Tải bản đầy đủ (.doc) (10 trang)

lich su VIET NAMNhà Nguyễn(1802-1858)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (118.29 KB, 10 trang )

Nhà Nguyễn (1802 - 1858)
• Gia Long: 1802 - 1820
• Minh Mạng: 1820 - 1840
• Thiệu Trị: 1841 - 1847
• Tự Đức: 1847 - 1883
I. Chính quyền nhà Nguyễn
1. Chính quyền trung ương
Năm 1802 Nguyễn ánh lên làm vua, đóng đô tại Phú Xuân (Huế), lấy niên hiệu là Gia Long, đặt
quốc hiệu là Việt Nam. Sau này vua Minh Mạng đổi quốc hiệu thành Đại Nam.
Về việc triều chính, vua Gia long định cứ ngày rằm và ngày mồng một thì thiết đại triều, các ngày
mồng 5, 10, 20, 25 thiết triểu triều.
Giúp việc cho vua có 6 bộ là:
Bộ Lại: Phụ trách hệ thống quan lại và chiếu chỉ, Bộ Hộ: phụ trách tài chính, thuế, Bộ Lễ: thi cử, tế
lễ..., Bộ Binh: việc quân đội, Bộ Hình: Phụ trách việc tư pháp, Bộ Công: việc xây dựng, cầu
đường, đóng tàu.
Bên cạnh lục bộ Đô Sát viện có nhiệm vụ khuyên vua, kiểm tra, thẩm sát, kê hạch các quan để
đừng sa vào những hành đông sai phép nước.
Sau này vua Minh Mạng đặt thêm hai cơ quan quan trọng là Nội các và Cơ mật viện để giúp vua
trong các việc trọng yếu như bổ nhiệm quan lại, phân chức, chu toàn bảo ấn, văn bảo. Vua còn
đặt ra Tôn nhân phủ trông coi mọi việc trong giới tôn thất và định lại quan chế.
Ngoài ra còn có Bưu chính ty lo săn sóc hệ thống trạm dịch, Tào chính ty lo việc giao thông
đường sông, Hỏa pháo ty chuyên sản xuất vũ khí có chất nổ, Thái y viện lo việc y tế cho vua là
hoàng gia, Khâm thiên giám xem thiên văn, làm lịch, Quốc tử giám lo việc học hành và các khoa
thi.
2. Chính quyền địa phương
Vua Gia Long chia nước ra làm 23 trấn, 4 dinh, dưới trấn là phủ, huyện, châu, tổng, xã. Bắc thành
có 11 trấn, Gia Định thành có 5 trấn, miền Trung có 7 trấn còn Kinh kỳ thì thống quản 4 dinh. Bắc
Thành và Gia Định thành có Tổng trấn và Hiệp, Phó Tổng trấn đứng đầu. Tổng trấn có toàn
quyền giải quyết mọi việc thay vua.
Nhưng khi vua Minh Mạng lên thay, có chủ trương tập quyền bên bãi bỏ chức tổng trấn,đổi trấn
thành tỉnh và đặt ra các chức vụ để điều hành các tỉnh ấy. Tổng đốc phụ trách việc quân sự và


dân sự trong hạt, Tuần phủ phụ trách việc chính trị, giáo dục và phong tục, Bố chính sứ phụ trách
việc thuế, án sát sứ coi việc hình và trạm dịch, Lãnh binh coi việc binh lính.
Nhìn chung, hệ thống chính quyền nhà Nguyễn là một hệ thống quân chủ tập trung, nhất là dưới
thời vua Minh Mạng. Nhà vua trực tiếp giải quyết mọi việc, mọi tờ sớ đưa lên đều được vay duyệt
và phê vào quyết định của mình.
3. Pháp luật
Vua Gia Long sai các quan dựa vào bộ luật Hồng Đức cùng bộ luật của nhà Thanh để soạn lại
một bộ luật mới cho Việt Nam. Quan đại thần Nguyễn Văn Thành được giao nhiệm vụ làm tổng
tài việc biên soạn. Công việc được bắt đầu vào năm 1811 và đến năm 1815 là hoàn thành, cả
thảy 22 quyển gồm 398 điều. Bộ luật này có tên là "Hoàng triều luật lệ" và vẫn thường được gọi là
bộ luật Gia Long.
So với luật Hồng Đức thì luật Gia Long khắt khe hơn, quyền lợi của phụ nữ không được coi trọng,
phạm vi trừng trị bị mở rộng cho đến với cả bà con thân thuật của phạm nhân. Các hình phạt dã
man như lăng trì (xẻo thịt cho chết dần), trảm khiêu (chém bêu đầu), phanh thây... được duy trì.
4. Việc bang giao
* Với Trung Quốc
Sau khi lên ngôi, theo đường lối ngoại giao của các triều trước đối với Trung Quốc, Gia Long phái
sứ bộ sang nhà Thanh. Có hai sứ bộ được phái đi. Một do Trịnh Hoài Đức làm chánh sứ đem nộp
sắc ấn của nhà Thanh đã ban cho nhà Tây Sơn trước đây cùng áp tải một số giặc biển người
Trung Quốc sang trao cho Tổng đốc Quảng Đông để Thanh triều giải quyết. Sứ bộ kia do Lê
Quang Định làm chánh sứ có nhiệm vụ sang cầu phong cho vua Gia Long cùng việc đổi quốc
hiệu lại là Nam Việt.
Cả hai đoàn sứ bộ đều được vời đến Kinh Đô yết kiến Hoàng đế Thanh triều và được tiếp đãi
niềm nở. Đến đầu năm 1804 nhà Thanh sai sứ sang phong vua làm An Nam Quốc vương và
nhận đổi quốc hiệu là Việt Nam chứ không phải Nam Việt. Từ đấy cứ bốn năm một lần, Việt Nam
cử phái bộ mang phẩm vật sang biếu tặng nhà Thanh. Đồng thời nhà Thanh cũng gởi tặng phẩm
lại cho vua Nguyễn. Lề lối ngoại giao này được duy trì cho đến thời kỳ thuộc địa.
* Với Xiêm
Có lẽ trong lịch sử bang giao Việt - Xiêm không có lúc nào thắm thiết bằng thời gian đầu đời vua
Nguyễn. Do đã từng được Xiêm giúp đỡ trong khi còn bôn ba, vua Gia Long có chính sách hết

sức thuận thảo với Xiêm. Ngay cả trong thời gian còn đối đầu với nhà Tây Sơn, dù rời đất Xiêm
không có sự thỏa thuận của vua Xiêm, Nguyễn ánh vẫn xem Xiêm là một đồng minh hữu ích.
Nguyễn ánh vẫn nhờ vậy Xiêm khi cần và sẵn sàng giúp đỡ Xiêm chống lại Miến Điện hoặc cung
cấp gạo thóc khi Xiêm gặp nạn đói. Những lần thắng các trận theo chốt như trận đánh lấy Qui
nhơn năm 1799, trận phá được thủy binh Tây Sơn tại Thị Nại năm 1801 Nguyễn ánh đều thông
báo cho vua Xiêm biết. Đáp lại vua Xiêm tặng Nguyễn ánh những thứ cần thiết cho chiến tranh
như voi đực, thóc.
Sau khi lên ngôi, vua Gia Long vẫn giữ chính sách hòa hiếu ấy với Xiêm dù cả hai bên đều nuôi
tham vọng tạo ảnh hưởng trên đất Chân Lạp. Mâu thuẫn chỉ xuất hiện vào năm 1811 khi quân
Xiêm chiếm đóng Battambang và vua Chân Lạp phải chạy sang cầu cứu nhà Nguyễn. Nhiều trận
đụng độ giữa quân Nguyễn và quân Xiêm xảy ra trên đất Chân Lạp. Cuối cùng quân Nguyễn xây
thành Nam Vang và Thoại Ngọc Hỗu đem quân đóng giữ, bảo hộ đất Chân Lạp. Năm 1835, nhà
Nguyễn đổi tên nước Chân Lạp thành Trấn Tây Thành, chia là 32 phủ và 2 huyện. Nhưng không
bao lâu, gặp sự chống cự của dân chúng Chân Lạp, vua Thiệu Trị phải cho quân rút về (1841).
Nhưng đến năm 1845, Chân Lạp xung đột cùng Xiêm, lại nhờ nhà Nguyễn can thiệp. Vừ đó Chân
Lạp lại thần phục nhà Nguyễn.
* Với các nước châu Âu.
Nước Anh và Pháp đều có cử phái bộ đến đặt quan hệ, xin mở cảng buôn bán. Tất cả đều được
nhà Nguyễn tiếp đón niềm nở nhưng không đưa ra những cam kết nào. Riêng đối với Pháp thì
việc quan hệ có phần đặc biệt. Vua Gia Long vẫn ưu đải các người Pháp đã từng theo giúp nhà
vua trong cuộc chiến chống Tây Sơn. Đến thời vua Minh mạng, sau khi hai người Pháp cuối cùng
trong triều Việt nam trở về nước thì quan hệ giữa nhà Nguyễn và chính phủ Pháp chấm dứt.
Nước Pháp gởi đặ sứ đến chính thức đặt quan hệ ngoại giao với vua Minh mạng nhưng bị khước
từ. Chỉ đến khi thấy các cường quốc xâu xé Trung Hoa, nhà vua mới gởi phái bộ đi đặt quan hệ,
nhưng việc chưa thành thì nhà vua từ trần.
Dưới thời vua Thiệu Trị và vua Tự Đức, các cường quốc châu Âu bành trướng thuộc địa đến
vùng châu á. Năm 1847 Chính phủ Pháo gửi tối hậu thư đến vua Thiệu Trị đòi huỷ bỏ các chỉ dụ
cấm đạo. Từ đó quan hệ Việt - Pháp căng thẳng cho đến khi Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam
vào năm 1858.
II. Phát triển kinh tế - xã hội

Cũng như các vương triều phong kiến khác của Việt Nam, nhà Nguyễn chú trọng đến nông
nghiệp. Đặc điểm nông nghiệp nổi bật của nhà Nguyễn là công cuộc khai hoang. Nguyễn ánh đã
tiến hành công cuộc này tại đồng bằng sông Cửu Long ngay cả trong thời kỳ chống Tây Sơn. Sau
khi lên ngôi, ông triển khai việc khai hoang trên quy mô cả nước. Công việc này được tiếp tục tích
cực dưới triều các vua Minh Mạng, Thiệu Trị.
Có hai hình thức chính trong việc khai hoang. Đó là doanh điền và đồn điền.
* Doanh điền là một hình thức khai hoang lập ấp. Nhà nước cho người có tiền của đứng ra mộ
người đi khai hoang. Đất khai hoang được miễn thuế cho đến ba hoặc năm năm, có khi đến 10
năm. Dân đi khai hoang được Nhà nước cấp tiền làm nhà, trâu cày và điền khí. Người tiên phong
thực hiện hình thức khai hoang này là Nguyễn Công Trứ và sau đó là Trương Minh Giảng.
* Đồn điền: Hình thức này đã được Nguyễn ánh áp dụng từ sau khi lấy lại Gia Định. Trong hình
thức này, người trực tiếp khai hoang không phải là nông dân mà là binh lính hay tù phạm. Binh
lính được chia ra phiên, phiên này tập luyện thì phiên kia làm ruộng. Hoa lợi có được thì lính
được hưởng. Sau khi đất biến thành ruộng thì mới phải đóng thuế. Tù nhân cũng được đi khai
hoang và có thể trở thành lính đồn điền, khi mãn hạn được chia đất để sinh sống.
Công cuộc khai hoang dưới triều Nguyễn đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhất là tại đồng
bằng sông Cửu Long. Diện tích canh tác tăng lên đáng kể, cảnh quan hoang vắng của đồng bằng
đã chuyển thành một vùng cư dân sầm uất.
Bên cạnh việc khai hoang lập ấp, một công cuộc khác cũng không kém quan trọng là việc đào
kênh, vạch hệ thống dẫn nước vào các đồng ruộng đồng thời tạo những con đường thủy thuận
tiện cho việc di chuyển, buôn bán tại đồng bằng sông Cửu long. Trong hệ thống chằng chịt các
kênh rạch đào bằng tay ấy, ta có thể kể các con kênh có tầm vóc như sau:
* Kênh Đông Xuyên - Kiên Giang đào năm 1818, đây là con kênh dài đầu tiên được thực hiện
dười triều Nguyễn, do Thoại Ngọc Hỗu phụ trách. Nguyên đây là một con lạch cạn, quanh năm
bùn cỏ đọng lấp. Kênh được đào theo lạch nước cũ trong vòng một tháng thì hoàng thành. Để
nêu công Thoại Ngọc Hỗu, vua Gia Long lấy tên của ông đặt cho con kênh mới mà sách sử vẫn
gọi là ông Thụy Hà
* Kênh Vĩnh Tế được khởi công vào năm 1819, dài 100km nối Châu Đốc và Hà Tiên
* Kênh Phụng Hiệp dài 150km chảy qua Cần Thơ, Rạch Giá và Bạc Liêu, kênh An Thông ở Gia
Định đào năm 1820.

* Đào vét và nới rộng ra một số con kênh đã hình thành từ thế kỷ trước như kênh Bảo Định ở Mỹ
Tho (1819), kênh Ruột Ngựa ở Chợ lớn.
Qua sự cải tạo mạnh mẽ của nhà Nguyễn, đồng bằng sông Cửu Long đã trở thành vựa lúa của
Việt Nam. Ta có thể nói, lịch sử triều Nguyễn gắn liền với công cuộc khai hoang, cải tạo đất.
2. Các hoạt động khác
Tiếp tục bước đường của thời trước, thủ công nghiệp dưới thời nhà Nguyễn sản xuất mạnh các
mặt hàng dệt, làm đường ăn, đóng tàu. Đặc biệt ngành đóng tàu đã được phát triển mạnh mẽ vào
cuối thế kỷ XVII, nay vẫn được các vua Nguyễn lưu ý duy trì, Một số thuyền được đóng theo kiểu
Tây Phương mà Nguyễn ánh đã thâu lượm được phương cách trong thời chống Tây Sơn. Ông
mua một chiếc thuyền châu Âu rổi cho tháo rời từng mảnh. Thợ thuyền sẽ chế tạo theo từng
mảnh ấy rồi đóng lại. Sau này, dưới thời Gia Long, có rất nhiều xưởng đóng tàu, đặc biệt xưởng
Chu Sư nằm dọc bờ sông Tân Bình (Gia Định), dài đến ba dặm.
Việc khai mỏ cũng được nhà Nguyễn quan tâm. Đó là các loại mỏ vàng, mỏ sắt, mỏ bạc, đồng,
diêm tiêu, kẽm... Nhà nước quản lý khai thác một số, ngoài ra cho tư nhân lĩnh trưng miễn là có
vốn và đóng thuế đầy đủ.
Tiếp theo truyền thống của các thế kỷ trước, các cảng biển Việt Nam vẫn được các thuyền buôn
nước ngoài đến buôn bán, trao đổi nhưng lưu lượng hàng hóa không còn phong phú như trước.
Thuyền buôn phương Tây cũng thế, thỉnh thoảng đến mua các thổ sản nhưng không thể lập
thương điếm như những thế kỷ trước nữa. Nhà Nguyễn cũng có phái một số thuyền đi mua hàng
nước ngoài, tuy nhiên, đó chỉ là những chuyến đi lẻ tẻ, không đóng góp gì đáng kể cho nền kinh
tế của đất nước.
III. Các vấn đề tư tưởng - văn hóa
Nho giáo
Cũng giống như triều Lê, các vua Nguyễn lấy Nho giáo làm khuôn vàng thước ngọc cho việc cai
trị và giáo dục. Tư tưởng chính thống được hàm chứa trong Ngũ kinh: Dịch, Lễ, Thi, Thư, Xuân
Thu và sau đó là Tứ thư: Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học và Trung dung
Tư tưởng Khổng giám còn được vua Minh Mạng đem áp dụng cho dân gian qua "mười điều huấn
dụ". Trong đó đề cao những nguyên tắc của Nho giáo như tam cương ngũ thường cùng khuyên
dân chúng sống tiết kiệm, giữ gìn phong tục, làm điều lành... Huấn dụ này được chuyển đến các
làng xã địa phương để từ đấy truyền bá trong dân chúng.

Vua Gia Long cho lập văn miếu tại các trấn để thờ Khổng Tử, lập Quốc Tử giám ở Kinh đô để dạy
cho các con quan và sĩ tử. Nhà vua cho mở các khoa thi để chọn người tài ra làm quan. Tất cả
mọi thần dân đều được tham dự các cuộc thi. Khoa thi hương đầu tiên được tổ chức ở Bắc
Thành vào năm 1807. Đến đời Minh Mạnh thì khoa thi hội được tổ chức, cứ ba năm một lần.
Chương trình học nặng nề tư tưởng Nho giáo, văn chương thơ phú được đề cao mà những vấn
đề thực tế ích quốc lợi dân thì không được đề cập.
Phật giáo
Các vua của triều Nguyễn tôn trọng đạo Phật. Năm 1815, vua Gia Long cho tu bổ lại chùa Thiên
Mụ. Năm 1826 vua Minh Mạng cho dựng lại chùa Thành Duyên. Chùa này ở cửa biển Tư Hiền
(Thừa Thiên), được lập nên dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu và bị phá hủy trong thời kỳ chiến
tranh. Năm 1830, vua Minh Mạng triệu tập các cao tăng về kinh đô để kiểm tra đạo học. Nhà vua
cùng bộ Lễ chọn được 53 vị chân tu rồi cấp cho họ giới đao và độ điệp. Năm 1844, vua Thiệu Trị,
theo di chúc của vua Minh Mạng cho dựng một ngôi tháp cao bảy tầng ở chùa Thiên Mụ, đặt tên
là Từ Nhân Tháp (sau này đổi thành Phước Duyên Bảo Tháp). Cũng trong năm ấy ngôi chùa
Diệu Đế nổi tiếng ở Huế được dựng lên. Vua Tự Đức cũng quan tâm đến đạo Phật. Các chùa
công như chùa Thiên Mụ, Giác Hoàng đều có cao tăng trụ trì, được gọi là tăng cương. Vị này có
lương bổng của triều đình và có nhiệm vụ dạy cho tăng chúng việc tu học. Nhà vua còn ban
ruộng đất cho các chùa lớn để cày cấy tăng gia.
Ngoài ra, các vua triều Nguyễn cũng chú ý tu bổ lại các lăng tẩm đền đài xưa như đền Hùng
Vương ở Vĩnh Phú, đền thờ An Dương Vương ở Cổ Loa, Lăng và miếu thờ vua Đinh Tiên Hoàng
ở Ninh Bình...
Đạo Thiên Chúa
Đạo Thiên Chúa dưới thời Nguyễn bị hạn chế nặng nề. Vua Gia Long không đàn áp tôn giáo này,
nhưng các vua sau thì cấm đạp cương quyết. Thừa sai và tín độ bị giết không ít. Hải quân Pháp

×