Tải bản đầy đủ (.docx) (13 trang)

LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀICHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (150.85 KB, 13 trang )

LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀICHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. Sự cần thiết của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân
hàng thương mại.
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ cho phép thu
thập và xử lý các thơng tin kế tốn và các thông tin khác trong quản lý Doanh nghiệp,
nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của Doanh nghiệp, đánh giá rủi ro,
mức độ, chất lượng và hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp đó.
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ
với vai trò vừa là người cung cấp vốn, vừa là người tiêu thụ vốn của khách hàng. Tuy
nhiên, ngân hàng không đơn thuần chỉ là một trung gian giữa người gửi tiền và người vay
tiền mà vấn đề còn phức tạp hơn nhiều. Khi ngân hàng cho vay, họ phải có cơ sở để tin
rằng khách hàng sẽ và có khả năng trả nợ, nếu ngân hàng khơng có cơ sở để tin vào điều
đó thì quan hệ tín dụng sẽ khơng xảy ra. Do vậy việc “phân tích tình hình tài chính doanh
nghiệp vay vốn là khâu cơ bản nhất trong nghiệp vụ cho vay” tại các Ngân hàng thương
mại.
Cho vay cũng tương tự như cho thuê một tài sản chẳng hạn như xe cộ, thiết bị... Sự
khác biệt ở đây là cho thuê tiền. Bên cho vay ( ngân hàng ) cho thuê một khoản tiền và
ngược lại sẽ nhận được một khoản trả tiền thuê dưới dạng lãi suất. Điều này là rất quan
trọng bởi nó sẽ chủ yếu tập trung vào thực tế là tiền, cũng như xe cộ hay các tài sản khác,
đều phải hoàn trả vào cuối thời hạn vay đã thỏa thuận, nếu khơng hồn trả được thì món
vay này sẽ chuyển thành nợ khó địi ( có thể hiểu nợ khó địi là sự mất vốn của người cho
vay chứ không nhất thiết là sự thua lỗ của người vay bởi một người có nợ khó địi có thể có
tiền để trả nhưng khơng muốn trả ).Trên thực tế, cho vay thì dễ nhưng thu lại tiền thì khó.
Chỉ có thể cho vay khi khơng có bất cứ nghi ngại gì trong việc hồn trả, do vậy cơng tác
“phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp vay vốn” là cần thiết để các Ngân hàng thương
mại đánh giá chính xác về năng lực tài chính của khách hàng từ đó đưa ra quyết định cho
vay hợp lý, đảm bảo hiệu quả đồng vốn của ngân hàng.
Với lý luận trên, ta có thể thấy vai trị của việc phân tích tình hình tài chính trong hoạt
động cho vay tại các ngân hàng là:
Thứ nhất, thông qua việc phân tích tài chính Doanh nghiệp, Ngân hàng có thể tư vấn


kịp thời cho các Doanh nghiệp về quyết định tài chính nhằm tháo gỡ khó khăn, ổn định và
phát triển Doanh nghiệp. Phân tích, đánh giá tài chính Doanh nghiệp trong Ngân hàng góp
phần kiểm tra lại tính trung thực của việc kiểm tra tài chính nội bộ. Từ đó, chủ doanh
nghiệp có cái nhìn khách quan hơn về nội lực Doanh nghiệp mình. Như vậy, phân tích tài
chính doanh nghiệp có thể đánh giá được rủi ro của Doanh nghiệp, đặc biệt là rủi ro về khả
năng thanh toán ở hiện tại và tương lai, và quyết định cho Doanh nghiệp có nên vay khơng
và mức độ tủi ro mà Ngân hàng gánh chịu khi chấp nhận cho Doanh nghiệp vay, cho vay
với số lượng là bao nhiêu. Có thể đưa ra những nhận định tinh tế hơn như mục đích vay


vốn của doanh nghiệp có thực sự trung thực khơng( thơng qua phân tích nhu cầu vốn và
khả năng vốn hiện tại của doanh nghiệp).
Thứ hai, phân tích tài chính không chỉ giúp Ngân hàng đưa ra những quyết định đúng
đắn khi tiến hành xét duyệt các khoản cho vay mà cịn trong cả q trình cho vay. Trong
thời hạn cho vay, Doanh nghiệp vẫn có nghĩa vụ cung cấp cho Ngân hàng các báo cáo tài
chính, các thơng tin về tình hình tài chính của mình, qua đó, Ngân hàng có thể phát hiện
những dấu hiệu xấu về tình hình tài chính của doanh nghiệp đó và thu hồi các khoản vay
trước hạn.
Ngồi ra, qua việc phân tích tài chính doanh nghiệp cịn giúp Ngân hàng xây dựng kế
hoạch cho vay, trên cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh và tài chính của mỗi
doanh nghiệp, Ngân hàng có thể đánh giá nhu cầu vốn ngắn hạn, trung và dài hạn... Từ đó
có chiến lược huy động vốn phù hợp, tránh lãng phí và đạt hiệu quả cao nhất. Đồng thời,
Ngân hàng có thể biết được xu hướng phát triển của từng giai đoạn, từng lĩnh vực kinh tế,
lập kế hoạch cung cấp tín dụng hướng vào lĩnh vực có khả năng phát triển mạnh trong
tương lai. Xây dựng kế hoạch tín dụng phù hợp sẽ giúp Ngân hàng nâng cao hiệu quả cho
vay, đem lại lợi nhuận cao cũng như góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế của
Nhà nước.
1.2. Nội dung công tác phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn.
1.2.1. Các thơng tin được sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn
1.2.1.1. Bảng cân đối kế toán:

Bảng cân đối kế tốn là một báo cáo tài chính tổng hợp, mơ tả thực trạng tài chính của
một doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó. Kết cấu của bảng được chia làm hai phần:
phần tài sản phản ánh toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền sở hữu
và sử dụng của doanh nghiệp. Bên nguồn vốn phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản
của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo.
Bảng cân đối tài sản là một tư liệu quan trọng bậc nhất giúp các nhà phân tích đánh giá
được tổng quát tình hình tài chính, khả năng thanh tốn, cơ cấu vốn và trình độ sử dụng
vốn của doanh nghiệp.
1.2.1.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tổng hợp cho biết tình hình tài chính
và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tại những thời kỳ nhất định.
Nó cung cấp các thơng tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về sử
dụng vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đồng thời, nó cũng giúp nhà phân tích so sánh được doanh thu và số tiền thực nhập quỹ
khi bán hàng, dịch vụ với tổng chi phí phát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành
Doanh nghiệp. Ngoài ra, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh còn cho biết tình hình thực
hiện nghĩa vụ với Nhà nước của Doanh nghiệp đó.
1.2.1.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử
dụng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.


Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp các thông tin giúp người sử dụng đánh giá khả
năng tạo tiền của doanh nghiệp, đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp, phân tích
mối quan hệ giữa lợi tức rịng và lưu chuyển tiền tệ rịng, dự đốn trong tương lai lượng
tiền mang lại từ các hoạt động của Doanh nghiệp.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần:
- Lưu chuyển từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư.
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính.

Có hai phương pháp lưu chuyển tiền tệ: phương pháp trực tiếp và phương pháp gián
tiếp, mỗi phương pháp có ưu điểm riêng.
1.2.1.4. Thuyết minh báo cáo tài chính:
Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thơng tin về tình hình sản
xuất, kinh doanh chưa có trong hệ thống các báo cáo tài chính, đồng thời, giải thích thêm
một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa được trình bày, giải thích rõ ràng, cụ
thể như các thơng tin về đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp , chế độ kế tốn áp dụng,
tình hình và lý do biến động một số tài sản và nguồn vốn quan trọng...
1.2.2. Các phương pháp được sử dụng trong phân tích tài chính.
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm
tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các
luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm
đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp.
Về lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp nhưng trên thực
tế, người ta thường sử dụng phương pháp so sánh và phương pháp tỉ lệ.
1.2.2.1. Phương pháp so sánh:
Để áp dụng phương pháp so sánh cần đảm bảo tính có thể so sánh được của các chỉ tiêu
tài chính ( thống nhất về khơng gian, thời gian, nội dung, tính chính xác và đơn vị tính
tốn...) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh. Gốc so sánh được chọn là gốc
thời gian và khơng gian, kỳ phân tích được chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so
sánh có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân. Nội dung so
sánh gồm:
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này và số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay
đổi về tài chính doanh nghiệp.
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của Doanh
nghiệp.
- So sánh giữa số liệu của Doanh nghiệp với số liệu của ngành, của các Doanh nghiệp
khác để đánh giá tình hình tài chính của Doanh nghiệp mình đang phân tích tốt hay xấu,
được hay chưa được.
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh

chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số lượng tuyệt đối và số tương
đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế tốn liên tiếp.


1.2.2.2 Phương pháp tỷ lệ:
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong
các quan hệ tài chính. Sự biến đổi các đại lượng tài chính . Về nguyên tắc, phương pháp tỷ
lệ yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức, để nhận xét, đánh giá tình hình
tài chính tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ doanh nghiệp với giá trị các tỷ
lệ tham chiếu.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính đựơc phân thành các nhóm
đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp.
Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh tốn, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn,
nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời.
Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động
tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích, người phân tích lựa
chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích tài chính của mình.
1.2.3. Nội dung cơng tác phân tích tài chính Doanh nghiệp vay vốn.
Khi Doanh nghiệp vay vốn, điều mà Ngân hàng quan tâm nhất là khả năng thanh toán
và trả nợ của khách hàng (DN) vay vốn. Do đó, khi phân tích tài chính, Ngân hàng quan
tâm nhiều hơn tới việc đánh giá rủi ro thanh toán của Doanh nghiệp. Tức là phân tích các
chỉ tiêu về khả năng thanh toán, cơ cấu nợ, báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng như trạng thái
tài chính của Doanh nghiệp nhằm đánh giá rủi ro trong tương lai. Do đó Ngân hàng đặc
biệt quan tâm tới việc phân tích khái quát một số chỉ tiêu tài chính trung gian và cuối cùng
trong báo cáo kết quả kinh doanh.
1.2.3.1. Phân tích các chỉ tiêu tài chính trong báo cáo kết quả kinh doanh đối với Doanh
nghiệp vay vốn tại Ngân hàng:
Mục tiêu của phân tích này là xác định, phân tích mối liên hệ và đặc điểm các chỉ tiêu
trong báo cáo kết quả kinh doanh, đồng thời so sánh chúng qua một số niên độ kế toán liên
tiếp và với số liệu trung bình của nghành (nếu có) với các Doanh nghiệp khác. Từ đó mà

đánh giá được một phần của xu hướng giai đoạn tiếp theo của Doanh nghiệp, có thể giúp
Ngân hàng tránh đựơc những rủi ro khơng có khả năng thanh tốn của Doanh nghiệp do xu
hướng hoạt động kinh doanh không tốt của Doanh nghiệp.
a. Các chỉ tiêu đã được chuẩn hoá trong mẫu bảng phân tích như sau:

CHỈ TIÊU
1.Doanh thu thuần
2.Giá vốn hàng bán
Trong đó:KHTSCĐ
3.Lãi gộp

NĂM N-1
Lượng
Tỷ trọng

NĂM N
Lượng

Tỷ trọng

Năm N/ Năm
N-1
Lượng Tỷ trọng


4.Chi phí bán hàng
và quản lý
Trong đó:
- KHTSCĐ
- Lãi vay

5. Lãi trước thuế và
lợi tức vay
6.Lãi trước thuế
-Thuế( TNDN)
7.Lãi sau thuế
8.Lãi khơng chia
b. Nhóm chỉ tiêu về tình hình tài chính và khả năng thanh tốn:
Đây là nhóm chỉ tiêu mà khơng riêng gì Ngân hàng mà rất nhiều đối tượng khác quan
tâm tới, bất kỳ đối tượng nào có liên quan đến Doanh nghiệp như: các nhà đầu tư, các cán
bộ cơng nhân viên... Phân tích tình hình thanh toán của Doanh nghiệp đối với các khoản nợ
trước đây rất quan trọng vì nó phản ánh được phần nào mức độ tín nhiệm hay sự sẵn sàng
chi trả của Doanh nghiệp trong việc thực hiện các nghĩa vụ nợ và khả năng tài chính của
nó. Một Doanh nghiệp có lịch sử thanh tốn lành mạnh, sịng phẳng sẽ an tồn hơn một
Doanh nghiệp ln có nợ khó địi hay q hạn. Nếu có nợ khó địi, nợ q hạn thì nguyên
nhân khách quan hay chủ quan, bất khả kháng hay khơng.
- Chỉ tiêu khả năng thanh tốn ngắn hạn:
Tài sản lưu động và đầu tư tài chính ngắn hạn
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn =
Nợ ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn
Hoặc =
Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn đo lường khả năng mà các tài sản có lưu động có
thể chuyển đổi thành tiền để hồn trả các khoản nợ ngắn hạn.Nếu hệ số này cao, có thể
đem lại sự an tồn về khả năng bù đắp cho sự giảm giá trị của TSLĐ.Điều đó thể hiện tiềm
năng thanh toán cao so với nghĩa vụ phải thanh tốn. Tuy nhiên, một DN có hệ số KNTT
nợ ngắn hạn quá cao cũng có thể DN đó đã đầu tư quá mức vào tài sản hiện hành, một sự
đầu tư không mang lại hiệu quả. Mặt khác, trong toàn bộ tài sản lưu động của doanh
nghiệp, khả năng chuyển hoá thành tiền của các bộ phận là khác nhau. Khả năng chuyển
hoá thành tiền của bộ phận hàng tồn kho thương được coi là kém nhất. Do vậy, để đánh giá

khả năng thanh toán một cách khắt khe hơn, có thể sử dụng hệ số khả năng thanh toán
nhanh.
- Chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh:
Tiền + ĐTTC ngắn hạn + Phải thu


Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này có ưu điểm hơn chỉ tiêu ở trên là đã loại được sự ảnh hưởng của hàng hoá
tồn kho ( phần dự trữ) đến khả năng thanh toán sao cho nhanh hơn của tài sản lưu động,
bởi vì, nếu cơ cấu hàng hóa tồn kho trong tổng tài sản lưu động lớn thì sẽ làm cho hệ số
thanh tốn ngắn hạn lớn nhưng khơng ảnh hưởng gì đến hệ số thanh tốn nhanh, vì thanh
tốn nhanh cần ít thời gian hơn thanh toán ngắn hạn, thanh toán ngắn hạn cần có việc
chuyển đổi của hàng hố tồn kho mà thời gian của việc chuyển đổi này nhanh hay chậm lại
cịn tuỳ thuộc vào từng nghành nghề, hàng hố và lĩnh vực kinh doanh.
- Chỉ tiêu khả năng thanh toán ngay:
Tiền + ĐTTC ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh tốn ngay của doanh nghiệp bằng tiền, khơng bị
chi phối bởi thời gian chuyển đổi của hàng hoá tồn kho và các khoản phải thu. Về mặt lý
thuyết, hệ số này lớn hơn 0,5 là dấu hiệu tốt. Nếu quá lớn tức là vốn bằng tiền của doanh
nghiệp để lại quá lớn, chi phí cho việc lưu trữ, ghi chép, kiểm đếm, phân loại khá lớn, mặt
khác lại không sinh lợi cho nên cũng không phải là càng lớn càng tốt.
Cũng như vậy với hệ số thanh toán ngắn hạn và hệ số thanh tốn nhanh, khơng hẳn là
càng cao càng tốt, chỉ vừa hợp lý sao cho tương ứng với các khoản nợ ngắn hạn để không
gây ra hiện tượng dư thừa nguồn lực, hiệu quả tài sản lưu động kém hay tài sản lưu động
quay vòng kém là khơng sinh lợi.
c. Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính:
- Hệ số nợ: nói lên trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn từ bên ngoài

( từ các chủ nợ) là bao nhiêu phần hay trong tổng số tài sản.
Tổng số nợ phải trả
Hệ số nợ =
Tổng tài sản
- Hệ số nợ vốn chủ sở hữu:
Nguồn vốn chủ sở hữu
Hệ số nợ vốn chủ sở hữu =
Tổng nguồn vốn
= 1 - hệ số nợ
Nhóm chỉ tiêu này để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu doanh nghiệp so với
nợ vay. Chủ nợ ưa thích một hệ số nợ vừa phải, hệ số nợ càng thấp, hệ số an tồn càng cao,
món nợ của họ càng được đảm bảo và họ có cơ sở để tin vào sự đáo nợ đúng hạn của con
nợ. Khi hệ số nợ cao tức là chủ doanh nghiệp chỉ góp một phần nhỏ trên tổng số vốn, thì
rủi ro trong kinh doanh chủ yếu chuyển sang cho chủ nợ gánh chịu, nhưng bằng cách tăng
vốn thông qua vay nợ, các chủ nợ vẫn nắm được quyền kiểm soát và điều hành doanh
nghiệp. Tuy nhiên,vấn đề giữa vốn vay và vốn góp với cơ cấu như thế nào cịn rất nhiều


phức tạp, nó cịn ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên tùy từng thời kỳ và đối
với từng doanh nghiệp.
- Hệ số khả năng thanh toán lãi tiền vay:
Lợi nhuận trước thuế + Lãi vay
Hệ số khả năng thanh tốn lãi tiền vay =
Chi phí lãi vay
Đây là chỉ tiêu được Ngân hàng quan tâm như là một chỉ tiêu khả năng thanh toán lãi
vay bằng kết quả hoạt động kinh doanh. Nếu lãi vay mà khơng trả được thì nợ gốc càng
khó trả hơn.
- Hệ số cơ cấu tài sản:
Tài sản cố định hoặc tài sản lưu động
Hệ số cơ cấu tài sản

=
Tổng tài sản

Hệ số này còn tuỳ thuộc vào từng nghành nghề, lĩnh vực và từng doanh nghiệp vì có
những nghành nghề kinh doanh quay vòng nhanh , tài sản lưu động cần nhiều, nhưng có
những nghành nghề thì tài sản cố định lại chiếm phấn lớn như mày móc, trang thiết bị,
cơng nghệ, đặc biệt ngày nay tài sản cố định vô hình chiếm tương đối lớn.
- Hệ số cơ cấu nguồn vốn:
Tổng vốn chủ sở
Hệ số cơ cấu nguồn = hữu
vốn
Tổng nguồn vốn
Hệ số này nói chung tốt nhất bằng 0,5 vì nếu nhỏ hơn thì vốn chủ sở hữu chiếm rất ít,
năng lực tài chính yếu, khả năng cạnh tranh thu hút vốn vay, vốn đầu tư thấp, khả năng rủi
ro tương đối cao.
* Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động:
- Vòng quay các khoản phải thu:
DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Vòng quay các khoản phải thu
=
Các khoản phải thu BQ
- Kỳ thu tiền trung bình:
(Các khoản phải thu BQ)* số ngày trong kỳ phân tích
Kỳ thu tiền trung bình
=
DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ


Nếu kỳ thu tiền trung bình lớn do các khoản phải thu nhiều chứng tỏ doanh nghiệp bị
chiếm dụng vốn hoặc do doanh nghiệp thu tiền trung bình một ngày nhỏ, chứng tỏ sự tiêu

thụ sản phẩm của doanh nghiệp kém. Những điều trên đều tác động tới khả năng thu hồi
vốn của Ngân hàng.
- Vòng quay hàng tồn kho:
Giá vốn hàng bán
Vòng quay hàng tồn kho

=
Hàng tồn kho BQ

-

Hệ số này cho thấy lượng hàng hố tồn kho có lâu hay khơng, có quay vịng nhanh hay
khơng. Bất kỳ doanh nghiệp nào khi đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh đều tất yếu có
hàng hố tồn kho , tuy nhiên số lượng nhiều hay ít và hàng tồn kho quay vòng nhanh hay
chậm còn tuỳ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan khác nhau như: lĩnh vực kinh doanh,
quy mô kinh doanh...
Hiệu suất sử dụng TSCĐ:
DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Hiệu suất sử dụng
TSCĐ

-

=
Tài sản cố định cố định bình quân

Chỉ tiêu này cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, song hai chỉ tiêu này phản ánh
rất rõ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hay khơng. Nếu sản xuất
kém hiệu quả, vòng quay tài sản ngắn hạn nhỏ, doanh thu thuần, lãi thuần trong một kỳ
kinh doanh thấp kéo theo nhiều chỉ tiêu khác kém đi như: nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận, có

những trường hợp bị lỗ, tài sản cố định cịn trích khấu hao không đủ dẫn đến việc đầu tư
cho trang bị cho tài sản cố định kém, hậu quả kéo theo là tiếp tục sản xuất kinh doanh kém
tạo ra vịng xốy liên tiếp.
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản:

Tổng DTT và thu nhập khác của DN trong kỳ
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

=
Tổng tài sản bình quân


d. Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lợi:
Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu
năng quản lý của Doanh nghiệp.
- Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lợi
+ Tỷ suất sinh lợi doanh thu:
Lợi nhuận
Tỷ suất sinh lợi doanh thu

=

x100
Doanh thu

Lợi nhuận được xác định trong công thức trên có thể là lợi nhuận thuần từ hoạt động
kinh doanh, lợi nhuận gộp, lợi nhuận trước thuế hay lợi nhuận sau thuế.
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng doanh thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Tất
nhiên hệ số này càng cao càng tốt nhưng còn phụ thuộc rất nhiều vào tỷ lệ thuế thu nhập
doanh nghiệp của mỗi nước và doanh thu thuần. Nếu doanh thu thuần lớn do giá bán tăng

cao thì sự bền vững và khả năng cạnh tranh của sản phẩm là kém, nhưng nếu hệ số cao vì
doanh thu q thấp nói lên việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kém hiệu quả.
+ Tỷ suất lợi nhuận tổng tài sản:
Tổng lợi nhuận trước thuế
Tỷ suất lợi nhuận tổng tài sản =
x 100
Tổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh trước khi phân chia cho chủ sở hữu
và chủ nợ. Nó xem xét một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế . Qua
phân tích hệ số này, Ngân hàng có thể thấy được hiệu quả của việc đầu tư vào tài sản ở
Doanh nghiệp.
+Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu:
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu bình quân
Chỉ tiêu này đặc biệt quan trọng đối với những người muốn tham gia góp vốn nhằm
chia sẻ quyền sở hữu doanh nghiệp và với những người đang sở hữu Doanh nghiệp.
- Nhóm chỉ tiêu về phân phối lợi nhuận:
Lợi nhuận sau thuế
+ Thu nhập cổ phần =
Số lượng cổ phiếu thường
Lợi nhuận đem chia
+ Cổ tức =
Số lượng cổ phiếu thường


Cổ tức
+ Tỷ lệ trả cổ tức =

Lãi đem chia

=

Thu nhập cổ phiếu

Lãi sau thuế

Riêng nhóm chỉ tiêu này dành riêng cho cơng ty cổ phần.Nó cho biết tình hình phân
phối lợi nhuận( kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh ) có phù hợp hay khơng đối
với doanh nghiệp trong tình trạng hiện nay, nếu khộng phù hợp sẽ gây ra ảnh hưởng gì
khơng tốt đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Về phía các cổ đông, đây là
những chỉ tiêu rất đáng chú ý và nó ảnh hưởng đến quyền lợi riêng của họ.
1.2.3.2. Phân tích rủi ro kinh doanh:
Phân tích rủi ro kinh doanh đặc biệt quan trọng khi Ngân hàng cho Doanh nghiệp
vay vốn trung, dài hạn. Trong trường hợp này, Ngân hàng đã cùng Doanh nghiệp gánh chịu
rủi ro trong một thời gian dài nên việc làm này là rất cần thiết.
b. Phân tích điểm hồ vốn:
Điểm hồ vốn là điểm mà tại đó, mức doanh thu vừa đủ trang trải mọi phí tổn. Phân
tích điểm hồ vốn sẽ cung cấp những thông tin cần thiết về lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh
thu cần đạt được khi biết sản lượng và doanh thu hịa vốn, chỉ ra ngưỡng Doanh nghiệp
khơng bị lỗ nhằm đạt được lợi nhuận mong muốn.
Tổng chi phí bất biến
- Sản lượng hoà vốn =
Giá đơn vị sản phẩm – Chi phí khả biến đơn vị
Để trực quan thuận tiện hơn cho q trình đánh giá, người ta cịn đưa ra khái niệm
doanh thu hoà vốn
Doanh thu hoà vốn = Sản lượng hoà vốn * Giá đơn vị sản phẩm
Doanh thu hoà vốn
- Thời gian hoà vốn =

*12 tháng

Tổng doanh thu

Thời gian hoà vốn cho biết thời gian cần thiết để có mức doanh thu đủ bù đắp chi phí
sản xuất.
Khi phân tích, so sánh điểm hồ vốn kỳ này với kỳ trước, điểm hoà vốn càng cao,
mức độ an tồn trong kinh doanh càng thấp.
b. Địn bẩy hoạt động kinh doanh:
Phân tích điểm hồ vốn cũng chưa thấy hết được tầm quan trọng của sự thay đổi doanh
số bán đối với lợi nhuận của Doanh nghiệp. Vì vậy, đòn bẩy hoạt động sẽ cho ta biết mức
độ chi phí cố định mà Doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh của nó, mà chi phí


thì ảnh hưởng tới lợi nhuận. Mức độ địn bẩy(DOL) là chỉ sự thay đổi theo tỷ lệ phần trăm
của thu nhập trước lãi và thuế do sự thay đổi 1% doanh số bán. Nếu chi phí cố định trong
tổng chi phí càng cao thì cũng có nghĩa là mức độ đòn bẩy hoạt động của doanh nghiệp
càng cao và khi các nhân tố khác khơng đổi thì một thay đổi nhỏ trong số lượng bán hàng
sẽ dẫn đến một sự thay đổi trong thu nhập trước thuế và trả lãi vay.
Tỉ lệ phần trăm thay đổi của EBIT
DOL =

Q(P-V)
=

Tỉ lệ phần trăm thay đổi của ds bán
Q : sản lượng
V : Chi phí biến đổi

Q(P-V)-F

P : Giá bán

F : Chi phí cố định

Tóm lại, một Doanh nghiệp ở tình hình mạo hiểm khi tình hình kinh doanh ở gần điểm
hồ vốn và hệ số địn bẩy hoạt động cao vì khi đó lợi nhuận trứơc thuế và lãi của doanh
nghiệp rất nhạy cảm với sự thay đổi của doanh số bán. Bất cứ một lý do nào về chính trị,
kinh tế hay thị hiếu... có thể làm lợi nhuận trước thuế và lãi giảm mạnh. Do đó, ảnh hưởng
đến khả năng trả nợ Ngân hàng, cho nên Ngân hàng vẫn thận trọng khi cho Doanh nghiệp
vay vốn.
1.2.3.3. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Bằng việc phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Ngân hàng có thể dự báo, ước tính
lượng tiền lưu chuyển trong tương lai, đánh giá chất lượng thu nhập của Doanh nghiệp,
đánh giá khả năng Doanh nghiệp duy trì một mức độ sản xuất kinh doanh nhất định, đánh
giá độ linh động tài chính và thanh khoản của Doanh nghiệp. Nếu trong kỳ báo cáo, chủ
doanh nghiệp tăng các khoản phải trả và nợ vay ngắn hạn để tài trợ cho nhu cầu vốn kinh
doanh thì sẽ là gánh nặng lưu chuyển tiền tệ trong kỳ tới. Ngược lại, nếu hàng tồn kho kém
chất lượng, luân chuyển chậm thì tình trạng thanh khoản của Doanh nghiệp trong kỳ tới sẽ
gặp khó khăn, khả năng thanh tốn nợ đến hạn khó, do đó Ngân hàng có thể khơng cho vay
hoặc khơng cho vay thêm.
Sức mạnh tài chính của một Doanh nghiệp được đánh gía bằng khả năng tạo tiền từ
hoạt động kinh doanh chứ không phải từ hoạt động đầu tư hay hoạt động tài chính, bởi vì:
- Lưu chuyển tiền tệ thuần từ hoạt động đầu tư >0 thể hiện đầu tư của Doanh nghiệp bị
thu hẹp.
- Lưu chuyển tiền tệ thuần từ hoạt động tài chính >0 thể hiện lượng cung ứng từ bên
ngồi ra tăng.
Trên cơ sở các thơng tin lưu chuyển tiền tệ từ doanh nghiệp, các Ngân hàng có thể phát
hiện được hiện tượng kinh doanh vượt quá khả năng vốn khi tiền vào từ hoạt động kinh
doanh không đủ bù đắp sự gia tăng tồn kho và các khoản phải thu, kết quả là lưu ngân ròng
từ hoạt động kinh doanh <0. Tức là tình hình tài chính đang xấu, Doanh nghiệp phải lệ
thuộc vào nguồn tài trợ bên ngồi, tình hình thanh khoản của Doanh nghiệp rất khó khăn.



Ngược lại, lưu chuyển tiền tệ ròng > 0 và đang tăng, Ngân hàng thấy rằng Doanh
nghiệp không thể huy động đủ vốn trong nội bộ để trả nợ gốc và lãi vay. Tình hình vẫn khó
khăn hơn khi Doanh nghiệp vẫn có nhu cầu mở rộng sản xuất. Một Doanh nghiệp đang
trong thời kỳ hưng thịnh, phát triển, sự gia tăng đầu tư vào tài sản sẽ sử dụng phần lớn số
tiền mà lẽ ra được dùng để trả nợ vay. Những Doanh nghiệp ấy cần được nhận tài trợ từ
bên ngoài, trường hợp này Ngân hàng nên đáp ứng nhu cầu vốn của Doanh nghiệp.
Trên đây là việc phân tích những mặt và chỉ tiêu chủ yếu khi xem xét , đánh gía tình
hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn, tuỳ vào từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể mà
người ta tiến hành phân tích, xem xét chú trọng vào chỉ tiêu nào để khai thác tình hình tài
chính phục vụ cho mục đích của người phân tích. Ngồi ra, cịn rất nhiều chỉ tiêu khác,
trong những trường hợp cụ thể khác nhau thì người phân tích sẽ sử dụng đến nó.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn.
Chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp được hiểu là tính chính xác của những
đánh giá về tình hình tài chính một Doanh nghiệp, về rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu
quả hoạt động của Doanh nghiệp và sự sát xao của các dự báo tài chính. Vì vậy, có rất
nhiều nhân tố khác nhau gây những ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp tới chất lượng
phân tích tài chính của doanh nghiệp, ở đây xin được phân chia theo 2 nhóm nhân tố chính:
nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. Mỗi nhân tố có mức độ tác động mạnh yếu khác
nhau theo những chiều hướng khác nhau nhưng tổng hợp lại thì có tác động rất lớn tới chất
lượng phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.3.1. Nhân tố chủ quan:
1.3.1.1. Nhân tố con người :
Trình độ nghiệp vụ, nhận thức, đạo đức, kinh nghiệm của cán bộ phân tích trong suốt
q trình đánh giá về năng lực tài chính doanh nghiệp ảnh hưởng lớn đến chất lượng phân
tích. Mỗi người cán bộ đều có kinh nghiệm thực tế, trình độ nghiệp vụ, nhận thức và hiểu
biết khác nhau, do đó, ngồi việc đánh giá phân tích tài chính doanh nghiệp theo các bước
quy định chung của Luật thì có độ nhạy bén, sắc sảo khác nhau.
1.3.1.2. Chất lượng thông tin:
Để tiến hành cho vay đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, cán bộ thẩm định bắt buộc

phải thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Việc thu thập thơng tin có đầy đủ, chính
xác kịp thời khơng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của việc đánh giá về khách hàng.
Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để thu thập thơng tin một cách dễ dàng, đầy đủ, chính
xác. Muốn vậy các ngân hàng thương mại cần phải xây dựng được một trung tâm thông tin
là nơi tổng hợp thơng tin, xử lý, phân tích dự báo và cung cấp thông tin, việc này được
thực hiện sẽ trợ giúp đắc lực cho cơng tác phân tích khách hàng được đầy đủ và chính xác.
1.3.1.3. Chính sách tín dụng của Ngân hàng:
Thơng qua các văn bản về quy trình nghiệp vụ mà Ngân hàng đề ra trong phân tích tín
dụng, chính sách Tín dụng của Ngân hàng trong từng thời kỳ: mở rộng hay thu hẹp tín
dụng. Trong thời kỳ Ngân hàng thu hẹp tín dụng, nội dung phân tích tài chính doanh


nghiệp có thể kỹ hơn, phức tạp hơn, khó khăn hơn, và ngược lại, thời kỳ Ngân hàng mở
rộng tín dụng thì quy trình, điều kiện tín dụng nói chung và đánh giá phân tích tài chính nói
riêng có thể thơng thống hơn, tất nhiên khơng sai phạm một khâu nào trong quy trình phân
tích, đánh giá đó.
1.3.2. Nhân tố khách quan.
1.3.2.1. Bản thân doanh nghiệp vay vốn:
Có nhiều nhân tố từ phía doanh nghiệp ảnh hưởng đến cơng tác thẩm định doanh
nghiệp của ngân hàng. Nó có thể xuất phát từ khách quan hoặc chủ ý của doanh nghiệp.
Ngân hàng đơi khi sẽ gặp khải những khó khăn trong công tác đánh giá doanh nghiệp nếu
doanh nghiệp không thực sự hợp tác trong quá trình thiết lập mối quan hệ tín dụng với
ngân hàng.
+ Hồ sơ xin vay vốn của doanh nghiệp là một trong những nhân tố phải kể đến, bởi đây
là cơ sở đầu tiên của mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng. Nếu bộ hồ sơ của
doanh nghiệp khơng nêu đầy đủ, chính xác và khơng được trình bày một cách khoa học
những thơng tin mà ngân hàng yêu cầu thì việc đánh giá doanh nghiệp gặp rất nhiều khó
khăn.
+ Chính sách bảo mật thông tin của doanh nghiệp cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến
công tác đánh giá doanh nghiệp của ngân hàng. Những số liệu và tình hình thực trạng của

doanh nghiệp trong quá khứ lẫn hiện tại là hết sức quan trọng đối với ngân hàng, bởi nó là
một trong những cơ sở để ngân hàng xem xét quyết định đến việc cho vay. Nếu đó là một
thơng tin xấu có thể ảnh hưởng đến khoản tín dụng này mà doanh nghiệp cố tình che đậy
thì coi như kết quả cơng tác đánh giá doanh nghiệp khơng cịn giá trị. Rất có thể ngân hàng
sẽ phải gánh chịu những thiệt hại khơng lường đối với khoản tín dụng cấp cho doanh
nghiệp.
Ngồi ra, các nhân tố khác như cơng nghệ tin học, mơi trường chính trị, kinh tế, xã hội
và pháp luật cũng gây ra những ảnh hưởng không kém tới chất lượng phân tích tài chính
doanh nghiệp. Việc ứng dụng cơng nghệ tin học sẽ giúp cho việc tính tốn được chính xác
hơn, khơng phức tạp, gây lẫn lộn khơng đáng có, tiết kiệm thời gian sức lực. Thơng qua hệ
thống máy tính, Ngân hàng có thể lưu giữ, cập nhật những thông tin mới nhất và cần thiết
một cách nhanh chóng.
Tóm lại, có nhiều những nhân tố ảnh hưởng đến cơng tác đánh giá doanh nghiệp trong
hoạt động tín dụng của ngân hàng. Có những nhân tố xuất phát từ phía doanh nghiệp, có
những nhân tố xuất phát từ phía ngân hàng, nhưng cũng có những nhân tố khách quan gây
ảnh hưởng. Chính vì vậy, khi đánh giá doanh nghiệp, ngân hàng cần đặc biệt chú ý tới
những nhân tố tác động từ đó để tìm cách khắc phục, đảm bảo cho công tác đánh giá doanh
nghiệp đạt kết quả cao, nhằm nâng cao chất lượng tín dụng và loại trừ những nguy cơ rủi ro có
thể xảy đến cho ngân hàng.



×