Tải bản đầy đủ (.pdf) (51 trang)

Phân tích hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển Mêkông chi nhánh Châu Đốc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (637.39 KB, 51 trang )


Trang 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm huy động vốn:
Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu của Ngân hàng, nó
nhằm giải quyết “đầu vào” tức là giải quyết nguồn vốn để hoạt động. Ngân hàng
huy động vốn dưới các hình thức sau đây:
- Nhận tiền của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các
hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá để huy động
vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước chấp thuận.
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và các tổ
chức tín dụng Nước ngoài.Vay vốn ngắn hạn của Nhà nước theo Luật Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam.
1.2 Nghiệp vụ huy động vốn:
1.2.1 Huy động tiền gửi:
- Tiền gửi thanh toán:
Bao gồm các khoản tiền gửi thanh toán của các doanh nghiệp, công ty, tổ
chức kinh tế và tiền gửi thanh toán cá nhân. Mục đích chính khi khách hàng gửi
tiền vào tài khoản tiền gửi thanh toán là để được hưởng các dịch vụ ngân hàng
cung cấp và để thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng.
- Tiền gửi có kỳ hạn:
+ Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà chủ sở hữu chỉ có thể rút ra và có
quyền hưởng 100% lãi suất theo thời hạn đã định.
+ Tiền gửi có kỳ hạn thường bao gồm các khoản tiền gửi của các nhà kinh
doanh tiền tệ, công ty, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế.
+ Tiền gửi có kỳ hạn tương đối ổn định nên Ngân hàng có thể chủ động sử
dụng trong kinh doanh.
+ Tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp.



+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư.

Trang 2
- Tiền gửi tiết kiệm:
+ Là tiền để dành hoặc tiết kiệm của dân cư đem gửi vào Ngân hàng, bao
gồm có tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
+ Bên cạnh tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và
tiền gửi tiết kiệm của dân cư ra, NHTM còn nhận tiền gửi của các Ngân hàng
khác dùng dịch vụ và chuyển ngân, tiền gửi vốn chuyên dùng của các doanh
nghiệp, công ty, tiền gửi của các nhà đầu cơ, tiền gửi kho bạc Nhà nước, các loại
tiền gửi khác.
+ Trong nguồn vốn huy động của NHTM, nguồn tiền gửi chiếm tỷ trọng
rất lớn, bộ phận này được huy động một cách thường xuyên, liên tục gắn liền các
hoạt động của Ngân hàng
- Các loại tiền gửi khác
Bên cạnh tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và
tiền gửi tiết kiệm của dân cư, NHTM còn nhận:
+ Tiền gửi của các Ngân hàng khác dùng cho việc thực hiện các nghiệp vụ
đại lý, thanh toán tiền hàng, dịch vụ và chuyển ngân.
+ Tiền gửi vốn chuyên dùng của các doanh nghiệp, công ty, tiền gửi của
các nhà đầu cơ.
+ Tiền gửi kho bạc Nhà nước
Nguồn vốn huy động tiền gửi của NHTM chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng
nguồn vốn. bộ phận này được huy động một cách thường xuyên, liên tục gắn liền
các hoạt động của Ngân hàng.
1.2.2 Nguồn vốn huy động do phát hành các giấy tờ có giá:
Ngoài huy động tiền gửi, NHTM còn huy động vốn bằng cách phát hành
các giấy tờ có giá trị như:
+ Chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu có mục đích của Ngân hàng, trái phiếu

Ngân hàng và các giấy tờ có giá khác.



Trang 3
+ Chứng chỉ tiền gửi: là giấy tờ có giá trị ngắn hạn, phổ biến là loại
chứng chỉ có thời hạn dưới một năm.
+ Trái phiếu ngân hàng: là giấy tờ có giá trị trung và dài hạn, là loại
chứng chỉ có thời hạn từ một năm trở lên.
Trong nguồn vốn huy động của NHTM, nguồn vốn phát hành các giấy tờ
có giá trị chiếm tỷ trọng không lớn. Bộ phận này được huy động không thường
xuyên, không liên tục mà chỉ mang tính định kỳ hoặc đột xuất khi Ngân hàng cần
tăng vốn.
1.3 Sự cần thiết của nghiệp vụ huy động vốn của NHTM:
Hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ: NHTM là một tổ chức đóng
vai trò “cầu nối” giữa các đơn vị thừa vốn với các đơn vị thiếu vốn, việc chuyển
các quỹ tiền tệ dư thừa đến tài trợ các dự án đầu tư sản xuất là một chức năng
kinh tế quan trọng của NHTM.
Ngân hàng thực hiện việc huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và sử dụng
nguồn vốn đó đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế nhằm kích thích quá trình
luân chuyển vốn để tái sản xuất mở rộng.
Ngân hàng môi giới giữa người gửi tiền và người vay vốn, giữa tiết kiệm
và đầu tư trong phạm vi toàn xã hội nhằm thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Việc huy
động nguồn vốn vừa để tăng nguồn vốn cho vay vừa điều chỉnh tổng phương tiện
thanh toán tránh áp lực lạm phát.
Huy động vốn là hoạt động chủ yếu và thường xuyên của NHTM vì để
có tiền hoạt động kinh doanh Ngân hàng không chỉ dựa vào nguồn vốn của mình
mà còn phải huy động vốn trên thị trường. Khi NHTM thực hiện các nghiệp vụ
huy động vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư tức là đã tạo ra những điều kiện thuận
lợi cho quá trình sản xuất cung ứng các dịch vụ cần thiết cho nền kinh tế.

Nguồn vốn huy động là nguồn vốn lớn nhất của NHTM, việc duy trì tăng
trưởng nguồn vốn này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc mở rộng kinh
doanh và gia tăng lợi nhuận của NHTM phù hợp mục đích kinh doanh của mình.



Trang 4
Đối với khách hàng gửi tiền: giúp cho họ tăng thu nhập vì sẽ nhận được
một phần lợi nhuận chắc chắn từ số tiền nhàn rỗi của họ khi gửi tiền vào Ngân
hàng khuyến khích người dân thực hiện tiết kiệm tăng đầu tư và đó cũng là biện
pháp đảm bảo an toàn tài sản của chính bản thân họ.
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn:
1.4.1 Ảnh hưởng của lãi suất:
- Tác động của tăng, giảm lãi suất trong huy động vốn: mục đích của khách
hàng gửi tiền vào Ngân hàng chủ yếu là hưởng lãi (trừ tiền gửi thanh toán). Vì
vậy lãi suất là một công cụ để thu hút tiền gửi của dân cư. Nếu lãi suất tăng hoặc
lãi suất giảm cũng đều làm ảnh hưởng đến công tác huy động.
- Chính sách điều tiết vốn: hiện nay các Ngân hàng Thương mại phải tự
điều tiết vốn của đơn vị. Nếu huy động vốn không đảm bảo đầu tư cho vay thì
đơn vị sẽ phải chịu phí sử dụng vốn của Ngân hàng Trung ương, nếu đơn vị chịu
phí sử dụng nhiều thì hiệu quả kinh doanh sẽ không có lời, vì vậy mà các Ngân
hàng Thương mại ra sức tập trung mọi biện pháp để thu hút vốn từ dân cư, làm
nguồn vốn kinh doanh cho Ngân hàng, nhưng phải có sự tương ứng về thời gian
và lãi suất giữa nguồn vốn và sử dụng vốn để đảm bảo được chức năng chi trả
cho khách hàng.
1.4.2 Phương tiện và kỹ thuật thanh toán, qui trình công nghệ:
Hệ thống thanh toán quốc gia thông qua các định chế Tài chính – Ngân
hàng mặc dù có bước phát triển vượt bậc so với trước đây, nhưng nhìn chung còn
bất cập trong xu thế hội nhập quốc tế, chưa tạo ra ấn tượng phổ biến có tính
thuyết phục đến tận từng người dân với tư cách là những chủ thể thanh toán đặc

biệt của nền kinh tế, nhất là chưa giải quyết triệt để những trở ngại kéo dài lâu
nay như: gửi và rút tiền chưa thuận tiện, nhanh chóng, Ngân hàng gần như chỉ
phục vụ trong giờ hành chính.
Hệ thống máy vi tính cũng còn hạn chế, trình độ ứng dụng công nghệ Ngân
hàng còn nhiều bất cập chưa đáp ứng thỏa mãn nhu cầu tại trung tâm huyện thị,
máy móc cũng chưa đủ phục vụ nhu cầu cần thiết cho khách hàng.


Trang 5
1.4.3 Chiến lược khách hàng, uy tín đối với khách hàng:
Ngày nay để hòa nhập với xu thế phát triển theo cơ chế thị trường, mọi
ngành, mọi lĩnh vực kinh doanh đều chú trọng đến yếu tố khách hàng với phương
châm “Khách hàng là Thượng đế ”. Do vậy các Ngân hàng Thương mại phải xem
yếu tố khách hàng là quan trọng nhằm thu hút được khách hàng về mình tránh
trường hợp để mất khách hàng.
1.4.4 Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng:
NHTM cần xác định rõ những điểm mạnh, điểm yếu cơ hội và thách thức
của Ngân hàng mình nhằm định vị được chỗ đứng hiện tại, đồng thời có những
dự đoán sự thay đổi của môi trường để xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp,
trong đó chiến lược phát triển quy mô và chất lượng nguồn vốn là bộ phận quan
trọng.
1.4.5 Thương hiệu:
Đó chính là uy tín của Ngân hàng được tạo dựng qua quá trình hoạt động,
có đội ngũ lãnh đạo và nhân viên chuyên nghiệp, năng động, nhiệt tình, sáng tạo,
thương hiệu của Ngân hàng được nhiều khách hàng biết đến và tin tưởng thì việc
huy động vốn sẽ rất thuận lợi.
1.5 Các chiến lược huy động của Ngân hàng Thương mại:
1.5.1 Đa dạng hóa sản phẩm huy động:
Để thu hút được nhiều tiền gửi từ dân cư và các tổ chức kinh tế, Ngân
hàng không ngừng đa dạng hóa sản phẩm dựa trên tiêu chí theo kỳ hạn và lãi

suất. Với các sản phẩm tiền gửi, Ngân hàng thường chia ra nhiều kỳ hạn khác
nhau để khách hàng có thể lựa chọn để phù hợp với nhu cầu của mình.
- Đối với tiền gửi ngắn hạn (dưới 12 tháng): được phân loại theo thời
gian từng quý: không kỳ hạn, kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng.
- Đối với tiền gửi trung và dài hạn (trên 12 tháng): các kỳ hạn tiền gửi
được chia thành 18 tháng, 24 tháng, 36 tháng, và 60 tháng.




Trang 6
Hiện nay các Ngân hàng hầu như đều phân loại theo các kỳ hạn trên,
nhằm tạo sự khác biệt thu hút khách hàng gửi tiền. Nhiều Ngân hàng đã chia nhỏ
thời gian của kỳ hạn hoặc đưa ra nhiều kỳ hạn mới: kỳ hạn tuần, kỳ hạn 1 tháng,
2 tháng, 13 tháng… để tạo sự linh hoạt cho người gửi tiền trong khi gửi và rút
tiền, đồng thời tăng thêm mức thu nhập từ lãi suất tiền gửi.
Tương ứng với các kỳ hạn tiền gửi là các mức lãi suất khác nhau. Biên độ
giữa các mức lãi suất này dao động tùy theo cơ chế quy định ở mỗi Ngân hàng.
Do đó, sự cạnh tranh về lãi suất tiền gửi luôn diễn ra gay gắt ở từng mức lãi suất
tiền gửi cho các kỳ hạn. Sự chênh lệch này làm ảnh hưởng tới tâm lý của người
gửi tiền, và nhiều khách hàng thích gửi tiền ở những Ngân hàng có lãi suất cao
nhất để được hưởng tiền lãi nhiều hơn. Vì vậy, để tạo sự khác biệt về các sản
phẩm huy động các NHTM thường tăng thêm nhiều tiện ích và dịch vụ đi kèm
làm cho khách hàng ưa thích hơn. Việc làm này đòi hỏi sự sáng tạo của bộ phận
phát triển sản phẩm trong Ngân hàng.
Ngoài ra, việc đa dạng hóa các sản phẩm huy động vốn, phát triển sản
phẩm riêng sẽ tạo dựng cho mỗi Ngân hàng những dấu ấn nhất định đối với
khách hàng, khuyến khích họ gửi nhiều tiền hơn, làm tăng lượng vốn huy động
cho các Ngân hàng Thương mại.
1.5.2 Đẩy mạnh hoạt động tiếp thị, khuyến mãi sản phẩm:

Đây là chiến lược huy động vốn rất hiệu quả trong điều kiện cạnh tranh
gay gắt giữa các Ngân hàng như hiện nay, vì chỉ có tạo ra cung cách phục vụ, tạo
ấn tượng đẹp trong lòng khách hàng là một đặc trưng riêng ở mỗi Ngân hàng. Do
đó, các hoạt động tiếp thị sản phẩm huy động vốn luôn được các Ngân hàng tiến
hành bằng nhiều phương thức khác nhau như: truyền hình, báo chí, tờ rơi…
Bên cạnh đó các Ngân hàng cũng tổ chức các đợt khuyến mãi được triển
khai vào các thời điểm trong năm như: đầu năm, giữa năm, hay cuối năm, cũng
có khi tùy thuộc vào chiến lược huy động vốn của mỗi Ngân hàng để tăng cường
lượng vốn huy động vào trong Ngân hàng.



Trang 7
1.5.3 Mở rộng mạng lưới chi nhánh, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn
cho cán bộ:
Phát triển đa dạng hóa sản phẩm để thu hút khách hàng nhờ vào việc cung
cấp sản phẩm với lãi suất cao hoặc cung cấp những sản phẩm đi kèm. Thế nhưng
khách hàng không chỉ dừng lại ở đó, đôi khi họ còn đòi hỏi có được sự tiện ích
trong giao dịch. Do vậy, mở rộng mạng lưới chi nhánh để thu hút nhiều vốn từ
dân cư là một chiến lược không thể thiếu.
Quy mô và khả năng tài chính của Ngân hàng càng lớn thì số lượng chi
nhánh càng nhiều, và khả năng thu hút vốn càng lớn. Tuy nhiên, các Ngân hàng
cần tìm hiểu rõ địa bàn trước khi thành lập chi nhánh, dự đoán được khả năng
phát triển của chi nhánh trong tương lai, nếu không việc lập thêm chi nhánh sẽ
không có tác dụng thu hút vốn mà còn làm tăng chi phí hoạt động cho Ngân
hàng.
Nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ là việc rất quan trọng,
vì họ là những người trực tiếp xây dựng và triển khai các chương trình huy động
vốn của Ngân hàng. Trình độ và nghiệp vụ của những cán bộ này sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến hiệu quả huy động tại Ngân hàng. Hiện nay các Ngân hàng đều rất

cố gắng trong việc lựa chọn phương án đào tạo để cán bộ của mình thành thạo về
nghiệp vụ chuyên môn.
1.6 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng:
1.6.1 Vốn huy động/ Tổng nguồn vốn:

VHĐ
VHĐ/TNV = x 100
Tổng nguồn vốn


Ý nghĩa: Tỷ số này cho biết khả năng huy động vốn của Ngân hàng. Tỷ số này
càng lớn thì nguồn vốn huy động càng ổn định.


Trang 8
1.6.2 Vốn huy động có kỳ hạn/Tổng nguồn vốn :

VHĐ có kỳ hạn
VHĐCKH/TNV = x 100
Tổng nguồn vốn

Ý nghĩa:
Chỉ số này đánh giá tính ổn định nguồn vốn của Ngân hàng. Chỉ số này
được xem là tốt khi nó đạt mức càng cao.
1.6.3 Dư nợ /Tổng nguồn vốn huy động:

Dư nợ
DN/TNVHĐ = x 100
Tổng nguồn vốn huy động


Ý nghĩa:
Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư của một đồng vốn huy động.
Nó giúp cho nhà phân tích so sánh khả năng cho vay của Ngân hàng đối với
nguồn vốn huy động.
Tóm lại, hoạt động huy động vốn có rất nhiều hình thức đa dạng nhằm tăng
tính cạnh tranh và thu hút ngày càng nhiều khách hàng. Nguồn vốn huy động sẽ
được Ngân hàng sử dụng để cho vay, phục vụ cho hoat động kinh doanh của
Ngân hàng. Tuy nhiên hoạt động này buộc Ngân hàng phải chấp nhận rủi ro và
để hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất thì Ngân hàng cần tuân thủ đúng các nguyên
tắc về cho vay và xử lý nợ. Huy động vốn và cho vay là hai nghiệp vụ chủ yếu
quyết định kết quả hoạt động kinh doanh nên nếu rủi ro xảy ra sẽ ảnh hưởng đến
lợi nhụân của Ngân hàng. Ngoài ra, có thể thông qua một số chỉ tiêu nhất định để
đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng như thế nào nhằm có những giải
pháp giúp Ngân hàng hoạt động tốt hơn.


Trang 9
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NGÂN HÀNG TMCP PHÁT TRIỂN MÊKÔNG - CHÂU ĐỐC
2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Phát triển Mêkông:
2.1.1 Sơ lược về Ngân hàng TMCP Phát triển Mêkông:
- Tiền thân MDB là Ngân hàng TMCP Mỹ Xuyên (thành lập ngày
12/10/1992). Vốn là một ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn hoạt động
hiệu quả và phát triển mạnh với mạng lưới phủ khắp các huyện thị tỉnh An
Giang. Ngày 16/9/2008 được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận chuyển đổi mô
hình hoạt động thành Ngân hàng TMCP đô thị tạo điều kiện thuận lợi hơn để
ngân hàng mở rộng mạng lưới hoạt động trên toàn quốc. Ngân hàng vẫn chủ yếu
tập trung đầu tư tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn vì đây là thế
mạnh của Ngân hàng được khẳng định qua hơn 15 năm hoạt động tại tỉnh An
Giang.

- Ngày 13/11/2009: Ngân hàng được NHNN chấp thuận đổi tên NGÂN
HÀNG TMCP MỸ XUYÊN (MXBank) thành NGÂN HÀNG TMCP PHÁT
TRIỂN MÊ KÔNG (MDB).
- Tên đầy đủ: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN PHÁT
TRIỂN MÊ KÔNG
- Tên viết tắt: NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN MÊ KÔNG
- Tên tiếng Anh: MEKONG DEVELOPMENT JOINT STOCK
COMMERCIAL BANK
- Tên viết tắt tiếng Anh: MDB
- Vốn điều lệ: 3.000 tỷ VNĐ
- Lĩnh vực hoạt động: Ngân hàng
- Hội sở chính: 248 Trần Hưng Đạo - Tp. Long Xuyên - tỉnh An Giang
- Việt Nam
- Tel: (076) 3 841 706 - Fax: (076) 3 841 006
- Email: - Website: www.mdb.com.vn



Trang 10
- Với tiềm năng phát triển mới và nâng tầm thương hiệu phù hợp với chiến
lược phát triển, MDB đang nhanh chóng mở rộng mạng lưới hoạt động trên toàn
quốc, tăng cường phát triển nguồn nhân lực chuyên nghiệp để hoạt động hiệu quả
hơn và vẫn giữ thế mạnh chuyên đầu tư phát triển nền kinh tế Nông nghiệp -
Nông thôn đặc biệt tại khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long.
- Ngày 9/12/2010: Ngân hàng TMCP Phát Triển Mêkông tự hào là một
trong số ít các ngân hàng tăng vốn điều lệ thành công lên 3000 tỷ đồng. Hiện
nay, ngân hàng đang có đối tác chiến lược là tập đoàn đầu tư tài chính Fullerton
Financial Holding Pte.Ltd với 100% vốn của Temasek Holdings Pte.Ltd (một tập
đoàn tài chính vững mạnh của chính phủ Singapore).
- Ngày 27/04/2011: Ngân hàng TMCP Phát Triển Mêkông (MDB) chính

thức khai trương và đưa chi nhánh Hà Nội đi vào hoạt động. Đây là chi nhánh
đầu tiên của ngân hàng MDB tại khu vực phía Bắc, làm tiền đề để phát triển
mạng lưới của ngân hàng trên toàn quốc
 Quá trình phát triển:
Tốc độ phát triển rất ấn tượng với đội ngũ nhân viên trẻ, nhiệt tình và
năng động. Tuy nhiên dưới sự biến động mạnh mẽ về tình hình giá cả hiện nay,
những thay đổi về lãi suất trên thị trường và môi trường cạnh tranh gay gắt trong
lĩnh vực Ngân hàng thì Ngân hàng TMCP Phát triển Mêkông với sự chỉ đạo kịp
thời từ hội sở cùng sự nỗ lực không ngừng của đội ngũ nhân viên kết hợp hệ
thống quản lý rủi ro chặt chẽ đem đến cho Mêkông những bước đầu thành công
đáng kể.
Mục tiêu hoạt động của Ngân hàng là đáp ứng kịp thời, nhanh chóng các
dịch vụ tài chính đa dạng cho khách hàng trên địa bàn nói riêng và khách hàng cả
nước nói chung, Mêkông luôn nỗ lực và đưa ra những sản phẩm – dịch vụ tài
chính tiện ích, nâng cao hiệu quả công tác tín dụng. Bên cạnh đó, mạng lưới hoạt
động khắp các tỉnh thành hiện nay giúp Ngân hàng TMCP Phát triển Mêkông có
thêm lòng tin và uy tín đối với khách hàng.



Trang 11
 Ngành nghề - lĩnh vực kinh doanh:
- Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá theo quy định
của Ngân hàng Nhà nước.
- Tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư của các tổ chức trong nước.
- Vay vốn của Ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng khác hoạt động
tại Việt Nam.
- Cho vay tổ chức cá nhân.
- Cung cấp dịch vụ thanh toán cho khách hàng.

- Chiết khấu hối phiếu.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức nhân sự:
Trong cơ cấu tổ chức của NHTM không thể thiếu nguồn nhân sự, và để
bố trí, sắp xếp thế nào cho hợp lý nhằm thích ứng với mô hình hoạt động của
mình, là yếu tố luôn được ban quản trị Ngân hàng quan tâm .
Trong thị trường hiện nay thì việc có được một đội ngũ cán bộ nhân viên
giàu kinh nghiệm, có năng lực và luôn được đào tạo nâng cao trình độ chuyên
môn sẽ là nhân tố quyết định đến sự phát triển của Ngân hàng trong tương lai. Có
thể nói Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Mêkông – Châu Đốc đã làm
tốt công việc này với một cơ cấu tổ chức như sau:


+ Ban Giám đốc + Phòng kế toán, kho quỹ
+ Phòng kinh doanh + Bộ phận giao dịch
+ Bộ phận thẩm định + Bộ phận ngân quỹ
+ Bộ phận tín dụng + Phòng dịch vụ khách hàng






Trang 12
Sơ đồ cơ cấu tổ chức và quản lý của Ngân hàng

Kết hợp với cơ cấu tổ chức thích hợp Ngân hàng đã bố trí đội ngũ nhân viên
phù hợp với tính chất và khối lượng công việc, đồng thời giúp phát huy được sự
đóng góp của các bộ phận và giảm bớt số công việc chuyên môn về tài chính, kỹ
thuật… cho cấp quản trị để tập trung vào những công việc mang tính chiến lược.



Giám Đốc

P.Giám Đốc


TP. Dịch Vụ
Khách Hàng

P. Kế Toán
TP.Kinh
Doanh
PP.Kinh
Doanh

NV.Sale
P. DVKH
TP. Kế Toán

Kế Toán Viên
NV.Kiểm
Soát
P. Hành
Chính
P. Ngân Qũy
Tổ Trưởng
Thủ Quỹ
Kiểm Soát
Viên
NV. Teller

Bảo Vệ
NV. KN
NV.Tín
Dụng

Trang 13
2.1.3 Chức năng của các phòng ban:
2.1.3.1 Ban giám đốc:
Giám đốc:
- Là người trực tiếp điều hành và quản lý toàn bộ hoạt động của Ngân
hàng. Là người quyết định cuối cùng trong việc xét duyệt cho vay, đại diện cho
chi nhánh trong việc quan hệ với Ngân hàng cấp trên.
- Là người chịu trách nhiệm cao nhất về tài sản, kết quả hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng trong quan hệ trực thuộc, và báo cáo về cho hội sở.
 Phó giám đốc:
Hỗ trợ tham mưu cho Giám đốc trong việc điều hành, giải quyết các vấn đề
nảy sinh trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng mà Giám đốc giao phó, và
giải quyết các công việc khi có sự ủy quyền của Giám đốc.
2.1.3.2 Phòng Kinh doanh:
- Trực tiếp thực hiện các khoản cho vay đối với khách hàng: ngắn hạn,
trung hạn và dài hạn, thẩm định xét duyệt để trình lên giám đốc, tiến hành thẩm
định khách hàng và các tài sản có liên quan khi khách hàng có nhu cầu vay bằng
tài sản đảm bảo.
- Chịu trách nhiệm trong việc xử lý đồng vốn và giám sát quá trình sử
dụng vốn khi xử lý vay, đề xuất xử lý các khoản nợ quá hạn, và kịp thời thông
báo thay đổi lãi suất cho khách hàng.
- Tìm hiểu đối tượng khách hàng trên địa bàn, tạo mối quan hệ bền vững
với khách hàng truyền thống, tìm kiếm khách hàng mới để mở rộng thị phần tín
dụng. Ngoài ra, phòng còn kết hợp với bộ phận kế toán trong việc theo dõi và thu
nộp đúng hạn.

2.1.3.3 Phòng Kế toán – Kho quỹ:
 Phòng Kế toán:
- Trực tiếp giao dịch tại Ngân hàng, tổ chức thực hiện công tác hạch toán
kế toán tại chi nhánh, quản lý hồ sơ của khách hàng, hạch toán các nghiệp vụ cho
vay, thu nợ, chuyển nợ quá hạn.


Trang 14
- Thực hiện các thủ tục thanh toán, phát vay cho Ngân hàng theo lệnh
của Giám đốc hoặc người được ủy quyền
- Chịu trách nhiệm theo dõi hồ sơ vay, hướng dẫn khách hàng về các vấn
đề liên quan đến tiền vay, đóng lãi, cách tính lãi khi khách hàng có thắc mắc.
- Tổ chức lưu trữ và bảo quản kho chứng từ kế toán. Thực hiện báo cáo
theo quy định và yêu cầu của người có thẩm quyền.
 Kho quỹ:
- Thực hiện các nghiệp vụ thu chi liên quan đến tiền mặt, và trực tiếp quản
lý chìa khóa kho quỹ.
- Chịu trách nhiệm đảm bảo an toàn đối với các loại tiền, các loại giấy tờ
có giá, và tài sản liên quan đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
- Thực hiện kiểm kê tồn quỹ đúng theo quy định, tuân thủ các quy định về
công tác an toàn quỹ, đồng thời đề xuất các biện pháp quản lý an toàn về kho
quỹ.
- Chịu trách nhiệm trực tiếp về việc ghi chép sổ sách chứng từ có liên
quan đến kho quỹ.
2.1.3.4 Phòng Tổ chức hành chính:
- Bố trí quản lý toàn bộ hoạt động có liên quan đến các nhân viên như: bố
trí công việc, tuyển nhân viên, chăm lo sức khỏe cho nhân viên.
- Xây dựng các quy chế, tham mưu xây dựng chỉnh đốn hoạt đông của
Ngân hàng trình lên cấp trên.
- Quản lý hồ sơ và theo dõi tình hình nhân sự tại Ngân hàng. Thực hiện

các hợp đồng lao động và tiếp nhận hồ sơ xin việc tại chi nhánh.
- Chịu trách nhiệm trong việc kiểm tra tính tuân thủ quy định, quy chế sắp
xếp, bố trí, phân công nhân sự, phân công nhân viên bảo vệ thực hiện công tác
trật tự an ninh tại cơ quan. Theo dõi kết quả công việc của cán bộ nhân viên trong
phạm vi thẩm quyền cho phép.




Trang 15
2.1.4 Chức năng của Ngân Hàng Thương Mại:
Nghiệp vụ kinh doanh của Ngân hàng Thương mại rất phong phú và đa dạng,
tầm quan trọng của các Ngân hàng Thương mại có thể được minh họa một cách
chi tiết thông qua các chức năng cơ bản sau đây:
2.1.4.1 Chức năng trung gian tín dụng:
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng Ngân hàng Thương mại sẽ
thu nhận tiền nhàn rỗi dưới nhiều hình thức (như mở tài khoản tiền gửi, phát
hành các giấy nợ…). Đồng thời sử dụng nguồn vốn đó để cấp tín dụng cho nền
kinh tế. Chức năng này có ý nghĩa rất quan trọng trong nền kinh tế là:
- Kích thích kinh doanh có hiệu quả ở các doanh nghiệp vay vốn.
- Điều hòa vốn cho nền kinh tế góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát
triển.
2.1.4.2 Chức năng trung gian thanh toán:
Ngân hàng thực hiện chức năng thanh toán khi Ngân hàng là thủ quỹ và
kế toán cho nền kinh tế, có nghĩa là Ngân hàng giữ tài khoản cho khách hàng,
thực hiện thu chi cho khách hàng.
Khi thực hiện chức năng trung gian thanh toán thì Ngân hàng sẽ thực hiện
các nội dung sau:
- Ngân hàng nhận ký thác tiền mặt và chuyển thành tiền ghi sổ.
- Cung ứng các phương tiện thanh toán để sử dụng tiền ghi sổ.

- Cung ứng các dịch vụ thanh toán có liên quan đến tiền ghi sổ (như thu
hộ, chi hộ, chuyển tiền…).
Từ nội dung hoạt động trên chức năng trung gian thanh toán cũng có ý
nghĩa lớn trong hoạt động Ngân hàng là làm tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn
giảm tiền mặt trong lưu thông, tạo nguồn vốn hoạt động cho Ngân hàng Thương
mại, thông qua đó tạo điều kiện để Ngân hàng Trung ương thực hiện được những
yêu cầu của chính sách tiền tệ.




Trang 16
2.1.4.3 Chức năng tạo tiền:
Tạo tiền là một trong những chức năng chủ yếu của các Ngân hàng
Thương mại. Với một khoản tiền không kỳ hạn nhận ký thác ban đầu qua việc
cho vay bằng chuyển khoản của Ngân hàng Thương mại làm tăng lên lượng tiền
ký thác trong Ngân hàng.
Chức năng tạo tiền có tầm quan trọng đối với các Ngân hàng Thương mại
là tạo ra nguồn vốn hoạt động cho Ngân hàng Thương mại, từ đó mở rộng chức
năng trung gian tín dụng.
2.1.5 Tình hình hoạt động của Ngân hàng TMCP Phát triển MêKông –
Châu Đốc:
Trong quá trình hoạt động các chỉ tiêu của Ngân hàng luôn biến động
thường xuyên qua các năm. Tình hình hoạt động của Ngân hàng trong giai đoạn
2009 – 2011 thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
+ Tổng tài sản
+ Cho vay
+ Vốn huy động
+ Thu nhập ròng
+ ROA

Được trình bày cụ thể qua Bảng 2.1, sau đây:











Trang 17





Trang 18

 Tổng tài sản:
Đây là chỉ tiêu vừa thể hiện quy mô hoạt động vừa để đánh giá khả năng
thanh toán của Ngân hàng. Chỉ tiêu này không ngừng thay đổi qua các năm. Vào
năm 2009 tổng tài sản của Ngân hàng là 284.035 triệu đồng và qua năm 2010 là
294.123 triệu đồng tăng 3,6% so với năm 2009. Do Ngân hàng chưa đáp ứng đủ
các nhu cầu cần có, nên trong năm 2010 Ngân hàng đã tăng cường thêm vốn đầu
tư xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản và các thiết bị khác. Nhưng đến năm 2011,
khi Ngân hàng đã có đầy đủ các thiết bị nên tổng tài sản 287.099 triệu đồng giảm
2,4% so với năm 2010.
 Cho vay:

Là khoản mục kinh doanh mà bất cứ Ngân hàng nào cũng có, và luôn
chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong tổng tài sản của Ngân hàng. Cụ thể năm
2009 cho vay là 264.271 triệu đồng. Sang năm 2010 chỉ tiêu này đạt 267.110
triệu đồng, tăng 1% so với năm 2009. Nhưng trong năm 2011 tỷ trọng mà cho
vay đem lại giảm 7,5% so với năm 2010. Nguyên nhân là do trong giai đoạn
2010-2011 kinh tế nước ta đang có sự biến động lớn nhất là Nghị quyết 11 của
Chính Phủ về việc thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, cho nên Ngân hàng đã
giảm dư nợ cho vay.
 Vốn huy động:
Từ năm 2009-2011 vốn huy động đều tăng, nhưng trong năm 2010 Ngân
hàng đã huy động ít hơn năm 2009 chỉ được 75.714 triệu đồng là do gặp sự cạnh
tranh quyết liệt giữa các Ngân hàng, cho nên Ngân hàng TMCP Phát triển
Mêkông – Châu Đốc đã gặp nhiều khó khăn trong công tác huy động vốn. Chúng
ta biết rằng vốn huy động chiếm giữ một tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của
Ngân hàng, và đem lại hiệu quả cao trong hoạt động, vì hầu hết các NHTM hoạt
động chủ yếu từ nguồn vốn này. Do đó, bất kỳ Ngân hàng nào kể cả Ngân hàng
TMCP Phát triển Mêkông – Châu Đốc đều mong muốn huy động được ngày
càng nhiều vốn.


Trang 19

 Thu nhập ròng:
Là phần lợi nhuận còn lại sau khi Ngân hàng đã trừ đi các khoản chi phí
khác. Đây là chỉ tiêu phản ánh hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Khi thu
nhập ròng càng cao thì hoạt động của Ngân hàng càng có hiệu quả và ngược lại.
Thu nhập ròng đều tăng qua các năm 2009 thu nhập ròng là 27.167 triệu đồng
nhưng đã tăng lên 34.016 triệu đồng trong năm 2010, năm 2011 là 42.804 triệu
đồng tăng 25,8% so với năm 2010. Mặc dù, giai đoạn 2009-2011 nền kinh tế
nước có nhiều diễn biến khó lường nhưng Ngân hàng TMCP Phát triển Mêkông

– Châu Đốc đã có nhiều biện pháp để tăng thu nhập cho Ngân hàng mình. Cụ thể
năm 2010 thu nhập ròng tăng 6.849 triệu đồng so với năm 2009, thấp hơn so với
mức tăng trưởng giai đoạn năm 2010-2011 là 8.788 triệu đồng.
 Thu nhập ròng/ tổng tài sản (ROA):
Hệ số này giúp ta biết được từ một đồng tài sản Ngân hàng sẽ tạo được
bao nhiêu đồng lợi nhuận cho mình. Mặt khác nó còn thể hiện tính hiệu quả trong
công tác quản lý tổng tài sản của Ngân hàng. Thông qua sự gia tăng trong chỉ tiêu
thu nhập ròng đã kéo theo hệ số ROA cũng được tăng lên qua các năm. Năm
2009 ROA là 0,06 % nhưng được tăng lên 0,08% vào năm 2010. Đến năm 2011
ROA tiếp tục tăng lên 0,10 %, nghĩa là khi sử dụng một đồng tài sản thì Ngân
hàng đã tạo ra được 0,10 đồng lợi nhuận. Điều này chứng tỏ Ngân hàng đã có
nhiều phấn đấu và nỗ lực để có được kết quả như trên.
2.1.6 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Phát triển
Mêkông – Châu Đốc:
Điểm đặc trưng của nền kinh tế nước ta hiện nay là sự hòa nhập và từng
bước đưa Việt Nam tiến dần tới nền kinh tế toàn cầu của thế giới. Đây là lý do
tạo ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các Ngân hàng, đồng thời nó cũng là động lực
thúc đẩy Ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động.
Để theo kịp sự phát triển của nền kinh tế và để hoạt động có hiệu quả
trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ trước hết cần ở mỗi Ngân hàng phải có một
nguồn vốn dồi dào, và biết sử dụng nguồn vốn tốt nhất nhằm tạo ra lợi nhuận

Trang 20

cao với mức rủi ro thấp nhất. Lợi nhuận là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả
kinh doanh của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Vì vậy, trong
hoạt động của mình các Ngân hàng luôn thực hiện tốt các mục tiêu về lợi nhuận.

Để thấy được kết quả kinh doanh của Ngân hàng TMCP Phát triển
Mêkông – Châu Đốc, ta xét Bảng 2.2



























Trang 21




































Trang 22
Qua Bảng 2.2 ta thấy cả ba chỉ tiêu về thu nhập, chi phí, lợi nhuận đều
tăng qua các năm. Đặc biệt về chỉ tiêu lợi nhuận tăng cho thấy được hiệu quả
trong công tác huy động vốn, cho vay và thu nợ của Ngân hàng TMCP Phát triển
Mêkông – Châu Đốc. Điều đó cho ta thấy được công tác chỉ đạo và quản lý của
ban lãnh đạo của Ngân hàng khá tốt, cùng với sự nỗ lực và nhiệt tình trong công
việc của toàn thể nhân viên đã đem lại cho Ngân hàng kết quả đáng khích lệ.
Biểu đồ 2.1 Thu nhập – chi phí – lợi nhuận qua 3 năm (2009-2011)

ĐVT: Triệu đồng

•Thu nhập :
Thu nhập của Ngân hàng đã tăng liên tục qua ba năm cụ thể: năm 2009
doanh thu đạt được 37.732 triệu đồng, đến năm 2010 là 47.245 triệu đồng và tăng
25,2% so với năm 2009. Nhưng đến năm 2011 thu nhập là 59.450 triệu đồng và



0
10000
20000
30000
40000
50000
60000
2009 2010 2011
Thu nhập Chi phí Lợi nhuận

Trang 23

tăng 25,8% so với năm 2010. Để có được kết quả trên trong năm 2010, và 2011
Ngân hàng đã đưa ra nhiều chính sách ưu đãi đối với lãi suất huy động cũng như
cho vay, và kèm nhiều chương trình khuyến mãi, cùng với chính sách đãi ngộ
dành cho khách hàng thân thuộc…Bên cạnh đó, còn nhờ vào sự năng động, tinh
thần làm việc nhiệt tình của đội ngũ nhân viên có nhiều kinh nghiệm của Ngân
hàng.
•Chi phí:
Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của Ngân
hàng. Do đó, làm thế nào với mức chi phí thấp nhất mà vẫn đem về lợi nhuận cao
cho Ngân hàng là vấn đề then chốt. Đây cũng là mối quan tâm hàng đầu đối với
hầu hết các NHTM nói chung kể cả Ngân hàng TMCP Phát triển Mêkông – Châu
Đốc. Qua bảng số liệu cho ta thấy chi phí mà Ngân hàng phải bỏ ra đều tăng qua
các năm, điều đó đồng nghĩa với việc trong thời gian này Ngân hàng đã gia tăng
các hoạt động, đặc biệt trong khâu huy động vốn. Đây là khoản chi không thể
thiếu trong quá trình kinh doanh vì Ngân hàng hoạt động chủ yếu nhờ vào nguồn
vốn huy động. Năm 2009 chi phí ở mức 12.145 triệu đồng nhưng con số này đã
vượt lên 13.441 triệu đồng vào năm 2010 tăng 10,7% so với năm 2009, và
18.760 triệu đồng vào năm 2011 đã tăng 39,6% so với năm 2010.
Cùng với sự gia tăng của doanh thu thì chí phí trong việc chi trả lương
hay chi cho mua sắm trang thiết bị, máy móc hỗ trợ hoạt động của Ngân hàng
cũng tăng. Vì Ngân hàng mới tân trang cơ sở vật chất là cần thiết nên chi phí
tăng đều qua các năm, chi phí vào năm 2010 tăng 10,7% so với năm 2009, và
năm 2011 đã tăng 39,6% so với năm 2010. Bất kỳ một NHTM nào cũng đều đắn
đo trong việc phải bỏ ra chi phí là bao nhiêu thì hợp lý, mà vẫn đảm bảo được
tiến trình hoạt động của Ngân hàng vẫn diễn ra bình thường. Ngân hàng TMCP
Phát triển Mêkông – Châu Đốc đã hết sức thận trọng khi đưa ra các chiến lược
hoạt động với một cơ cấu chi phí phù hợp giúp Ngân hàng có được kết quả tốt
trong thời gian qua.




Trang 24
•Lợi nhuận:
Bất kỳ một doanh nghiệp hay Ngân hàng nào khi đã tham gia hoạt động
kinh doanh cũng đều quan tâm đến lợi nhuận đạt được, vì đây là chỉ tiêu để đánh
giá và quyết định doanh nghiệp hay Ngân hàng đó kinh doanh có hiệu quả hay
không. Lợi nhuận của Ngân hàng đều tăng qua các năm.
2.1.7 Thuận lợi và khó khăn của Ngân hàng trong thời gian qua:
2.1.7.1 Thuận lợi:
Hoạt động của chi nhánh luôn gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương đồng thời được sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh ủy và sự hợp
tác chặt chẽ của các ngành, các đoàn thể, các cấp… đã thực sự là tiền đề, là cơ sở
để Ngân hàng mở rộng đầu tư tín dụng, đảm bảo an toàn vốn và kinh doanh có
hiệu quả.
Các văn bản ban hành có liên quan đến hoạt động Ngân hàng được bổ
sung sửa đổi với nhiều cơ chế mới thông thoáng đã tạo được hành lang pháp lý
vững chắc để Ngân hàng hoạt động an toàn và đúng pháp luật; phát huy tích cực
tính tự chủ kinh doanh, giảm bớt thủ tục giấy tờ có liên quan trong quy trình hoạt
động, tạo điều kiện thuận lợi và tiết kiệm về mặt thời gian cho khách hàng khi
đến giao dịch, đồng thời tăng thêm mối quan hệ giữa Ngân hàng và khách hàng.
Trong cơ chế quản lý công tác chỉ đạo điều hành không ngừng được đổi
mới làm tăng thêm tính thống nhất và toàn diện, kịp thời giải quyết vướng mắc
nhằm tránh những ách tắc trong hoạt động kinh doanh.
Vị trí đặt ở trung tâm Thị xã, nơi tập trung nhiều dân cư, nhiều thành
phần kinh tế và những người lao động có thu nhập khá nên có rất nhiều nhu cầu
về dịch vụ ngân hàng giúp Ngân hàng mở rộng hoạt động tín dụng, đa dạng hóa
các hoạt động của Ngân hàng, và thuận tiện cho việc huy động vốn.
Đội ngũ nhân viên trẻ, năng động, nhiệt huyết, luôn đoàn kết nhất trí
trong công việc và có trình độ chuyên môn cao góp phần tạo đà phát triển vượt
bậc trong thời gian qua, đồng thời tạo được sức mạnh tổng hợp đáp ứng yêu cầu

nhiệm vụ đề ra trong giai đoạn mới.


Trang 25

Luôn có được sự ủng hộ và tin tưởng của các cổ đông và khách hàng.
Bên cạnh đó nhờ vào tình hình kinh tế ổn định trong thời gian qua giúp Ngân
hàng mở rộng đối tượng đầu tư, thay đổi về phong cách giao dịch để phục vụ
khách hàng ngày càng tốt hơn.
2.1.7.2 Khó khăn:
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc cung cấp dịch vụ ngân hàng còn
vướng phải một số khó khăn sau:
- Chịu sự cạnh tranh từ phía các Ngân hàng, các tổ chức tín dụng
trong địa bàn. Nguồn vốn huy động tại chỗ chưa cao, chủ yếu là nguồn vốn cấp
trên cấp. Hình thức huy động vốn chủ yếu là các hình thức truyền thống.
- Giới hạn về phạm vi hoạt động nên chưa phát huy hết tiềm năng sẵn
có của Ngân hàng. Sức cạnh tranh chưa mạnh, đặc biệt Ngân hàng luôn chịu sự
chỉ đạo của Ngân hàng cấp trên nên việc định lãi suất, cũng như kế hoạch của
Ngân hàng đều phải thông qua Ngân hàng cấp trên.
- Đa số khách hàng là hộ sản xuất và doanh nghiệp nên việc đầu tư
kinh tế hầu như còn phụ thuộc nhiều yếu tố: tình hình hoạt động, tình hình tài
chính Bên cạnh đó các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng trên địa bàn ngày
càng nhiều trong khi đó hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là cho vay. Vì thế sự
cạnh tranh thương trường càng gay gắt ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hoạt
động của Ngân hàng.
Tuy có nhiều khó khăn nhưng với sự nỗ lực từ ban giám đốc và cán bộ,
cùng với kinh nghiệm tích lũy đạt được trong quá trình hoạt động Ngân hàng
Thương mại cổ phần Phát triển Mêkông – Châu Đốc luôn tìm được chỗ đứng
trong lĩnh vực hoạt động tín dụng trên địa bàn tỉnh An Giang.






×