mình càng nhiều, hiện Chợ Lách có 3 hợp tác xã, các vùng lúa chuyên canh…rất
cần vốn để đầu tư. Tuy nhiên, mức cho vay càng cao thì rủi ro càng lớn đặt cho ngân hàng
một thử thách, trình độ quản lý điều hành, trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng cần
phải nâng lên.
1.2. Doanh số thu nợ ngắn hạn:
Mấy năm qua công tác thu nợ của NHNo&PTNT Chợ Lách đạt nhiều kết quả cao.
Cụ thể năm 2003 doanh số thu nợ ngắn hạn là 91.067 triệu đồng, năm 2004 doanh số thu
nợ là 110.833 triệu đồng tăng 21,7% tương ứng tăng 19.766 triệu đồng với năm 2003. Năm
2005 doanh số thu nợ là 120.771 triệu đồng tăng 8,96% tương ứng tăng 9.938 triệu đồng so
với năm 2004. Doanh số cho vay tăng qua các năm nên doanh số thu nợ cũng tăng qua các
năm, ngày càng cuộc sống của người dân huyện được thoải mái hơn nên việc thanh toán nợ
cho ngân hàng khi đến hạn không còn chậm trễ, một phần cũng do sự tích cực của cán bộ
tín dụng, sự uy tín của khách hàng nên công tác thu nợ cũng gặp được nhiều thuận lợi.
1.3. Dư nợ ngắn hạn:
Dư nợ phản ánh khả năng hoạt động của ngân hàng, năm 2003 dư nợ ngắn hạn là
93.895 triệu đồng. Năm 2004 dư nợ ngắn hạn là 96.284 triệu đồng tăng 2,54% tương ứng
tăng 2.389 triệu đồng so với năm 2003. Đến năm 2005 dư nợ ngắn hạn là 99.585 triệu
đồng tăng 3,4% tương tăng 3.301 triệu đốngo với năm 2004. Tỷ lệ dư nợ càng cao chứng
tỏ hoạt động của ngân hàng có hiệu quả, từng bước khẳng định được mình. Đạt được kết

quả như vậy là do Chi nhánh NHNo&PTNT Chợ Lách có đội ngũ cán bộ có quyết tâm rất
cao tận tình và chu đáo trong công việc. Trước khi cho vay, Chi nhánh thông qua chính
quyền địa phương, xã, ấp, các tổ chức giúp đỡ trong việc thẩm định, do đó hạn chế việc
cho vay sai đối tượng, kiểm tra sử dụng vốn kịp thời. Trong thành công không thể không
có rủi ro, dù đã cố gắngnhưng chi nhánh NHNo&PTNT chợ lách cũng không tránh khỏi rủi
ro, tuy nhiên những rỉu ro đó không làm ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.
1.4. Nợ quá hạn ngắn hạn:
7
GVHD: Phạm Xuân Minh 7 SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
Phân tích hoạt động tín dụng ngắn hạn tại CN NHNo&PTNT huyện Chợ Lách
Kinh doanh của ngân hàng là một trong những hoạt động kinh doanh rủi ro nhất, dù
đã có nhiều biện pháp nhằm hạn chế thấp nhất mức rủi ro xảy ra, tuy vậy vẫn không thể
tránh khỏi rủi ro. Cụ thể năm 2003, nợ quá hạn là 759 triệu đồng, năm 2004 là 744 triệu
đồng giảm 1,98% tương ứng giảm 15 triệu đồng so với 2003. Tuy có giảm nhưng không
nhiều lắm, năm 2005 nợ quá hạn là 792 triệu đồng tăng 6.45% tương ứng tăng 48 triệu
đồng so với 2004. Chỉ giảm được năm 2004, nhưng đến 2005 lại tăng lên, mặc dù nợ quá
hạn tăng nhưng doanh số cho vay vẫn không ảnh hưởng.
Tóm lại, ba năm qua việc sử dụng vốn của ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Chợ Lách ngày càng khả thi hơn .
2.Phân tích tình hình doanh số cho vay ngắn hạn tại CN NHNo&PTNT Chợ Lách:
2.1. Doanh số cho vay ngắn hạn theo ngành qua 3 năm(2003-2005):
Mấy năm qua nền kinh tế Chợ Lách đã có nhiều chuyển biến, nhân dân huyện Chợ Lách đã
thực hiện tốt các chỉ thị của Nhà nước về phát triển kinh tế nông thôn, là huyện xưa nay
với truyền thống sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, bên cạnh đó, trong mấy năm gần đây thì
phong trào trồng bưởi da xanh, bòn bon thái…, chăn nuôi như heo, bò, dê…, cũng đang rất
phát triển, nhiều cơ sở sản xuất như các lò sấy nhãn, đóng rỗ trái cây…, lần lượt ra đời.
Muốn đầu tư họ cần phải có vốn đầu tư, NHNo&PTNT Chợ Lách luôn sát cánh giúp đỡ họ
có vốn đầu tư vào việc sản xuất của mình.
Bảng 4- Doanh số cho vay theo ngành qua 3 năm (2003-2005)
Đơn vị tính: triệu đồng

Chỉ tiêu 2003 2004 2005
2004/2003 2005/2004
Số tiền % Số tiền %
1.Trồng trọt
2.Chăn nuôi
3. SXKD khác
Tổng
68.296
9.171
4.423
81.890
90.125
14.832
8.265
113.222
97.272
16.750
10.050
124.072
21829
5.661
3.842
31.332
31,96
61,70
86,70
38,30
7.147
1.918
1.785

10.850
7,90
12,90
21,50
9,58
(Nguồn: phòng tín dụng)
8
GVHD: Phạm Xuân Minh 8 SVTH: Lê Thị Ngọc Ni
Phân tích hoạt động tín dụng ngắn hạn tại CN NHNo&PTNT huyện Chợ Lách
SXKD:sản xuất kinh doanh
Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà ngân hàng đã phát ra
cho vay trong một khoảng thời gian nào đó không kể món vay đó thu hồi về hay chưa.
NHNo&PTNT Chợ Lách từ khi thành lập đến nay đều gắn bó với hoạt động sản xuất kinh
doanh của người dân huyện Chợ Lách. Trong đó, ngành trồng trọt là ngành có doanh số
cho vay nhiều nhất, với dân số trên 80% sống bằng nghề nông, người dân chủ yếu vay để
phát triển kinh tế vườn của mình, mua thêm con giống phát triển chăn nuôi.
Biểu đồ 4- Doanh số cho vay theo ngành qua 3 năm (2003-2005)
2.1.1.Về trồng trọt:
Trong cơ cấu cho vay ngắn hạn thì doanh số cho vay ngành trồng trọt luôn chiếm tỷ trọng
cao nhất từ 78% trở lên. Năm 2003 ngành trồng trọt có doanh số cho vay là 68.296 triệu
đồng, năm 2004 doanh số cho vay là 90.125 triệu tăng 31,96% tương ứng tăng 21.829 triệu
đồng so với năm 2003. Năm 2005 doanh số cho vay là 97.272 triệu đồng tăng 7,9% tương
ứng tăng 7.147 triệu so với năm 2004.
2.1.2. Về chăn nuôi:
Mấy năm qua, mặc dù tỷ trọng ngành chăn nuôi tương đối thấp nhưng đều tăng qua các
năm, do gần đây phong trào chăn nuôi gia súc như: bò, dê, heo, cá ., đang phát triển mạnh
trong các năm qua. Người dân có thể dùng thời gian thừa để chăn nuôi, có thể tận dụng các
9
GVHD: Phạm Xuân Minh 9 SVTH: Lê Thị Ngọc Ni

×