Tải bản đầy đủ (.docx) (26 trang)

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU TẬP TRUNG NSNN Ở KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN PHONG THỔ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (410.86 KB, 26 trang )

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU TẬP TRUNG NSNN Ở KHO BẠC NHÀ
NƯỚC HUYỆN PHONG THỔ
2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Phong thổ và các nhân tố
khách quan ảnh hưởng tới thu NSNN qua KBNN huyện Phong thổ:
2.1.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Phong thổ:
Huyện Phong thổ nằm ở phía tây bắc Lai Châu, cách tỉnh lỵ 29 km, phía
Bắc giáp với tỉnh Vân Nam trung quốc phía đông nam giáp với thị xã Lai châu
và huyện Sìn hồ; phía tây giáp huyện Mường Tè. Phong thổ mang nét đặc thù
của huyện miền núi, có địa hình phức tạp, đồi núi cắt dọc từ bắc xuống nam, từ
đông sang tây có đường biên giáp với phía bạn Trung quốc. Độ cao trung bình
so với mặt nước biển là 400 m, tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 82.229,67
ha, dân số 55.779 người (số liệu điều tra 01/01/2006) huyện có 16 xã, 01 thị
trấn, trên địa bàn có 10 dân tộc sinh sống , trong đó dân tộc Dao chiếm đa số là
37,59%, dân tộc Kinh 3,75%, dân tộc H’Mông 25,23%, dân tộc Nô nô 3,72%,
dân tộc Hà nhì 11% còn lại là các dân tộc khác như Lào, Dáy, Tầy, Cao Lan,
hoa. Dân cư phân bố không đều ở tập trung dọc hai tuyến quốc lộ 4D chạy dài
67 Km, quốc lộ 100 dài 46 Km.
Mặc dù Huyện Phong thổ có rất nhiều tiềm năng về, nông, lâm nghiệp,
dịch vụ thương mại, song kinh tế - xã hội huyện hiện đang ở mức xuất phát rất
thấp, kinh tế hộ gia đình thuần nông, đời sống nhân dân khó khăn, trình độ dân
trí còn hạn chế... Thu ngân sách huyện trong 3 năm tính gần đây đạt bình quân 7
tỷ đồng/ 1 năm, thu ngân sách chủ yếu trông chờ vào nguồn kinh phí phân bổ từ
ngân sách cấp trên. Trong thời gian tới huyện Phong thổ tranh thủ những ảnh
hưởng, lợi ích từ việc xây dựng và phát triển khu kinh tế cửa khẩu Ma Lù Thàng
làm ăn buôn bán với phía bạn với mục đích tôn trọng chủ quyền đôi bên cùng có
lợi, bên cạnh đó với chủ trương của Đảng và nhà nước phủ xanh đất chống đồi
núi trọc đến nay Phong thổ đang có 320 ha rừng cây cao su hứa hẹn trở thành địa
bàn phát triển nông - lâm nghiệp, công nghiệp chế biến, công nghiệp khai khoáng
và phát triển dịch vụ. Để Phong thổ thực sự là huyện phát triển kinh tế mũi nhọn
của tỉnh Lai Châu và rút ngắn trình độ phát triển chung của khu vực về các mặt
kinh tế, thu nhập đời sống vật chất và tinh thần trong nhân dân, từ đó tăng nhanh


nguồn thu ngân sách cho địa phương.
2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới thu NSNN ở huyện Phong thổ:
Phong thổ là một tỉnh miền núi nghèo số thu NSNN, hàng năm chỉ đạt 7
tỷ đồng /năm. Thu NSNN trên địa bàn huyện không đủ trang trải cho các nhu
cầu chi thường xuyên và chi xây dựng cơ bản. Cho nên luôn phải chờ vào
nguồn trợ cấp cân đối của ngân sách cấp tỉnh tới 89%. Mặt khác trong cơ chế thị
trường sản xuất nông, lâm nghiệp tuy đã có những bước phát triển nhưng vẫn
còn ở dạng nhỏ lẻ và còn gặp nhiều khó khăn nhất là vấn đề công nghệ chế biến
và thị trường tiêu thụ. Về quan hệ giao dịch KBNN Phong thổ quan hệ giao dịch
với (Năm 2004 có 56 đơn vị và quản lý 141 tài khoản) (Năm 2005 có 59 đơn vị
và quản lý 160 tài khoản) Nhìn về bảng tổng hợp số liệu sau có thể phần nào
nói lên kết quả thu NSNN của KBNN Phong thổ.
Bảng số 2.1:
SỐ LIỆU THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2004 - 2005
Đơn vị tính : Triệu đồng
TT
Tổng thu NSNN
theo mục lục NS
Mục
TH Năm
2003
TH Năm
2004
KH Năm
2005
TH Năm
2005
Tỷ lệ (%)
2005/2004
1 2 3 4 5 6 7 8

01 Thuế thu nhập DN 002 297 570 612 521 91,4
02 Thuế CQ SD đất 008 26,7 33,1 41 36,4 110
03 Thuế tiền SD đất 009 1.793 2.397 2.500 2.612 109
04 Thuế nhà đất 011 37,1 45,3 70 73 161,1
05 Thuế tài nguyên 012 29,6 51,6 60 61,6 119,3
06 Thuế GTGT 014 870,6 1.345 1.400 1.845,6 137,2
07 Thuế môn bài 016 210,3 226 240 277,5 122,7
08 Thu sự nghiệp 021 512 792 800 816,3 103
09 Thu cho thuê đất 023 126 130 150 162,6 125
10 Thu đất công ích 029 17,3 12,7 20 13,2 104
11 Phí quản lý 450
- Thu lệ phí NLN 033 23,7 30,1 33,6 111,6
- Phí chợ 035 40,5 41,3 46,2 111,8
- Phí an ninh 038 12,3 14 11 78,5
- Học phí 040 230 317 262 82,6
- Phí y tế 041 130,6 184 178 96,7
- Phí môi trường 042 63,4 78,2 90,6 115,8
- Phí tư pháp 044 21,3 63,1 58,7 93,0
- Lệ phí QLNN L/vực # 049 69,1 52,3 43,2 82,6
12 Lệ phí quản lý NN 046 43,2 217 120 198 91,2
13 Thu tiền phạt 051 146,1 130 131 100,7
14 Thu tịch thu 052 7,3 6,1 5,7 93,4
15 Khoản huy động 053 769 937 1.300 1.130 120,5
16 Thu đóng góp 054 27,3 35,7 170 61,4 172
17 Thu BSNS cấp trên 055 48.197,6 52.167 48.610 60.769 116,4
18 Thu kết dư NS 057 31,3 48 39 81,2
19 Thu khác 062 18,7 72 20 51 70,8
20 Thu thanh lý TS 068 4,7 3,1 3,6 116
21 Vay để ĐTPT 086 3.276 4.318 4.360 110
Tổng cộng 57.013,7 64.316,9 56.563

73.891,2
( Nguồn trích số liệu từ báo cáo thu NSNN qua KBNN năm 2004 - 2005 )
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy tổng thu NSNN năm 2005 trên địa bàn
là 73.891,2 triệu đồng tăng so với năm 2004 là 9.574 triệu đồng tương ứng
114,8%.
- Thu ngân sách Trung Ương: 2.317 triệu đồng.
- Thu ngân sách tỉnh: 242,7 triệu đồng.
- Thu ngân sách huyện: 59.912 triệu đồng.
- Thu ngân sách xã: 11.419,5 triệu đồng.
Trong đó: Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên: 60.769 triệu đồng.
Những số liệu trên đây không chỉ phản ánh số thu NSNN ở KBNN Phong
thổ trong từng thời kỳ mà nó chứa đựng và thể hiện những quan hệ về phát triển
kinh tế - xã hội điều đó chứng tỏ cho thấy những bước chuyển biến tích cực.
Doanh thu từ thuế phí và lệ phí, nhìn chung cao nhất là thuế sử dụng đất, thuế
nhà đất, thuế môn bài, các khoản đống góp, thuế GTGT, và một số khoản thu
khác. Mục đích của hoạt động thu ngân sách Nhà nước không chỉ đảm bảo tạo
lập nguồn tài chính, mà nó còn có mục đích quan trọng đó là kích thích sản xuất
phát triển, điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân đảm bảo bình đẳng và công bằng
xã hội.
Do vậy vấn đề đặt ra là phải tìm hiểu những nguyên nhân, động lực nào
thúc đẩy nền kinh tế, từ đó có những biện pháp hữu hiệu nhằm chủ động có kế
hoạch quản lý NSNN đạt được hiệu quả cao hơn, có nhiều nhân tố làm cho
doanh số thu của NSNN trên địa bàn huyện Phong thổ tăng lên, tựu trung lại
bao gồm 2 nhân tố chính đó là những nhân tố mang tính khách quan và những
nhân tố mang tính chủ quan:
+ Nhân tố đầu tiên làm ảnh hưởng đến tổng thể nền kinh tế nói chung và
ảnh hưởng khá sâu sắc đến hoạt động thu NSNN nói riêng là chính sách định
hướng phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước. Sau những năm đổi mới
kinh tế đất nước. Kinh tế nước ta đã có những chuyển biến rất rõ nét trên tất cả
các mặt hoạt động của đời sống kinh tế - kinh tế phát triển sẽ làm tăng thu nhập

quốc dân đó là cơ sở đảm bảo có nguồn thu tăng cho NSNN. Ngoài sự phát triển
của kinh tế còn phải kể đến những chính sách thay đổi của ngành Thuế trong
công tác huy động các nguồn thu, các khoản thu nộp vào NSNN trên hai giác độ
cơ bản đó là hệ thống thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp
với sự thay đổi của nền kinh tế và các biện pháp thu của ngành Thuế trước tình
hình hiện nay.
Thuế là nguồn thu chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn, là nguồn thu chính của
ngân sách quốc gia. Hệ thống thuế được chia làm nhiều sắc thuế như thuế sử
dụng đất, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT, thuế XNK, thuế tài nguyên thuế
môn bài . . .
+ Đối tượng nộp thuế được coi là những cá nhân hoặc các tổ chức kinh
doanh có tư cách pháp nhân, nhất là các hoạt động sản xuất kinh doanh của các
hộ có đăng ký được pháp luật thừa nhận. Xác định đối tượng nộp thuế chính xác
hay không là điều rất cần thiết ảnh hưởng không nhỏ tới thuế nộp vào ngân sách
Nhà nước.
+ Đối tượng tính thuế trong luật thuế được cụ thể và ngày càng rõ ràng
hơn đầy đủ hơn.
Thuế suất có vị trí rất quan trọng đặc biệt thể hiện chủ trương của Nhà
nước chứa đựng nhiều chính sách của Nhà nước, thể hiện khuyến khích hay
hạn chế sản xuất kinh doanh dịch vụ. Vì vậy người ta coi thuế xuất là linh
hồn của sắc thuế. Thông thường để xác định sắc thuế biểu thuế của một đối
tượng tính thuế người ta dựa vào tính chất phạm vi mức độ hình thành đối
tượng nộp thuế.
* Ví dụ: Để xác định thuế suất thu nhập, phải xác định thu nhập từ nguồn
nào, mức độ hình thành thu nhập. So với giá cả hiện nay thì thu nhập đó thể
hiện như thế nào, cao hay thấp. Mức độ hình thành thu nhập có phù hợp hay
không, căn cứ vào mục đích công bằng xã hội Đảng và Nhà nước sử dụng công
cụ thu hay nói cách khác là hệ thống thuế mà công cụ quan trọng là thuế suất
trong các sắc thuế để điều tiết quản lý vĩ mô hướng dẫn nền kinh tế phát triển.
Trong các tổ chức kinh tế, các ngành nghề căn cứ vào bảng kê khai của

từng cơ sở, kết hợp điều tra sơ bộ, để từ đó cân đối điều chỉnh mức thuế cho phù
hợp với thực trạng.
Như vậy: Thông qua sửa đổi bổ sung Luật thuế, các sắc thuế trong hệ
thống thuế ngày càng được hoàn thiện hơn, đầy đủ hơn đa dạng và phù hợp với
nền kinh tế nhiều thành phần góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển tăng nguồn
thu cho NSNN.
2 2.1.3. Trách nhiệm của các cơ quan liên quan.
3 Cơ quan Thu (bao gồm cơ quan Thuế, và các cơ quan khác):
- Kiểm tra xem xét và đề nghị cơ quan Tài Chính ra lệnh thoái thu hoàn
trả đối với các khoản thu sai chế độ hoặc được hoàn trả theo chế độ qui định.
- Kiểm tra và giải quyết các khiếu nại về thu nộp NSNN theo qui định của
pháp luật.
- Cán bộ thu phải tăng cường công tác kiểm tra, xác định chính số thuế
phải nộp, phát hiện các trường hợp vi phạm, gian lận thuế để kịp thời ngăn
chặn, xử lý, nâng cao tính kỷ luật nộp thuế và quản lý thuế.
- Tổ chức kế toán thu NSNN theo chế độ kế toán thống kê do bộ Tài
Chính qui định.
- Tính toán, xác định mức thu và ra thông báo; chị trách nhiệm về tính
chính xác về chương, loại, khoản mục, tiểu mục theo mục lục NSNN đối với
từng khoản thu ghi trong thông báo thu,
- Theo dõi quản lý đôn đốc các đối tượng nộp tiền vào NSNN. Hướng
dẫn việc lập giấy nộp tiền vào NSNN của đối tượng nộp.
- Trực tiếp thu các khoản thu theo nhiệm vụ được giao và nộp vào KBNN
đầy đủ, kịp thời theo qui định.
- Quyết định các trường hợp tạm thu để KBNN làm căn cứ hạch toán kế
toán, quyết định xử lý các khoản tạm thu theo chế độ qui định.
- Kiểm tra, đối chiếu số liệu, lập và gửi báo cáo thu NSNN, báo cáo quyết
toán thu NSNN thuộc phạm vi quản lý theo qui định của bộ Tài Chính.
- Phối hợp với KBNN xác định đối tượng thu trực tiếp qua KBNN và qua
cơ quan thu để tổ chức thu NSNN có hiệu quả.

• Kho bạc Nhà nước:
- Tiếp tục cải tiến, hoàn thiện tủ tục và quy trình thu NSNN qua Kho bạc
Nhà nước.
- Phối hợp kiểm tra đối chiếu số liệu thu NSNN với các cơ quan bảo đảm
chính xác, đầy đủ kịp thời, xác nhận số liệu thu NSNN theo yêu cầu của các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
- Thực hiện hoàn trả các khoản thu NSNN theo lệnh của cơ quan Tài
Chính.
- Tập trung các khoản thu NSNN và chia các khoản thu cho NS các cấp
theo đúng tỷ lệ (%) phân chia được cấp có thẩm quyền quyết định đối với từng
khoản thu.
- Tổng hợp, lập báo cáo thu NSNN gửi cơ quan Tài Chính và các cơ quan
hữu quan theo chế độ qui định.
- Thực hiện hoàn trả các khoản thu NSNN theo lệnh của cơ quan Tài
Chính.
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý
thu NSNN, tiến tới thực hiện việc lập giấy nộp tiền và xử lý chứng từ thu
ngân sách bằng máy tính, đồng thời từng bước nối mạng trong ngành giữa
4 cơ quan (Tài chính, Thuế, hải quan, Kho bạc) từ tỉnh đến huyện, nhằm
tạo điều kiện nhanh, chính xác việc cung cấp số liệu, kiểm tra đối chiếu số
thu nộp ngân sách trên địa bàn.
- KBNN nơi đối tượng nộp mở tài khoản có trách nhiệm trích tài khoản
tiền gửi của đối tượng nộp theo yêu cầu (Bằng văn bản) của cơ quan thu nộp
NSNN theo qui định tại điều 46 Nghị định số 60/2003/NĐ/CP ngày 06/6/2003
của chính phủ.
* Cơ quan Tài Chính.
- Phối hợp với cơ quan thu, KBNN trong việc tập trung các khoản thu
ngân sách nhà nước; đôn đốc các đối tượng thuộc phạm vi quản lý nộp đầy đủ,
kịp thời các khoản thu NSNN vào KBNN.
- Kiểm tra, đối chiếu và ra lệnh hoàn trả hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền

hoàn trả các khoản thu NSNN theo chế độ qui định.
- Phối hợp với KBNN rà soát, đối chiếu các khoản thu ngân sách, đảm
bảo hạch toán đầy đủ, chính xác, đúng mục lục NSNN và tỷ lệ phân chia cho
các cấp ngân sách.
- Thẩm định báo cáo quyết toán thu NSNN của ngân sách cấp dưới; tổng
hợp và lập báo cáo quyết toán thu NSNN thuộc phạm vi quản lý theo chế độ qui
định.
* Tổ chức cá nhân có nghĩa vụ nộp NSNN. Kê khai và nộp đầy đủ các
khoản phải nộp NSNN theo đúng chế độ; chấp hành nghiêm thông báo nhà
nước của cơ quan thu; thực hiện đúng qui trình, thủ tục nộp NSNN.
- Có quyền khiếu nại các vấn đề vi phạm chế độ thu nộp NSNN của các
cơ quan chức năng.
* Ngân Hàng nơi đối tượng nộp mở tài khoản.
- Có trách nhiệm chuyển tiền theo yêu cầu của đối tượng nộp vào KBNN
để nộp KBNN; lập và gửi các chứng từ đầy đủ, kịp thời, đúng biểu mẫu do bộ
Tài Chính qui định để KBNN làm căn cứ hạch toán thu NSNN.
- Thực hiện trích tài khoản tiền gửi cả đối tượng nộp theo yêu cầu (Bằng
văn bản) của cơ quan để thu nộp NSNN theo qui định tại Điều 46 Nghị định số
60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của chính phủ.
2.2. Cơ cấu tổ chức của KBNN Phong thổ và các nhân tố chủ quan ảnh
hưởng trực tiếp đến thu NSNN:
2.2.1. Cơ cấu tổ chức KBNN Phong thổ.
KBNN Phong thổ là một trong 680 KBNN trong cả nước, chịu sự lãnh
đạo trực tiếp của KBNN tỉnh Lai Châu và huyện ủy, HĐND và UBND huyện
Phong thổ với chức năng cơ bản là quản lý quỹ NSNN trên địa bàn, huy động
vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển, cơ cấu tổ chức KBNN Phong thổ theo
mô hình sau:
Sơ đồ 2.1: Tổ chức Kho bạc Nhà nước huyện Phong thổ
KBNN tỉnh
KBNN huyện Phong thổ

Bộ phận
Kho quỹ
Bộ phận
Kế toán
Bộ phận KH
TVĐTĐ
Về tổ chức bộ máy sắp xếp cán bộ KBNN huyện đã bố trí hợp lý đúng
người, đúng việc đáp ứng yêu cầu và sự phát triển của ngành. Kho bạc Nhà
nước huyện đã có sự sắp xếp điều chỉnh cán bộ của đơn vị, từng bộ phận chức
năng theo khả năng và phần hành nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước.
Trong công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ KBNN Phong thổ luôn quan
tâm tăng cường bố trí sắp xếp cho cán bộ theo học các lớp đào tạo của KBNN
Trung ương và địa phương mở tham gia các lớp đào tạo, tập huấn nghiệp vụ do
Kho bạc Nhà nước và bộ tài chính tổ chức, chú trọng đào tạo toàn diện cán bộ
về các mặt chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, tin học... Để nâng cao năng lực
quản lý điều hành, thực hiện tốt nhiệm vụ thu NSNN trên địa bàn. Cán bộ lãnh
đạo KBNN Phong thổ rất quan tâm công tác này, nhiệm vụ nào cũng đạt hiệu
quả cao, cần tổ chức khoa học linh hoạt và sắp xếp bố trí cán bộ, công việc để
không ngừng nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu NSNN trên địa bàn.
2.2.2. Nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới công tác thu NSNN ở KBNN
huyện Phong thổ
KBNN Phong thổ là cơ quan tổ chức quản lý thu NSNN trên địa bàn
huyện. Qua kết quả thu NSNN ở các năm đã đánh giá cao khả năng lãnh đạo,
sự cố gắng nỗ lực của ban lãnh đạo KBNN huyện cùng toàn thể cán bộ công
nhân viên trong KBNN Phong thổ trong nhiệm vụ thu NSNN. Thông qua việc
tổ chức tuyên truyền, đôn đốc thu nộp bằng tiền mặt, chuyển khoản, KBNN
quản lý các nguồn thu, điều tiết cho NSNN các cấp không để hiện tượng để lại
số thu, chậm nộp, dây dưa tiền thuế, tình trạng NSNN cấp dưới chiếm dụng vốn
của NSNN cấp trên... Là một huyện tuy còn gặp nhiều khó khăn song KBNN
Phong thổ vẫn cố gắng khắc phục vươn lên để hoàn thành tốt nhiệm vụ được

giao.

Bảng số 2.2
BÁO CÁO THU NSNN NĂM 2004 - 2005
Đơn vị tính: Triệu đồng
Diễn giải
Kế
hoạch
năm
2005
Thực hiện năm
2005
Thực hiện năm
2004
So sánh 05/04
Số tuyệt
đối
Số
tương
đối
Số tuyệt
đối
Số
tương
đối
Số tuyệt
đối
Số tương
đối
Tổng thu NSNN 56.563 73.891,2 100 64.316,9 100 9.574,3 114,9

1- Thu tại ĐP 7.953 13.122,2 14 12.149,9 15 972,3 115,7
+ Thu NSNN=TM 12.186,2 11.337,9 848,3 107,4
+ Thu NSNN=CK 936 812 124 115,2
2- Thu bổ sung 48.610 60.769 86 52.167 85 8.602 116,4
(Trích số liệu từ báo cáo thu NSNN năm 2004 - 2005 )
Qua bảng báo cáo thu NSNN trên ta thấy tổng thu NSNN năm 2005 tăng
114,9% so với năm 2004. Thu NSNN bằng tiền mặt năm 2005 so với năm 2004
tăng 107,4%. Tổng thu NSNN trên địa bàn huyện Phong thổ năm 2005 (trừ thu
bổ sung của ngân sách cấp trên) 13.122,2. triệu đồng. Trong đó thu NSNN bằng
tiền mặt là 12.186,2 triệu đồng chiếm 92,8% trong tổng số thu tại địa phương.
Số tiền mặt thu được mới chỉ đảm bảo đến 16,4% cho nhu cầu chi trên địa bàn
(vì nhu cầu chi phải trông chờ vào trợ cấp của NS cấp trên) để có đủ tiền mặt
chi trên địa bàn phải có biện pháp khơi tăng nguồn thu, KBNN Phong thổ đã
phối hợp với ngành Thuế bố trí các điểm thu lưu động và cố định để tập trung
nhanh các nguồn thu đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu trên địa bàn huyện. Tổng thu
NSNN bằng chuyển khoản năm 2005 tăng 115,2 % so với năm 2004. Tuy tỷ lệ
tăng năm 2005 so với năm 2004 vẫn còn thấp trong tình trạng nền kinh tế của
huyện còn gặp nhiều khó khăn thì con số tăng đó cũng là một sự cố gắng lớn -
cơ quan KBNN trực tiếp tiếp nhận các khoản thu nộp NSNN, thực hiện hạch
toán thu và phân định số thu cho từng cấp ngân sách theo quy định của pháp
luật. KBNN là một chủ thể quản lý, xuất hiện với tư cách độc lập từ ngày
01/04/1990 đã nhanh chóng tham gia vào quản lý vận hành NSNN trong sự

×