Tải bản đầy đủ (.docx) (281 trang)

Mối quan hệ giữa giá trị và hành vi ủng hộ xã hội của thanh niên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.21 MB, 281 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----



-----

NGUYỄN TUẤN ANH

MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ TRỊ VÀ
HÀNH VI ỦNG HỘ XÃ HỘI CỦA
THANH NIÊN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI – 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----



-----

NGUYỄN TUẤN ANH

MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ TRỊ VÀ HÀNH VI
ỦNG HỘ XÃ HỘI CỦA THANH NIÊN


CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC
MÃ SỐ: 62 31 04 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Trƣơng Thị Khánh Hà

Chủ tịch Hội đồng

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

GS.TS. Nguyễn Hữu Thụ

PGS.TS. Trương Thị Khánh Hà

HÀ NỘI – 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án Tiến sĩ Tâm lý học mang tên ―Mối quan hệ giữa
giá trị và hành vi ủng hộ xã hội của thanh niên‖ là công trình do chính tôi nghiên
cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Trương Thị Khánh Hà.
Các thông tin, số liệu được sử dụng trong Luận án là trung thực, chính xác,
và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các thông tin, số liệu
trích dẫn trong Luận án đã được chú thích nguồn gốc. Nếu có gì sai sót tôi xin chịu
hoàn toàn trách nhiệm trước cơ sở đào tạo.
Hà Nội, ngày 28 tháng 12 năm 2018
Tác giả luận án


Nguyễn Tuấn Anh


LỜI CẢM ƠN
Sau ba năm học tập, nghiên cứu nghiêm túc, ngày hôm nay, Luận án Tiến sĩ
Tâm lý học mang tên ―Mối quan hệ giữa giá trị và hành vi UHXH của thanh niên‖
của tôi đã được hoàn thành. Luận án này là kết quả của những nỗ lực, cố gắng của
bản thân tôi cùng với sự hỗ trợ, giúp đỡ, động viên của rất nhiều người, từ thầy cô,
bạn bè, đồng nghiệp đến những người thân trong gia đình.
Trước hết, tôi xin bày tỏ sự trân trọng, biết ơn và yêu quý đến PGS.TS.
Trương Thị Khánh Hà – một người hướng dẫn khoa học nghiêm khắc, tận tâm, gần
gũi và luôn chia sẻ, động viên tôi những khi tôi gặp khó khăn, cũng như luôn kịp
thời hỗ trợ, tạo điều kiện, tạo động lực để tôi có thể thực hiện và hoàn thành Luận
án đúng hướng, đảm bảo tiến độ và với chất lượng cao nhất.
Tiếp theo, tôi cũng gửi lời cảm ơn đến các thầy cô, anh chị đang công tác tại
Khoa Tâm lý học (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội) và Viện Tâm lý học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đã luôn tận
tình góp ý, chia sẻ về kinh nghiệm, kiến thức nghiên cứu của mình để tôi có thêm
nhiều hiểu biết về lĩnh vực đang nghiên cứu.
Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc Học viện Thanh
thiếu niên Việt Nam, lãnh đạo Viện Nghiên cứu Thanh niên vì đã luôn tạo điều kiện
về thời gian, tạo cơ hội cho tôi được tham gia và đảm nhiệm các đề tài nghiên cứu
khoa học để tôi có thêm nhiều điều kiện cũng như kinh nghiệm hữu ích phục vụ
không chỉ cho quá trình thực hiện luận án mà còn mở ra tiền đề để tôi tiếp tục đi
theo con đường nghiên cứu chuyên nghiệp.
Ngoài ra, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị, bạn bè, đồng nghiệp,
các em học sinh, sinh viên đã dành thời gian hỗ trợ tôi trong việc thu thập số liệu,
điều tra khảo sát tại thực địa.
Sau cùng, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất đến gia
đình, đồng nghiệp – những người thân thương và gần gũi nhất của tôi đã luôn bên

cạnh khuyến khích, động viên, hỗ trợ về mặt vật chất, tình cảm để tôi có thể hoàn
thành Luận án này.
Hà Nội, ngày 28 tháng 12 năm 2018
Tác giả luận án

Nguyễn Tuấn Anh


1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8
9.
10.
Chƣơng 1.

1.1.
1.2
Chƣơng 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ
2.1.
2.2.
2.3.
2.4.
2.5.

1



2.6.
Chƣơng 3.
3.1.
3.2.
3.3.
Chƣơng 4

4.1.
4.2.
4.3

2


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
UHXH

UHXH

BĐT

Biến điều tiết

BĐL

Biến độc lập

BTG


Biến trung gian

ĐLC

Độ lệch chuẩn

ĐTB

Điểm trung bình

3


Tên bảng
1.1.

Nội dung

3.1.

Cơ cấu m

3.2.

Độ tin cậ

3.3.

Độ tin cậ


4.1.

Hệ giá tr

4..2

Tầm qua

4.3.

Mức độ

4.4.

Hành vi

4.5.

Hành vi

4.6.

Hành vi

4.7.

Quan niệ

4.8.


Hành vi

4.9.

Hành vi

4.10

Tương q

đổi” và h
4.11.

Tương q

hành vi U
4.12.

Tương q

UHXH c
4.13.

Tương q

bản thân
4.14.

Tương q


thái và h
4.15.

Mô hình

nhóm giá
4.16.

Mô hình

nhóm giá

4


Tên bảng
4.17

Mô hình

nhóm giá
4.18.

Mô hình

nhóm giá
4.19.

Mô hình


bốn đại g
4.20.

Ảnh hưở

hệ giữa g
4.21

Ảnh hưở
đến mối
niên

4.22

Ảnh hưở
quan hệ

4.23.

Ảnh hưở

mối quan
4.24.

Ảnh hưở

hành vi U
4.25.


So sánh

thanh niê
4.26.

Ảnh hưở

gia của b
4.27.

Ảnh hưở

gia của b
4.28.

Ảnh hưở

gia của b
4.29.

Ảnh hưở

của biến
4.30.

Ảnh hưở

5



Tên bảng

của biến
4.31.

Ảnh hưở

của biến
4.32

Ảnh hưở

của biến
4.33

Tổng hợ

gia vào m
4.34
4.35.

Hê ̣gia tr
́
Mưc đô
́
lý thứ nh

4.36.

Hê ̣gia tr


4.37.

Mưc đô
́
lý thứ ha

́

6


DA
Tên
Hình 1.1.

Cấu trúc g

Hình 2.1.

Khung lý t

UHXH của
Biểu 4.1.

Hệ giá trị c

Hình 4.1.

Tương qua


thanh niên

7


MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giá trị là một trong những khái niệm trung tâm của nhiều ngành khoa học xã
hội, từ triết học, tâm lý học, xã hội học đến nhân học, văn hóa học, thậm chí kinh tế
học… Giá trị mang đến những quy tắc cơ bản điều chỉnh tương tác giữa con người
với nhau, chúng chỉ ra điều gì tốt và điều gì xấu, điều gì đáng mong đợi và không
đáng mong đợi. Các giá trị được coi là rất quan trọng trong việc hiểu và giải thích
hiện tượng tâm lý xã hội khác nhau, trong đó có hành vi của con người [xem
Schwartz & Bardi, 2001]. Giải thích hành vi xã hội của con người là mục tiêu chung
của Tâm lý học, song điều này là không đơn giản bởi vì hành vi của con người vẫn
còn nhiều điều chưa được lý giải và chưa thể lý giải, nhất là khi xem xét hành vi của
con người trong mối quan hệ với giá trị.
Trong suốt hơn một thế kỷ nghiên cứu về giá trị, có một sự thiếu vắng cũng
như thiếu thống nhất về một nội dung cơ bản và cấu trúc quan hệ của các giá trị
cũng như các phương pháp thực nghiệm đáng tin cậy để đo lường chúng [Hitlin &
Piliavin, 2004; Rohan, 2000, dâñ theo Schwartz , 2012]. Tuy nhiên, trong vài thập
kỷ trở lại đây, thế giới chứng kiến một sự hồi sinh mạnh mẽ trong các nghiên cứu về
giá trị [Hitlin & Piliavin, 2004, dâñ theo Schwartz , 2012]. Một trong những tác giả
có ảnh hưởng nhất trong lĩnh vực nghiên cứu này là Schwartz với việc đề xuất Lý
thuyết Giá trị cơ bản của con người mà gần đây, ông và cộng sự đã phát triển thành
19 giá trị. Lý thuyết này nói đến các giá trị cơ bản mà các cá nhân trong hầu hết các
nền văn hóa đều công nhận. Chính công cụ này cũng đã được sử dụng phổ biến
trong việc tìm kiếm và chứng minh mối quan hệ giữa giá trị và hành vi, trong đó có
hành vi UHXH.

Hành vi UHXH là một khía cạnh rất quan trọng của xã hội hiện đại. Hành vi
UHXH là rất cần thiết và quan trọng trong cuộc sống của con người. Hành vi giúp
đỡ, đoàn kết, hợp tác đã được ghi nhận ngay từ những giai đoạn đầu của lịch sử và
nền văn hóa (trong đấu tranh sinh tồn, trong bảo vệ bộ tộc, bộ lạc,…) [Levine &

8


Levine, 1992]. Cho đến tận ngày nay, hành vi UHXH vẫn bắt buộc phải duy trì để
đảm bảo sự sống còn của xã hội và loài người. Hành vi UHXH hiểu một cách đơn
giản là hành vi mang đến lợi ích cho người khác. Đây là những hành vi tích cực
trong xã hội và được khuyến khích thực hiện. Nghiên cứu về hành vi UHXH đã
được thực hiện nhiều trên thế giới song tại Việt Nam thì khái niệm này còn khá mới
và lịch sử nghiên cứu còn khá non trẻ nên mở ra nhiều triển vọng. Tuy vậy, dù
không dùng cụ thể thuật ngữ “hành vi UHXH” nhưng hành vi này đã được nhắc đến
nhiều, thậm chí đã đi vào lịch sử nước nhà như hành vi giúp đỡ, từ thiện, bảo vệ môi
trường, tuân thủ pháp luật...
Rất nhiều nghiên cứu đã nỗ lực tìm hiểu mối quan hệ phức tạp và không dễ
giải thích giữa giá trị và hành vi nói chung cũng như hành vi UHXH nói riêng. Một
số tác giả cho rằng, giá trị là động lực chính thúc đẩy, là yếu tố dẫn dắt, định hướng
cho hành vi [Rokeach, 1973; Schwartz, 1992, 2012]. Một số khác thì lại nói, mức
độ dẫn dắt hành vi của giá trị là không nhiều và điều này không diễn ra ở tất cả mọi
người [Kristiansen & Hotte, 1996; McClelland, 1985]. Trên thực tế, nhiều nghiên
cứu thực nghiệm đã khẳng định được giữa giá trị và hành vi là tồn tại một mối quan
hệ, trong đó, có hướng nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa giá trị và hành vi nói
chung, có hướng lại tìm hiểu mối quan hệ giữa giá trị và một hay nhiều loại hành vi
xã hội cụ thể. Song, càng nhiều nghiên cứu được tiến hành thì càng nhiều vấn đề
nảy sinh tranh cãi, chẳng hạn: Loại giá trị nào liên quan đến hành vi nào? Tất cả các
giá trị hay chỉ có một số giá trị nhất định mới liên quan đến hành vi liên quan đến
hành vi? Và liệu mối quan hệ này có điểm giống hay khác nhau khi nghiên cứu

cùng một vấn đề nhưng trên các khách thể khác nhau và trong các bối cảnh văn hóa
khác nhau hay không?
Bằng kinh nghiệm quan sát thực tế chúng tôi nhận thấy rằng, nhiều người
hành động không như những giá trị mà họ theo đuổi. Nói cách khác, có một sự sai
lệch giữa những giá trị mà con người theo đuổi với hành vi họ thực hiện hàng ngày.
Có thể có những người dù coi trọng giá trị lòng nhân ái nhưng lại không dễ dàng
giúp đỡ người khác gặp tai nạn vào bệnh viện; hoặc có những người dù coi trọng

9


giá trị tuân thủ nhưng sẵn sàng vượt đèn đỏ khi không có cảnh sát giao thông… Rõ
ràng, đằng sau việc thực hiện những hành vi ấy có thể có một điều gì bí mật mà
chúng ta cần phải khám phá.
Với mong muốn trên cơ sở làm sáng tỏ mối quan hệ giữa giá trị và hành vi
UHXH của thanh niên trong bối cảnh Việt Nam – nhóm xã hội với nhiều đặc điểm
tâm lý xã hội chưa ổn định và vô cùng dễ chịu tác động từ các yếu tố từ môi trường
xã hội, cũng như tìm hiểu những giá trị nào đang giữ vai trò thúc đẩy, là động lực
cho các hành vi có ích, có lợi với người khác và cho xã hội trong thanh niên, chúng
tôi hy vọng những kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ kịp thời góp phần vào việc
xây dựng, bổ sung nền tảng cơ sở khoa học cho công tác định hướng, giáo dục giá
trị cho thanh niên, giúp cho thanh niên trở thành người tử tế, hoàn thiện nhân cách
và đóng góp ngày càng tích cực hơn cho cộng đồng.
Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Mối quan hệ giữa giá trị
và hành vi ủng hộ xã hội của thanh niên” là vấn đề nghiên cứu của Luận án.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu của Luận án hướng đến mục đích nghiên cứu lý luận và thực
trạng hệ giá trị, hành vi UHXH và mối quan hệ giữa giá trị và hành vi UHXH của
thanh niên trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, từ đó kiểm chứng các kết luận đã có
trước đây về mối quan hệ giữa hai biến số này; trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị

nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục giá trị và thúc đẩy các hành vi tích cực
trong thanh niên.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Tổng quan các nghiên cứu về giá trị, hành vi UHXH và mối quan hệ
giữa giá trị và hành vi UHXH của thanh niên.
3.2. Xây dựng cơ sở lý luận về giá trị, hành vi UHXH và mối quan hệ giữa
hê ̣giá trị và hành vi UHXH của thanh niên.
3.3. Đánh giá và chỉ ra thực trạng mối quan hệ giữa giá trị và hành vi
UHXH của thanh niên.

10


3.4. Đề xuất một số kiến nghị nhằm định hướng giáo dục giá trị và đẩy
mạnh việc thực hiện hành vi UHXH trong thanh niên.
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là: Mối quan hệ giữa giá trị và hành vi
UHXH của thanh niên (trong đó bao gồm: sự tương quan giữa giá trị thanh niên coi
là quan trọng và hành vi UHXH; mối quan hệ ảnh hưởng của giá trị đến hành vi
UHXH của thanh niên một cách trực tiếp và gián tiếp thông qua các biến số trung
gian và điều tiết).
4.2. Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện với sự tham gia của 443 thanh niên tuổi từ 16 đến 35
hiện đang sinh sống, học tập và làm việc tại thành phố Hà Nội. Trong đó, chúng tôi
chọn ra 12 thanh niên tham gia phỏng vấn sâu và 02 thanh niên để phân tích chân
dung tâm lý điển hình.
5. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
5.1. Câu hỏi nghiên cứu
5.1.1. Những giá trị (hay nhóm giá trị) nào đang có tương quan với hành vi

UHXH của thanh niên hiện nay?
5.1.2. Những giá trị (hay nhóm giá trị) nào đang thúc đẩy hoặc cản trở hành
vi UHXH của thanh niên?

5.1.3. Mối quan hệ ảnh hưởng của giá trị đến hành vi UHXH của thanh niên
có chịu tác động của một yếu tố nào khác không?
5.2. Giả thuyết khoa học
5.2.1. Những giá trị trong nhóm giá trị Tính ưu việt của bản thân và Cởi mở
để thay đổi có tương quan mạnh nhất với hành vi UHXH của thanh niên.
5.2.2. Sự ảnh hưởng của các giá trị Sự quan tâm, chăm sóc; Công bằng,
bình đẳng; Truyền thống và Khoan dung đến hành vi UHXH là mạnh mẽ nhất.
5.2.3. Một số yếu tố nhân khẩu học (như: Giới tính; khu vực sinh sống; độ
tuổi; nghề nghiệp; tôn giáo) và một số yếu tố tâm lý cá nhân (như: sự đồng cảm;

11


thái độ giúp đỡ người khác; cái Tôi hiệu quả; khả năng tự kiểm soát) có thể tác
động và điều tiết mối quan hệ giữa giá trị và hành vi UHXH của thanh niên.
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
6.1. Về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Hà Nội.
6.2. Về nội dung nghiên cứu:
Tìm hiểu mối quan hệ giữa giá trị và hành vi UHXH của thanh niên là một
vấn đề khó và phức tạp, do vậy, luận án chỉ tập trung nghiên cứu những khía cạnh
sau đây:
- Tìm hiểu về những giá trị (theo Lý thuyết của Schwartz) mà thanh niên

coi là quan trọng và có ý nghĩa nhất.
- Đánh giá mức độ thực hiện hành vi UHXH của thanh niên: Hành vi


UHXH tổng hợp và 04 loại hành vi UHXH cụ thể là: Hành vi giúp đỡ người khác;
hành vi từ thiện; hành vi bảo vệ môi trường và hành vi tuân thủ luật pháp.
- Tìm hiểu mối quan hệ tương quan giữa các giá trị, nhóm giá trị với hành
vi UHXH tổng hợp cũng như với các từng nhóm hành vi cụ thể.
- Tìm hiểu mối quan hệ ảnh hưởng trực tiếp của giá trị đến hành vi UHXH.
- Tìm hiểu mối quan hệ ảnh hưởng gián tiếp của giá trị đến hành vi UHXH

thông qua một số biến số trung gian và biến số điều tiết.
Mối quan hệ giữa giá trị và hành vi UHXH là một mối quan hệ hai chiều.
Tuy nhiên, trong phạm vi của Luận án, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu chiều ảnh
hưởng của giá trị đến hành vi UHXH mà tạm thời không xem xét, đánh giá chiều
tác động ngược trở lại của hành vi UHXH với giá trị. Việc tìm hiểu các yếu tố/biến
số tham gia vào mối quan hệ giữa giá trị và hành vi UHXH cũng rất khó khăn, do
đó, luận án chỉ tập trung tìm hiểu một số yếu tố về mặt cá nhân theo các tiêu chí:
giới tính; khu vực sinh sống; độ tuổi; tôn giáo; đối tượng khách thể; tôn giáo; sự
đồng cảm, thái độ UHXH, cái Tôi hiệu quả và khả năng tự kiểm soát.

12


7. PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phương pháp luận nghiên cứu
7.1.1. Nguyên tắc duy vật biện chứng
Nguyên tắc này nhấn mạnh vai trò quyết định của các điều kiện vật chất,
thực tiễn đối với việc hình thành các giá trị và hành vi UHXH của thanh niên. Giá
trị mà thanh niên coi trọng và hành vi UHXH của thanh niên nảy sinh trên cơ sở của
các điều kiện sống của cá nhân, điều kiện hoạt động của thanh niên trong nhóm và
tập thể cộng đồng. Việc lý giải về sự khác nhau trong lựa chọn giá trị và thực hiện
hành vi UHXH của thanh niên cũng như mối quan hệ giữa giá trị và hành vi UHXH

phải được lý giải xuất phát từ đời sống xã hội, từ môi trường thanh niên hoạt động
trong đó. Như vậy, nguyên tắc này chỉ ra cách thức tiếp cận, lý giải và đánh giá mối
quan hệ giữa giá trị và hành vi UHXH của thanh niên một cách đầy đủ và toàn diện.
7.1.2. Nguyên tắc khách quan
Nguyên tắc này đòi hỏi khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá trị và hành
vi UHXH của thanh niên phải được phản ánh một cách trung thực. Các dữ liệu thu

được không được bóp méo, hoặc bị làm sai lệch. Khi lý giải về mối quan hệ giữa giá
trị và hành vi UHXH không được áp đặt chủ quan. Để thực hiện được điều đó, luận
án sẽ lựa chọn, sử dụng các phương pháp, công cụ thu thập dữ liệu phù hợp, cho độ
tin cậy và chính xác cao. Bên cạnh đó, bản thân tác giả cũng sẽ có thái độ trung
thực, khoa học trong khi thu thập và xử lý dữ liệu. Nguyên tắc khách quan làm tăng
giá trị của các kết quả nghiên cứu và giúp các nghiên cứu ngày càng tiến gần hơn
đến bản chất của giá trị với vai trò thúc đẩy, định hướng, dẫn dắt, dự báo hành vi
UHXH.
7.1.3. Nguyên tắc hoạt động – giá trị - nhân cách
Nguyên tắc này được đề ra trên cơ sở coi mối quan hệ giữa giá trị và hành vi
UHXH là sự phản ánh một phần điều kiện xã hội của nhóm, của cộng đồng mà
thanh niên sống, hoạt động trong đó. Đó đồng thời cũng là sản phẩm của hoạt động
và học tập xã hội. Để chỉ ra tìm hiểu rõ hơn sự tồn tại của mối quan hệ này, tác giả

13


phải tìm hiểu các hiện tượng tâm lý xã hội khác cũng như các yếu tố có liên quan để
lý giải sâu sắc hơn mối quan hệ này.
7.1.4. Nguyên tắc phát triển
Nguyên tắc này nhấn mạnh đến việc tiếp cận, nghiên cứu mối quan hệ giữa
giá trị và hành vi ủng hộ của thanh niên cần phải được đặt trong sự vận động, biến
đổi và phát triển. Theo quan điểm biện chứng, cũng như các sự vật hiện tượng nói

chung, mối quan hệ giữa giá trị và hành vi UHXH của thanh niên cũng luôn vận
động biến đổi theo từng tình huống, hoàn cảnh và giai đoạn lịch sử nhất định.
7.1.5. Nguyên tắc liên ngành
Nguyên tắc này nhấn mạnh đến việc tiếp cận, nghiên cứu về giá trị, hành vi
UHXH và mối quan hệ giữa hai biến số này phải được xem xét và lý giải trên quan
điểm kết hợp kiến thức, lý luận từ nhiều ngành khoa học như: Tâm lý học, Xã hội
học, Văn hóa học, Giáo dục học...
7.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện và giải quyết các mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra,
luận án sử dụng phối hợp những phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu.
- Phương pháp chuyên gia.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.
- Phương pháp phân tích chân dung tâm lý điển hình.

Việc mô tả chi tiết cụ thể về mục đích, cách thức tiến hành, thực hiện các
phương pháp nghiên cứu cụ thể này sẽ được chúng tôi trình bày rõ hơn trong
chương 3.

14


8. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN

8.1. Về mặt khoa học
Thứ nhất, Luận án giúp kiểm chứng tính phổ quát của các giá trị cơ bản trên
nhóm khách thể thanh niên Hà Nội cũng như độ tin cậy của một số lý thuyết về giá
trị và hành vi UHXH.

Thứ hai, trên cơ sở khoa học, Luận án sẽ làm rõ mối quan hệ giữa giá trị và
hành vi UHXH, về sự ảnh hưởng của giá trị đối với hành vi UHXH của thanh niên
thông qua các con đường khác nhau (bằng cơ chế trực tiếp hoặc gián tiếp) như: làm
rõ giá trị (hoặc nhóm giá trị nào) đang thúc đẩy hoặc cản trở hành vi UHXH của
thanh niên.
Thứ ba, ngoài ra, những kết quả nghiên cứu về mặt lý luận của luận án còn
góp phần làm giàu có thêm nguồn tri thức, hiểu biết khi nghiên cứu về giá trị, hành
vi UHXH của thanh niên cũng như về mối quan hệ giữa hai biến số này.

Thứ ba, nghiên cứu này cũng góp phần bổ sung vào một số khoảng trống
nghiên cứu về giá trị, hành vi UHXH của thanh niên cũng như các nghiên cứu về
mối quan hệ giữa hai biến số này. Những vấn đề mà luận án chưa đi sâu nghiên cứu
hoặc chưa giải quyết được có thể sẽ là những gợi ý cho các hướng nghiên cứu tiếp
theo liên quan đến lĩnh vực này.
8.2. Về mặt thực tiễn
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận án đóng góp vào việc nâng
cao hiểu biết, tri thức về quan niệm, nhận thức, hành vi của thanh niên thông qua
mô tả thực trạng những giá trị thanh niên đang coi trọng hiện nay, thực trạng mức
độ thực hiện hành vi UHXH cũng như hiểu hơn về mối quan hệ giữa giá trị và hành
vi UHXH, trong đó, nhấn mạnh đến hiểu biết về nguyên nhân hành vi UHXH về

mặt giá trị.
Thứ hai, Luận án đã chỉ rõ những giá trị (nhóm giá trị) có vai trò thúc đẩy
hoặc cản trở các hành vi UHXH của thanh niên; đồng thời cũng đã xác định được
một số yếu tố nhân khẩu học và yếu tố tâm lý cá nhân ảnh hưởng đến mối quan hệ
này. Do đó, các kết quả này sẽ có những đóng góp nhất định trong thực tiễn, là

15



thông tin tham khảo cho những người quan tâm đến lĩnh vực giá trị và hành vi
UHXH ở thanh niên, cho các nhà giáo dục, các tổ chức thanh niên; là căn cứ khoa
học cho việc xây dựng, đề xuất các nội dung giáo dục giá trị cho thanh niên, nhất là
trong các nội dung giáo dục những giá trị (nhóm giá trị) có tác dụng thúc đẩy hành
vi UHXH, những hành vi tích cực trong thanh niên.

9. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Những đóng góp mới của luận án được thể hiện trên những điểm sau:
Thứ nhất, Luận án đã xây dựng được hệ thống cơ sở lý luận, lý thuyết để
xây dựng bộ công cụ, thu thập dữ liệu thực tiễn để xem xét một cách đa chiều; chỉ ra
được cơ sở khoa học để kết luận rằng tùy từng giá trị hoặc nhóm giá trị mà chúng có
khả năng thúc đẩy hoặc cản trở hành vi UHXH ở thanh niên.
Thứ hai, Luận án cũng góp phần vào việc tiếp tục đánh giá, kiểm chứng một
số lý thuyết về giá trị và hành vi UHXH trong bối cảnh Việt Nam hiện nay. Các kết
quả nghiên cứu của Luận án cho phép đưa ra những kết luận mang tính khoa học về
mối quan hệ giữa giá trị và hành vi UHXH của thanh niên trên nền tảng văn hóa, xã
hội và đặc điểm đặc thù của Việt Nam.
Thứ ba, trong khi các nghiên cứu tại nước ta mới chỉ dừng lại ở việc tìm
hiểu mối quan hệ giữa một (hay nhiều) biến số đến một (hay nhiều) biến số khác mà
rất ít nghiên cứu tìm hiểu sự tác động của các biến số trung gian, biến số điều tiết
đến một mối quan hệ giữa hai biến số nào đó thì nghiên cứu này là một trong số
những nghiên cứu hiếm hoi tại nước ta tính đến thời điểm này đi sâu phân tích mối
quan hệ giữa giá trị và hành vi UHXH ở đối tượng thanh niên theo cả hai cơ chế
trực tiếp và gián tiếp khi có sự tham gia của các yếu tố trung gian và điều tiết khác.
Thứ tư, nghiên cứu này góp phần giúp việc nghiên cứu về giá trị và hành vi
UHXH tại Việt Nam thêm đa dạng và phong phú.
Thứ năm, kết quả nghiên cứu của Luận án có thể làm cơ sở khoa học cho
việc đề xuất những nội dung, chương trình giáo dục giá trị, giáo dục hành vi
UHXH, hành vi tích cực trong thanh niên hiện nay, cải thiện và phòng ngừa những
hành vi tiêu cực, chống đối xã hội trong thanh niên.


16


10. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung chính của luận án
được kết cấu trong 04 chương, cụ thể như sau:
Chương 1. Tổng quan nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá trị và hành vi
UHXH của thanh niên.
Chương 2. Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa giá trị và hành vi UHXH của
thanh niên.
Chương 3. Tổ chức và phương pháp nghiên
cứu Chương 4. Kết quả nghiên cứu thực tiễn.

17


Chƣơng 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ TRỊ
VÀ HÀNH VI ỦNG HỘ XÃ HỘI CỦA THANH NIÊN
Thông qua việc tìm hiểu về tình hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá trị
và hành vi UHXH của thanh niên chúng tôi nhận thấy, vấn đề này mặc dù được các
tác giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu từ lâu song tại Việt Nam, đây vẫn là vấn
đề mới được nhắc đến trong một vài năm trở lại đây. Bên cạnh đó, trong bối cảnh
toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, chúng tôi nhận thấy, việc tổng quan tình hình
nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá trị và hành vi UHXH của thanh niên theo vấn
đề là phù hợp hơn về mặt khoa học khi tổng quan vấn đề theo chiều cạnh trong
nước, ngoài nước. Trên quan điểm như vậy, tình hình nghiên cứu về mối quan hệ
giữa giá trị và hành vi UHXH của thanh niên sẽ được trình bày thông qua một số
nội dung chính dưới đây.
1.1. Những nghiên cứu về giá trị và hành vi ủng hộ xã hội

1.1.1. Những nghiên cứu về giá trị
Giá trị là một trong những đối tượng nghiên cứu khá phổ biến trong nhiều
ngành khoa học song vẫn chưa có một sự đồng thuận chung về bản chất của giá trị.
Moore [1922] khi nghiên cứu về giá trị tập trung làm sáng tỏ khái niệm “giá
trị nội tại”. Ông là người đưa ra khái niệm “Giá trị nội tại” (Intrinsic Value). Theo
ông, giá trị nội tại là những gì có giá trị vì lợi ích của riêng mình. Trong bài viết
―Lý thuyết về Giá trị nội tại‖, ông đã đề cập đến một loạt các khái niệm cơ bản của
khoa học giá trị như: đúng sai, nghĩa vụ - phải làm, tốt – xấu, dễ chịu – khó chịu, và
ông đã chứng minh các giá trị “đúng, sai, tốt, xấu” đều mang tính chủ quan.
Rokeach trong tác phẩm Bản tính các giá trị của con người [1973] đã phân
chia các giá trị trong thang giá trị ra hai loại: các “giá trị công cụ (giá trị phương
tiện)” và các “giá trị mục tiêu (giá trị đích)”. “Giá trị công cụ” là phương tiện, “Giá
trị mục tiêu” là mục đích, mỗi loại gồm 18 giá trị. Rokeach cũng đã nêu bật sự khác
biệt giữa các giá trị và các khái niệm khác như nhu cầu, đặc điểm tính cách, sở
thích, chuẩn mực xã hội và thái độ. Ông đã phát triển một mô hình được gọi là

18


Khảo sát Giá trị Rokeach (RVS) để đánh giá hệ thống giá trị của cá nhân. Giá trị
đích là những giá trị mà chúng ta hướng tới trong cuộc sống. Giá trị công cụ là giá
trị cần có để đạt được giá trị đích.
Inglehart và cộng sự [2004] trong cuốn “Giá trị con người và biến đổi xã hội”
đã trình bày những phát hiện độc đáo về vai trò của giá trị con người. Những phát
hiện này cho thấy sự khác biệt giữa các quốc gia về những gì con người cho là quan
trọng. Cuốn sách trình bày tác động của việc thay đổi giá trị lên các hiện tượng xã
hội.
Hartman [1967] trong công trình quan trọng nhất của mình mang tên ―Cấu
trúc của giá trị: Những cơ sở của giá trị học khoa học‖ cho rằng: Giá trị có ba cấp
độ là: giá trị tổng quát, giá trị khu biệt và giá trị cá biệt. Ông cũng phân biệt ba

chiều kích của giá trị là giá trị hệ thống, giá trị ngoại tại và giá trị nội tại. Ba chiều
kích này tạo thành thang bậc về độ phong phú, trong đó, giá trị nội tại phong phú
hơn về chất so với giá trị ngoại tại, còn giá trị ngoại tại thì phong phú hơn giá trị hệ
thống.
Schwartz trên cơ sở kế thừa lý thuyết giá trị của Rokeach và Inglehart đã đề
xuất Lý thuyết về các giá trị cơ bản của con người. Ông tiến hành nghiên cứu giá trị
tại nhiều quốc gia và xây dựng một danh sách gồm 10 giá trị cơ bản mà theo ông
được công nhận và mang tính phổ quát tại nhiều nền văn hóa gồm: Quyền lực;
Thành đạt; Hưởng thụ; Kích thích, khám phá; Tự định hướng; Giá trị toàn cầu;
Lòng nhân ái; Truyền thống; Sự phù hợp và An toàn [Schwartz, 2012].
Trương Thị Khánh Hà và cộng sự [2015] trong công trình “Giáo dục giá trị
cho trẻ em trong gia đình” đã tìm hiểu hệ giá trị của các bậc cha mẹ và của trẻ em
trong gia đình với việc sử dụng Bảng khảo sát Giá trị của Schwart. Kết quả cho thấy
có sự khác biệt giữa hệ giá trị của cha mẹ và con trong gia đình. Nếu như cha mẹ
coi trọng nhất các giá trị: An toàn, truyền thống, đúng mực thì các con lại đề cao giá
trị toàn cầu, lòng nhân ái và truyền thống.
Cuộc điều tra giá trị châu Âu (EVS) là dự án nghiên cứu toàn diện nhất về
các giá trị của con người ở châu Âu. Đây là một chương trình nghiên cứu khảo sát

19


quy mô lớn, xuyên quốc gia và theo chiều dọc về tính cách người châu Âu tập trung
nghiên cứu về giá trị gia đình, công việc, tôn giáo, chính trị và xã hội. Cuộc khảo sát
cũng cấp những hiểu biết sâu sắc về lý tưởng, niềm tin, sở thích, thái độ và giá trị
của người dân khắp châu Âu. Chương trình được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu hệ
thống giá trị châu Âu (EVSSG) khởi xướng vào cuối những năm 1970 và đã nổi lên
như một phong trào với sự tham gia của mạng lưới rộng lớn các nhà khoa học chính
trị, xã hội. Từ năm 1981 đến năm 2008, có 04 đợt khảo sát đã được tiến hành tại
châu Âu và các nước khác, cụ thể: Đợt 1 (1981 – 1983) thực hiện tại 16 quốc gia;

đợt 2 (1989 - 1993) thực hiện tại 29 quốc gia; đợt 3 (1999 - 2001) thực hiện tại 33
quốc gia; đợt 4 (2008-2010) thực hiện tại 47 quốc gia. Cuộc điều tra khảo sát sự
tương đồng và khác biệt về giá trị cũng như sự thay đổi về giá trị giữa người dân tại
các quốc gia tại châu Âu.
Nếu tính tổng hợp các cuộc điều tra giá trị châu Âu và điều tra giá trị thế giới
thì tính trong giai đoạn 1981 - 2014, cả hai cuộc điều tra đã được tiến hành trên tổng
số 113 quốc gia. Các cuộc điều tra này đều sử dụng một bảng hỏi chung và được
chuyển ngữ sang khoảng 20 thứ tiếng. Những cuộc nghiên cứu giá trị thế giới gần
đây được thực hiện trên một bảng hỏi gồm khoảng 250 câu hỏi. Mỗi bảng hỏi được
cung cấp cho khoảng 1.000 đến 3.500 người, khoảng 1.330 cuộc phỏng vấn được
thực hiện tại mỗi quốc gia. Hiện tại, đã có một lượng người tham gia nghiên cứu đại
diện cho khoảng 85% dân số thế giới đã tham gia vào cuộc khảo sát quy mô toàn
cầu này [Dima, 2009]. Kết quả khảo sát cho thấy một sự biến đổi giá trị đang diễn
ra, dự báo một sự biến đổi về văn hóa. Cuộc khảo sát giá trị bằng phương pháp định
tính dưới sự lãnh đạo của Jan Kerkhofs và Ruud de Moor (thưc ̣ hiêṇ năm 1981) diễn
ra gần như cùng thời điểm với khảo sát giá trị châu Âu cũng đã trở nên nổi tiếng và
được công nhận trên toàn thế giới [dẫn theo diss.fu-berlin.de].
Nhìn chung, nghiên cứu về giá trị là nội dung được bàn luận và quan tâm khá
sôi nổi. Đây cũng thực sự là một đề tài hấp dẫn, thu hút giới làm khoa học, nhất là
khoa học xã hội. Tựu chung lại, tình hình nghiên cứu về hệ giá trị nổi lên một vấn
đề: các tác giả đi sâu nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm mục tiêu xây

20


dựng được một hệ giá trị chung cho toàn thế giới, cho một quốc gia, dân tộc hay là
cho một đối tượng, một nhóm xã hội nào đó. Tính đến nay, nhiều giá trị đã được
thừa nhận và được coi như là những nguyên tắc hướng dẫn hành vi con người trong
cuộc sống. Trong những năm trở lại đây, việc nghiên cứu giá trị vẫn tiếp tục được
duy trì bởi xã hội thay đổi rất nhanh chóng, nhiều giá trị truyền thống bị mai một

hoặc không còn phù hợp đòi hỏi sự thay thế bởi các giá trị khác, hiện đại hơn, phù
hợp hơn.
Thanh niên là một nhóm xã hội đang trong giai đoạn phát triển nhanh chóng
và có những sự biến đổi và phát triển mạnh mẽ cả về mặt sinh học, xã hội và tâm lý.
Đây cũng là đối tượng rất dễ chịu ảnh hưởng tác động từ các yếu tố bên ngoài. Đặc
biệt, ở giai đoạn đầu lứa tuổi thanh niên, sự hình thành giá trị, giá trị của bản thân
còn chưa ổn định. Do đó, việc tiến hành nghiên cứu giá trị của thanh niên, nhất là
thanh niên Việt Nam là điều cần thiết phải tiến hành thường xuyên và liên tục.
1.1.2. Những nghiên cứu về hành vi ủng hộ xã hội
Hành vi UHXH về cơ bản bị bỏ quên cho đến những năm 60 của thế kỷ XX.
Lúc đó, hành vi UHXH được tập trung quan tâm thay thế dần cho các hành vi tiêu
cực xã hội, do thời điểm đó, các nhà khoa học nhận thức rằng hành vi tiêu cực như
một mối đe dọa cho xã hội. Một số nhà nghiên cứu tin rằng, việc đi sâu nghiên cứu
và tìm hiểu hành vi UHXH là cách thức cần thiết để hiểu hành vi tiêu cực xã hội
cũng như để thúc đẩy sự thay đổi mang tính tích cực. Do ngày càng nhận thức được
tầm quan trọng của việc nghiên cứu hành vi UHXH đối với cá nhân và trong việc
điều tiết xã hội, cũng như xuất phát từ nhu cầu mong muốn xã hội vận hành một
cách hài hòa [Kavussanu, Seal & Phillips, 2006], hành vi UHXH đã được nghiên
cứu một cách trọng tâm hơn và dần trở thành một hướng nghiên cứu hấp dẫn được
giới khoa học, nhất là khoa học tâm lý quan tâm.
Trên thế giới, qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy một số hướng nghiên cứu
phổ biến về hành vi UHXH bao gồm:
Về tầm quan trọng của hành vi UHXH, nhiều tác giả khẳng định là mang lại
nhiều lợi ích, chẳng hạn: mang lại sự thành công, mở rộng mối quan hệ, cảm giác

21


×