Tải bản đầy đủ (.docx) (17 trang)

Doanh nghiệp nhỏ và vừa với những khó khăn, thách thức trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (175.2 KB, 17 trang )

Doanh nghiệp nhỏ và vừa với những khó khăn, thách thức trong xu thế
hội nhập toàn cầu hóa hiện nay
I/ Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế Việt Nam & thế giới
1. Khái niệm về doanh nghiệp & doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1. Khái niệm về doanh nghiệp (DN)
Trong nền kinh tế thị trường, bất cứ một nền sản xuất kinh doanh nào tạo ra
sản phẩm hoặc dịch vụ để bán, cung ứng cho khách hàng và thu lợi nhuận, dù hoạt
động đó chỉ là một cá nhân, một hộ gia đình, đều có thể coi là một doanh nghiệp.
Cùng cách hiểu này, Viện Thống kê và viện nghiên cứu kinh tế Pháp định nghĩa DN
là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất ra của cải vật chất và
dịch vụ để bán. Tuy vậy, trong các văn bản pháp quy của nước ta ranh giới thật rõ
ràng “doanh nghiệp” hộ gia đình và doanh nghiệp khác vẫn còn nhiều vấn đề tranh
cải. Luật DN được Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khoá X
thông qua tại kỳ họp thứ 5, ngày 12/6/1999 và có hiệu lực thi hành vào ngày
01/01/2000, Chương I, Điều 3 nêu rõ: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên
riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Tiếp theo
đó, Luật cũng đã định nghĩa kinh doanh như sau: “Kinh doanh là việc thực hiện một,
một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản
phẩm hoạc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. Như vậy chính
trong văn bản Luật cũng đã để một khoảng trống, rằng có hoạt động kinh doanh
nhưng chưa hẳn đã là doanh nghiệp. Bởi vì, muốn trở thành doanh nghiệp thì phải có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định tất yếu phải có đăng ký kinh doanh
theo quy định của pháp luật.
Như vậy, theo quy định của Luật doanh nghiệp, các hộ kinh doanh cá thể nếu
không có đăng ký kinh doanh, không được gọi là doanh nghiệp, cho dù hộ này vẫn thực
hiện các hoạt động kinh doanh hợp pháp.
1.2. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)
Trong một nền kinh tế , có thể tuỳ theo các chỉ tiêu khác nhau mà người ta phân
ra các loại doanh nghiệp khác nhau. Theo ngành kinh tế có thế chia ra DN công nghiệp,
DN nông nghiệp, DN thương mại dịch vụ; Theo tính chất hoạt động thì có DN hoạt


động công ích và DN SX-KD; Theo hình thức sở hữu thì có DNNN, DNDN và DN có
vốn đầu tư nước ngoài; Theo quy mô, mà chủ yếu là quy mô về vốn và lao động thì có
DN lớn, DNNVV là loại hình doanh nghiệp phổ biến ở hầu hết tất cả các nước. Có khá
nhiều cách định nghĩa khác nhau về DNNVV. Các định nghĩa này có những điểm giống
nhau và khác nhau, vì vậy khó mà tìm ra một định nghĩa thống nhất mặc dù ai cũng biết
rằng kinh doanh nhỏ và vừa thì khối lượng công việc ít hơn, đơn giản hơn là ở các DN
lớn.
Hiện nay không có tiêu chuẩn chung cho việc phân định ranh giới quy mô DN ở
các nước. Ở mỗi nước, tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh phát triển kinh tế cụ thể mà có
cách xác định quy mô DN trong từng giai đoạn nhất định.
Bảng 1: Tiêu thức phân loại DNNVV của một số nước
Lĩnh vực Công nghiệp Thương mại-Dịch vụ
Các nước DN vừa DN nhỏ DN vừa DN nhỏ
Mỹ
Dưới 3,5 triệu
USD
Dưới 500 lao
động
Dưới 3,5 triệu
USD
Dưới 500 lao
động
Nhật Bản
Dưới 100 triệu
Yên
Dưới 300 lao
động
Dưới 20 lao động
10 - 30 triệu Yên
Dưới 100 lao

động
Dưới 5 lao động
CHLB Đức
1 đến < 100 triệu
DM
10 < 500 lao
động
Dưới 1 triệu DM
Dưới 9 lao động
1-100 triệu DM
10 < 500 lao
động
Dưới 1 triệu DM
Dưới 9 lao động
Philippin
15 - 60 triệu Peso
Không quy định

< 15 triệu Peso
Không quy định

15 - 60 triệu Peso
Không quy định

< 15 triệu Peso
Không quy định

Đài Loan
1,6 triệu USD
4 -10 lao động

1,6 triệu USD
4 - 10 lao động
(Nguồn: Đỗ Đức Định-Kinh nghiệm và cẩm nang phát triển DNNVV ở một số nước trên thế giới)
Xác định tiêu chí DNNVV ở Việt Nam
Cần thiết phải xác định DNNVV vì những lý do sau:
 Phục vụ cho việc thống kê và phân tích
 Để xây dựng và áp dụng chính sách
 Thiết kế và áp dụng các dịch vụ hỗ trợ phát triển
Từ nhiều năm trước, khi chính phủ chưa ban hành chính thức tiêu chí quy định
DNNVV, một số cơ quan nhà nghiên cứu đã đưa ra các chỉ tiêu và tiêu chuẩn cụ thể
khác nhau để phân loại DNNVV. Có thể kể ra cách cách phân loại tiêu biểu sau:
- Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) căn cứ vào 2 tiêu chí lao
động và vốn của các ngành để phân biệt:
+ Trong ngành công nghiệp: DNNVV là tổ chức kinh tế có số vốn từ 5-10 tỷ
đồng và có số lao động 200-500 người. Trong đó DN nhỏ có số vốn dưới 5 tỷ đồng với
số lao động nhỏ hơn 200 người.
+ Trong ngành Thương mại-Dịch vụ: DNNVV là tổ chức có số vốn từ 5-10 tỷ
đồng và có số vốn lao động từ 50-100 người.
- Ngân hàng Công thương hoạt động cho vay tín dụng đối với các DN quy định
rằng: DN vừa là DN có vốn từ 5-10 tỷ đồng và số lao động từ 500-1000 người, DN nhỏ
là DN có số vốn dưới 5 tỷ đồng và lao động dưới 500 người.
- Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong lĩnh vực sản xuất, xây dựng, DN có vốn
dưới 1 tỷ đồng và dưới 100 lao động được xếp là DN nhỏ, DN có vốn từ 1-10 tỷ đồng
và có từ 100-500 lao động là DN vừa.
Tóm lại, người ta thường dùng 2 tiêu chí vốn và lao động thường xuyên để xác
định DNNVV vì tất cả các DN đều có thể xác định được 2 tiêu thức này. Riêng tiêu
thức doanh thu ít được sử dụng vì đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt
Nam thì tiêu chí này có thể biến động do nhiều yếu tố và khó xác định.
Để thống nhất tiêu chí xác định DNNVV, ngày 20/6/1998, Chính phủ đã ban
hành công văn số 681/CP-KTN quy định tiêu chí tạm thời xác định DNNVV. Theo quy

định này, DNNVV là các DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung
bình hàng năm dưới 200 người. Quy định tạm thời này chỉ tồn tại 3 năm và ngày
23/11/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển
DNNVV, Theo quy định tại Nghị định này, “DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc
lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ
đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình
kinh tế-xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp,
chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả 2 tiêu chí vốn và lao động
hoặc 1 trong 2 tiêu chí trên”. Với tiêu thức phân loại mới này DNNVV ở nước ta chiếm
tỷ trọng trên 90% trong tổng số DN hiện có, trong đó phần lớn là các doanh nghiệp
thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Điều này phù hợp với tinh hình kinh tế của nước ta vốn
là nền kinh tế sản xuất nhỏ và vừa là chủ yếu.
2. Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế Việt Nam & thế giới
Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới; đặc biệt là các nước đang phát triển
nói chung và Việt Nam nói riêng, Các DNNVV chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế,
đóng vai trò hết sức quan trọng. Đối với Việt Nam và cũng như tất cả các nước khác
trên thế giới DNNVV cũng đều đóng một vai trò quan trọng, vậy vai trò các DNNVV
như thế nào, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về vấn đề này.
2.1. DNNVV góp phần quan trọng tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao
động
Đây là một thế mạnh rõ rệt của các DNNVV, và là nguyên nhân chủ yếu khiến
chúng ta phải đặc biệt chú trọng phát triển loại hình doanh nghiệp này. Các DN này có
số lượng lớn, phân bố rộng rãi từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền
ngược, nên mặc dù số lao động làm việc trong một DNNVV không nhiều nhưng theo
quy luật số đông, với số lượng rất lớn DNNVV trong nền kinh tế đã tạo ra phần lớn
việc làm cho xã hội. Mặt khác, các DNNVV loại này mang tính tư hữu cao, dễ dàng đa
dạng hoá sản phẩm, kể cả các mặt hàng mà các DN lớn không sản xuất ra. Sự lớn mạnh
của các DNNVV đã làm tăng thu nhập của công nhân và giảm tỷ lệ thất nghiệp của mỗi
địa phương nói riêng và toàn lãnh thổ nói chung.
Ở các nước có nền kinh tế thị trường, các DNNVV thường tạo ra từ 70-90% việc

làm cho xã hội. Khi nền kinh tế suy thoái, các DN lớn phải cắt giảm lao động để giảm
chi phí đến mức có thể tồn tại được vì cầu của thị trường thấp hơn cung. Nhưng đối với
các DNNVV do đặc tính linh hoạt, dễ thích ứng với thay đổi của thị trường nên vẫn duy
trì hoạt động thậm chí vẫn phát triển. Do đó các DNNVV vẫn có nhu cầu về lao động.
Chính vì vậy, Hội đồng DN thế giới đã cho rằng: DNNVV là liều thuốc cuối cùng chữa
trị bệnh thất nghiệp khi nền kinh tế suy thoái.
Ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp tương đối cao và không ổn định, sức ép
dân số, lao động lên đất đai, việc làm ở nông thôn chính là nguyên nhân của dòng di
dân từ nông thôn ra thành phố, gây ra nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Khu vực DNNVV
thu hút khoảng 26% lực lượng lao động phi nông nghiệp của cả nước, mặt khác, các
DNNVV đang là nơi có nhiều thuận lợi nhất để tiếp nhận số lao động từ các DNNN dôi
ra qua việc cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê, phá sản DN hiện đang được triển
khai.
Do các DNNVV có thể phát triển ở khắp mọi nơi trong nước, nên khoảng cách
giữa nhà sản xuất và thị trường được rút ngắn lại, tạo nên sự phát triển cân bằng giữa
các vùng. Chênh lệch giàu nghèo không đáng kể, mỗi người dân có thể là một ông chủ,
mỗi gia đình có thể là một doanh nghiệp. Thu nhập bình quân đầu người Việt Nam còn
khá thấp do kinh tế chậm phát triển. Phát triển DNNVV ở thành thị và nông thôn là biện
pháp chủ yếu để tăng thu nhập, đa dạng hoá thu nhập của các tầng lớp nhân dân khắp
các cùng trong nước.
2.2. Các DNNVV góp phần quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư trong dân cư và sử
dụng tối ưu các nguồn lực tại địa phương
Với ưu điểm tính chất nhỏ lẻ, dễ phân tán đi sâu vào ngõ ngách và yêu cầu số
vốn ban đầu không nhiều, mặt khác các DNNVV trong quá trình hoạt động, các
DNNVV có thể huy động vốn dựa trên quan hệ họ hàng, bạn bè thân thuộc. Chính vì
vậy, DNNVV được coi là phương tiện có hiệu quả trong việc huy động, sử dụng các
khoản vay tiền nhàn rỗi trong dân cư và biến nó thành các khoản vốn đầu tư. Nguồn
vốn được trích từ trong dân là nguồn vốn rất quan trọng, ở Trung Quốc nguồn ngân
sách quốc dân có tới 75% là vốn từ trong dân, mặt khác nguồn vốn trong dân được sử
dụng tối đa tránh được việc gia tăng mức cung tiền trên thị trương, bình ổn thị trường

tài chính. Những đồng tiền nhàn rỗi từ trong dân được sử dụng để tạo thêm giá trị gia
tăng, đem lại một giá trị to lớn cho nền kinh tế.
Với quy mô vừa và nhỏ, lại được thành lập phân tán ở hầu khắp mọi nơi nên
DNNVV có khả năng tận dụng các tiềm năng về lao động, về nguyên vật liệu với trữ
lượng hạn chế, không đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất lớn, nhưng sản có ở địa
phương, sử dụng sản phẩm phụ hoặc phế liệu, phế phẩm của các DN lớn. Điều này
cũng rất hợp lý đối với nước ta, vốn là một nước có nền kinh tế lạc hậu, trình độ phát
triển chậm, cách kinh doanh nhỏ lẽ là thích hợp nhất đối với đại đa số bộ phận người
dân. Mặt khác hơn 70% lao động tham gia trong lĩnh vực nông nghiệp, đạc điểm của
ngành nông nghiệp là tính thời vụ cho nên có một bộ phận lao động thất nghiệp tạm
thời và lao động nhàn rỗi tự nhiên, khi sử dụng mô thức kinh doanh này chắc chắn sẽ
tận dụng tối đa các lao động nhàn rỗi, mặt khác góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở
khu vực nông thôn
2.3. Các DNNVV chiếm tỷ trọng cao trong tổng số các Cơ sở SX-KD và ngày
càng gia tăng mạnh
Phần lớn các nước trên thế giới, số lượng các DNNVV chiếm khoảng 90% tổng
số doanh nghiệp. Tốc độ tăng số lượng các DNNVV nhanh hơn số lượng các DN lớn.
Các DNNVV hoạt động phổ biến trong tất cả các ngành công nghiệp, dịch vụ, từ công
nghiệp thủ công truyền thống đến các ngành công nghiệp kỹ thuật cao. Do đặc tính của
mình mà các DN này rất dẽ dàng thích nghi với điều kiện kinh doanh, vốn không lơn,
mô thức kinh doanh và quản lý gọn nhẹ và đơn giản, đây là một thế mạnh mà chúng ta
không thể nào phủ nhận được. Một quy luật tất yếu của nền kinh tế cũng như cho toàn
XH đó là sự tồn tại song song và hổ trợ lẫn nhau của các bộ phận cấu thành nên xã hội.
2.4. Các DNNVV có vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của nền kinh tế
Chúng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân của các nước trên
thế giới, bình quân chiếm khoảng 50%GDP ở mỗi nước. Riêng ở Việt Nam, mỗi năm
các DNNVV đóng góp khoảng 25% GDP của cả nước. Các DN này có nhiều thuận lợi
trong việc khai thác những tiềm năng phong phú trong nhân dân, từ trí tuệ, tay nghề tinh
xảo, vốn liếng, ngành ngề truyền thống…Chỉ cần dùng một phép tính rất đơn giản ta có
thể nhận thấy rằng sự đóng góp của các DNNVV đối với không chỉ nước ta mà cả với

các nước khác là không hề nhỏ, tuy nó nhỏ nhưng số lượng rất đông đảo, lại rất đa dạng
về lĩnh vực ngành nghề.
2.5. Các DNNVV là nhân tố quan trọng tạo sự năng động nề kinh tế trong cơ chế thị
trường, đóng góp trong việc lưu thông và xuất khẩu hàng hoá
Với quy mô nhỏ lại năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh cùng với
hình thức tổ chức kinh doanh sự kết hợp chuyên môn hoá và đa dạng hóa mềm dẻo, hoà
nhịp cùng với những đòi hỏi từ nền kinh tế thị trường nên các DNNVV có vai trò to lớn
góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường. DNNVV có nhiều cơ hội
đễ thay đổi mặt hàng, chuyển hướng sản xuất, đổi mới công nghệ.
Khi nền kinh tế phát triển, tạo nhiều cơ hội kinh doanh mới, sức mua tăng lên
nhu cầu lớn hơn, các DNNVV rất nhạy bén trong việc điều chỉnh cơ cấu, tăng doanh
thu. Diều này rất khó thực hiện ở các DN lớn khi muốn đa dạng hoá mặt hàng sản xuất.
Đối với các DN lớn, DNNVV cũng có thể làm đại lý, vệ tinh tiêu thụ hàng hoá hoặc
cung cấp các vật tư đầu vào với giá rẻ hơn, do đó góp phần hạ giá thành, nâng cao hiệu
sản xuất cho DN lớn.
Đây là thế mạnh rất riêng của các DN này cho nên số lượng của các
DNNVVngày càng đông về số lượng và đa dạng về chủng loại, những DN này góp
phần đáp ứng cho bộ phận thị trường người tiêu dùng và là nguyên liệu đầu vào cho các
DN lớn.
2.6. Các DNNVV có vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự phát triển của các DNNVV sẽ thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, lam cho công nghiệp phát triển, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại dịch
vụ, làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông thôn trong cơ cấu kinh tế quốc dân, đặc biệt
là ở nông thôn.
Với tính chất nhanh nhạy và dễ dàng bắt kịp với những thay đổi hay biến động
của thị trường, các DNNVV luôn đóng vai trò đi dầu trong mọi biến động trên cả hai
phương diện, thứ nhất các DNNVV sẽ là bước thử nghiệm sự thay đổi, thứ hai nó sẽ
đóng vai trò là những bản thảo, tích lũy được các kinh nghiệm đương đầu với sự thay
đổi cho các doanh nghiệp lớn. Sau khi có bước thay đỏi thành công nó sẽ là mô hình
hoàn hảo nhất cho sự thay đổi của các DN lớn, từ đó làm bước đệm thay đổi và chuyển

dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi để phù hợp với tình hình mới và quy luật kinh tế mới.
2.7. Các DNNVV góp phần dân chủ hoá nền kinh tế, duy trì sự tự do cạnh tranh và có
khả năng ứng biến nhanh nhạy
DNNVV chiếm một tỷ trọng lớn và đóng vài trò quan trọng trong việc tập trung
lực lượng kinh tế, lực lượng lao động. Sự phát triển không ngừng của các DNNVV góp
phần phân phối theo chiều hướng tương đối công bằng, mặt khác huy động nguồn sức
lao động lớn trong xã hội vào hoạt động sản xuất theo quy trình phân công LĐXH.
Tự do kinh doanh là con đường tốt nhất phát huy tiềm lực. Ở các DNNVV, tình
trạng độc quyền không xảy ra, họ sẵn sàng chấp nhận tự do kinh doanh. So với các xí
nghiệp lớn, các DNNVV có tính tự chủ cao, không ỷ lại sự giúp đỡ của nhà nước, sẵn
sàng khai thác các cơ hội để phát triển mà không ngại rủi ro.

×