Tải bản đầy đủ (.doc) (45 trang)

Điều tra tình hình nuôi và chơi cá cảnh trên địa bàn Thành phố Huế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.97 MB, 45 trang )

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
Từ thế kỉ XVII, việc nuôi cá cảnh đã trở một thú vui giải trí của nhiều
người trên thế giới. Nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn, thú vui giải trí của
con người ngày càng cao, con người đã không chỉ bằng lòng với những cái mà
thiên nhiên ban tặng, những cái kỳ lạ, những cái đẹp hiện hình trên cơ thể của
cá, con người đã ứng dụng những kiến thức khoa học kỹ thuật tiên tiến trong
lai ghép, tạo màu, áp dụng sự đột biến gen để tạo ra những loài lạ về hình dáng,
đẹp về màu sắc, có giá trị thẩm mĩ cao và được nhiều người ưa chuộng.
Nuôi cá cảnh đã trở thành một nghề, cũng như những nghề chơi nuôi
khác, không chỉ mang lại cuộc sống tươi vui cho một gia đình, một tập thể mà
còn là một nghề kinh doanh mang tính chất công nghiệp. Ngoài ra, việc nuôi cá
cảnh còn là một thú vui giải trí lành mạnh thể hiện lòng yêu thiên nhiên, giúp
cho con người giảm bớt sự căng thẳng của đời thường mà sống thoải mái hơn.
Ngày nay, do đời sống vật chất ngày càng cao nên nhu cầu về mặt tinh
thần ngày càng được coi trọng. Chính vì vậy thú chơi cá cảnh đã và đang phát
triển trên khắp cả nước. Hiện nay ở Thừa Thiên Huế nhu cầu nuôi cá cảnh đã
phát triển rộng khắp. Do đó nhiều nghệ nhân đã bắt tay và đầu tư vào việc lai
tạo, chọn giống tạo ra được một số dạng cá cảnh đẹp nhưng về mặt giá trị còn
thấp. Những loài cá cảnh có giá trị cao hầu như phải nhập từ các nơi khác đến
Huế làm giàu cho khu hệ cá cảnh hiện nay ở Thừa Thiên Huế.
Để góp phần tạo cơ sở khoa học cho việc xác định nhu cầu chơi cá
cảnh của người dân cũng như xác định thành phần loài cá cảnh ở Thành
phố Huế từ đó có những phát triển đúng đắn đối với ngành cá cảnh tỉnh
nhà, chúng tôi thực hiện đề tài: “Điều tra tình hình nuôi và chơi cá cảnh
trên địa bàn Thành phố Huế”.
Mục tiêu của đề tài:
- Bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu.
- Nâng cao kiến thức thực tế.
- Tìm ra các thành phần loài đang được nuôi phổ biến và tình hình nuôi
cá cảnh trên địa bàn thành phố Huế


1
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Sơ lược tình hình nghiên cứu cá cảnh trong nước và thế giới
2.1.1. Tình hình nghiên cứu cá cảnh trên thế giới
Thú nuôi chơi và thưởng ngoạn cá cảnh đã có lịch sử lâu đời trên thế
giới. Từ hàng ngàn năm trước, các vua chúa Trung Hoa đã nuôi giữ cá chép
và cá vàng làm cảnh. Tuy nhiên, thú nuôi chơi cá cảnh chỉ trở nên phổ biến và
có tính chất đại chúng trong khoảng 200 năm trở lại, đi cùng với sự phát triển
kinh tế - xã hội và sự gia tăng nhu cầu về mặt tinh thần...[2]
Trong các loài cá cảnh, cá chép được ghi nhận là loài có lịch sử nuôi
lâu đời nhất, từ 2000 năm trước công nguyên ở Trung Hoa. Trung Hoa cũng
là nơi đầu tiên sinh sản nhân tạo cá thành công và là chiếc nôi của hoạt động
chọn lọc và lai tạo cá vàng và cá chép làm cảnh. Người Nhật học kỹ thuật
chọn giống cá vàng và cá chép từ Trung Hoa, sau đó đã tạo nên thương hiệu
“cá chép Nhật”…[13]
Cá cảnh đa số có nguồn gốc ở những nước thuộc vùng nhiệt đới như
Đông Nam Á, Nam Mỹ, Châu Phi. Đến thế kỷ XVII được du nhập vào Châu
Âu, đầu tiên ở Bồ Đào Nha, tiếp đến là Anh. Đến thế kỷ XVIII mới lan truyền
sang Pháp và nhiều nước khác trên thế giới. Kể từ đó đã có nhiều công trình
nghiên cứu về cá cảnh. Điển hình có các nghiên cứu của một số tác giả như
Baron Cuvier (1800) đã nghiên cứu và đặt tên cho loài cá tai tượng... và một
số công trình nghiên cứu của một số tác giả khác [1][9].
Từ Trung Quốc, lĩnh vực cá cảnh được bắt đầu truyền sang Châu Âu.
Điển hình có các nghiên cứu của một vài tác giả như: S.H. Ward (1841),
Philip Goss (1853), Carbonnier (1969) đã nuôi và cho sinh sản thành công
loài cá Tiên Cung (Macropodus operecularis). Giáo sư người Đức Kensad. Z.
Lorenz đã nghiên cứu về tập tính sống của một số loài cá cảnh [1].
Đến nay, cá nước ngọt, nước lợ, nước mặn ở các vùng nhiệt đới đã
cung cấp cho các nhà nuôi cá cảnh trên thế giới một số lượng chủng loài

phong phú với khoảng 600 loài thuộc nhiều bộ, họ khác nhau.
2
Trong thú chơi cá cảnh, có lẽ sự xuất hiện của chiếc bể kính là cuộc
cách mạng thật sự tạo bước ngoặt lớn đưa cá cảnh trở nên phổ biến và có tính
chất đại chúng hơn. Cá cảnh được nuôi thả trong bể kính từ những năm 1750
ở Anh, nhưng gần 100 năm sau đó hình thức nuôi này vẫn không thể phát
triển do những hạn chế về kiến thức và sự hiểu biết về cách thức quản lý chất
lượng nước cũng như duy trì cân bằng cây – cá và khí ôxy [14].
Các bể kính trưng bày cá cảnh xuất hiện thường xuyên hơn ở châu Âu
trong giai đoạn từ 1836 đến 1850, mặc dù thời kỳ đó các bể kính cá cảnh chưa
có tên gọi như ngày nay. Điều đáng lưu ý là các bể kính này phần nhiều trưng
bày cá cảnh biển, có lẽ do sự nghèo nàn về chủng loại của cá cảnh nước ngọt
vào thời kỳ đó. Vào năm 1853, bể cá cảnh công cộng đầu tiên được khánh
thành ở Sở thú Luân Đôn, với tên gọi là “nhà cá” (Fish House). Philip Henry
Gosse là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “bể cá cảnh” (Aquarium) trong
quyển sách “The Aquarium: An Unveiling of the Wonders of the Deep
Sea”[12].
Ở các nước như Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Bỉ, Hà Lan, Canada, Nhật,
Singapore, HongKong, Thái Lan,…người ta đã thành lập những viện bảo tàng
lớn với những bể cá hiện đại, có thể chứa tới 500.000 lít nước, với vài trăm
loài cá khác nhau.
Ở Pháp, có tới 8 triệu gia đình nuôi cá cảnh, số bể cá kiểng được bán ra
hàng năm lên tới 150.000 – 200.000 cái.
Ở Nhật Bản, nghề nuôi cá kiểng được đưa vào sản xuất công nghiệp,
được bán ra khắp thế giới và thu nhập hàng triệu đô la mỗi năm[10][14].
Lịch sử cá cảnh nước ngọt tuy nhiên lại bắt nguồn từ khu hệ cá nhiệt
đới, chủ yếu ở Nam Mỹ, Đông nam Á, châu Phi… Quyển sách cá cảnh nước
ngọt đầu tiên được ghi nhận là của tác giả Chang Chiên Tê viết về cá vàng
vào khoảng năm 1618 tại Trung Quốc. Cá cảnh nước ngọt nhiệt đới du nhập
vào châu Âu vào khoảng năm 1868 khi Carbonier mang cá đuôi cờ (thiên

đường) từ vùng Đông nam Á về Pháp nuôi làm cảnh. Các nước phương Tây
sau đó không chỉ nuôi chơi mà còn nghiên cứu sinh sản, lai tạo thành công
nhiều loài cá cảnh nước ngọt nhiệt đới như cá ông tiên (cá thần tiên), cá đĩa
3
(cá ngũ sắc thần tiên), xiêm, ngựa vằn... góp phần làm phong phú hóa nguồn
cung và đưa cá cảnh nước ngọt trở nên phổ biến như ngày nay [2].
2.1.2. Tình hình nghiên cứu cá cảnh ở Việt Nam
Ở nước ta, nghề nuôi cá thịt cũng như cá cảnh được ghi chép trong
cuốn sử học và kinh tế học thời phong kiến (trước 1884). Trước cách mạng
tháng Tám, hầu hết các tác giả nghiên cứu là người nước ngoài, chủ yếu là
người Pháp. Ngoài ra còn có một số tác giả nghiên cứu là người Anh, người
Mỹ, người Trung Quốc.
Vào thời kỳ trước 1945, theo nghệ nhân Võ Văn Sanh, ở Sài Gòn đã
hình thành ba khu vực bán cá cảnh ở Lưu Xuân Tín, Trần Hòa và Chợ Cũ.
Ngày nay chợ cá cảnh Lưu Xuân Tín vẫn còn là chợ đầu mối cá cảnh lớn nhất
và lâu đời nhất ở Việt Nam, trong khi khu vực Trần Hòa và Chợ Cũ chỉ còn
trong ký ức. Trong quá trình phát triển, TP.HCM có thêm khu chợ cá Nguyễn
Thông hình thành vào thập niên 80 và khu chợ cá đường Cộng Hòa hình
thành vào cuối thập niên 90. Ngày nay, các cửa hàng cá cảnh đã rải đều trên
khắp các tỉnh thành ở Việt Nam, đưa lịch sử cá cảnh nước nhà bước vào thời
kỳ phát triển mới...[5][7][13].
Trong những thập niên qua, do tàn dư của chiến tranh, do sự bùng nổ
của công nghiệp, do sự lạm phát trong việc sử dụng hóa chất…đã dẫn đến
tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng làm cho một số loài cá cảnh quý
hiếm đã không còn thấy trong môi trường tự nhiên nữa. Thật là dễ dàng khi
bắt cá ra khỏi thiên nhiên hoang dã hơn là nuôi để cho chúng sinh sản, bỡi lẻ
mỗi loài đều có những đặc trưng riêng về môi trường sống, tập tính sống, và
sự sinh sản hoàn toàn khác nhau.
Nhu cầu về cá cảnh trong nước thật là lớn, nhưng sự cung ứng thì có
hạn và nguồn tài nguyên thì ngày càng cạn kiệt. Giải pháp chính của vấn đề

này là nắm vững về kỹ thuật nuôi và cho sinh sản nhân tạo [1] [12].
Ngày nay, nhờ những thành tựu của khoa học nghề cá, số lượng loài cá
nuôi ngày một nhiều và đang biến động lớn. Lúc đầu người nuôi, chơi cá cảnh
chỉ biết đến các loài cá cảnh nước ngọt, sau đó họ tìm nuôi một số loài cá
nước lợ và mặn. Tùy từng đối tượng nuôi mà ta áp dụng những biện pháp kỹ
4
thuật riêng kéo theo đó là vấn đề về hiệu quả kinh tế. Từ đó, việc nghiên cứu
những đặc điểm sinh học, sinh sản, thành phần giống loài cá cảnh nước ta đã
được phát triển rộng. Bắt đầu từ hai thành phố lớn Hà Nội và Thành phố Hồ
Chí Minh với các tác giả Võ Văn Chi (1993) với cuốn “cá cảnh” đã đưa ra
116 loài cá nước ngọt thuộc 34 họ của 8 bộ khác nhau cùng với đặc điểm sinh
học, sinh sản của từng loài cá, Vĩnh Khang với các cuốn “kỹ thuật nuôi cá
kiểng” tập I, II (1993) “cá cảnh”(1998), Nguyễn Khoa Diệu Thu và Vũ Thị
Tám với cuốn “kỹ thuật nuôi cá cảnh” (2000), TS. Vũ Cẩm Lương với cuốn “
cá cảnh nước ngọt” (2008) và hiện nay với trang web feshviet.com nghiên
cứu sâu về mảng cá cảnh[13].
 Lịch sử cá cảnh ở Huế từ thời kì thập niên 50 trở lại đây.
Thời kỳ thập niên 50 chỉ có hai loài cá chủ lực là lia thia đá và lia thia
tàu (theo cách gọi thời bấy giờ), các loài cá khác như cá chép, bảy màu cũng
phổ biến. Cá cảnh mua bán được gói bằng lá môn và buộc bằng dây lạt, do
vậy người bán buổi chiều còn phải đi cắt lá môn để chuẩn bị cho buổi bán
hôm sau. Nguồn cá nhập lúc bấy giờ chủ yếu từ Hongkong, do người Hoa đưa
về. Vào năm 1960, ngoài cá đá, bảy màu, hồng kiếm… còn có tứ vân, hồng
nhung, ông tiên, tai u (tai tượng)…[10][11]. Thức ăn cá cảnh vào đầu thập
niên 60 chủ yếu là lăng quăng đỏ (sau gọi là bo bo, moina), lăng quăng đen và
một số thức ăn tự chế biến. Đặc điểm giai đoạn này là các loài cá tự nhiên
(còn gọi là cá sông) đã xuất hiện khá đa dạng trong nuôi cảnh, có người chơi
cá sông tự nhiên, còn được gọi là “cá lạ”, bao gồm các loài: chuột, chạch các
loại, bã trầu kim cương…Vào năm 1963 cá heo (sau còn gọi tai tượng phi),
cá tai tượng Nam Dương (sau gọi là tai tượng Việt Nam)(1964) được một số

người thích chơi cá cảnh mang ra từ Thành phố Hồ Chí Minh làm cho thành
phần chủng loại cá cảnh ở Huế thêm phần phong phú hơn. Trong thời kì này
người chơi cá cảnh cũng rất ít chỉ có một số người có tiền muốn tìm cho mình
một thú chơi bình dị của tuổi già [11]. Thời kỳ đầu thập niên 70 có nhiều
kiểu hình cá cảnh mới được nhập nội và được nhập từ các người chơi ở Đà
Nẵng ra nên thành phần loài cá cảnh cũng đa dạng hơn so với trước. Người
chơi cá cũng nhiều hơn, đặc biệt lúc này đã có sự góp mặt của thanh thiếu
niên trong số những người tham gia chơi cá cảnh. Vào năm 1986 đã xuất hiện
những bể kính cho cá cảnh, các bể kính được dán bằng xi-măng xung quanh,
5
cho đến năm 1993 thì xuất hiện thêm bể kính nẹp sắt, các bể kính này cũng
chỉ được chuyên chở từ Đà Nẵng ra. Năm 1994-1995 đã xuất hiện một số trại
cá cảnh với quy mô nhỏ, nguồn cá sản xuất ra cũng rất ít phần lớn được nhập
từ các vùng khác tới. Từ những năm 1997 trở lại đây thì cá cảnh đã có sức
hấp dẫn rất lớn với sự đa dạng và phong phú với các thành phần giống loài
khác nhau, người chơi cá cảnh cũng đã nhiều hơn so với trước báo hiệu một
thị trường tiềm năng chơi cá cảnh lớn[13].
 Phong trào chơi cá cảnh ở Việt Nam
Nếu cây cảnh là thú chơi của nhiều bậc trung niên và tiền bối thì cá cảnh
giờ đây đã trở thành thú chơi lành mạnh thu hút từ giới trẻ tuổi đôi mươi đến
các lão gia. Mỗi lứa tuổi lại tìm thấy một thể loại cá cảnh cho riêng mình và nơi
để thể hiện bản thân qua thú chơi đa dạng này. Các em học sinh có thể bớt tiền
quà tự sắm cho mình một bể cá nhỏ, chơi các loại cá chỉ mấy ngàn đồng một
đôi. Những công chức thu nhập trung bình thì thích trang trí cho ngôi nhà của
mình một bể trồng cây thủy sinh xanh mát. Các đại gia, mỗi người một công
trình bể cá với dấu ấn riêng. Người chơi các bể thủy sinh dài “vĩ đại”, từ 2 đến
3 mét, người chơi các bể cá rồng lớn hơn 2 mét. Những nhà có sân vườn có
nhu cầu làm đẹp thì lại sắm cho mình một hòn non bộ rộng lớn cho những chú
cá cảnh muôn màu muôn vẻ hòa mình với thế giới tự nhiên. Một lý do khác
khiến cho việc chơi cá cảnh ngày càng được ưa chuộng là việc chăm sóc cá

ngày nay đã đơn giản đi nhiều. Với nhu cầu ngày càng tăng cao của thú chơi
đồng thời cũng là công cụ trang trí nội thất này, thị trường cá cảnh ngày nay có
hàng trăm loài cá cảnh khác nhau. Thêm vào đó là thị trường thiết bị và phụ
kiện đi kèm. Chỉ với khoảng vài trăm ngàn đồng, người chơi đã có một bể
kiếng, máy sục khí, máy lọc, vài đồ trang trí dưới nước, bóng đèn… và tất
nhiên cả vài chú cá cảnh bơi lượn tung tăng.[9][10][13].
Thị trường cá cảnh không chỉ có cá, mà còn đang lên cơn sốt với phong
trào chơi bể thủy sinh. Bể cá thủy sinh được mệnh danh là một “thiên nhiên
xanh thu nhỏ” trong nhà. Những phong cảnh mê hồn trong các hồ thủy sinh
thường làm cho bất cứ ai khi thưởng ngoạn đều liên tưởng đến hình ảnh thiên
nhiên của một khu rừng, một khu vườn ở nơi nào đó. Chính vì thế, người có
nhu cầu làm đẹp và làm nội thất trong nhà xanh mát đặc biệt ưa chuộng trang
trí loại bể này.
6
Không chỉ là để vui mắt, điểm tô cho không gian mỗi căn phòng, góc
làm việc, chơi cá cảnh còn mang đến khoảnh khắc bình yên và thư thái tâm
hồn cho mỗi người. Khó có thể kể hết các loại cá đang được giới chơi cá cảnh
ưa chuộng và trong mỗi loài cá lại có một đặc điểm riêng, gửi gắm ước vọng
của người chơi. Để tạo một bể cá lung linh sắc màu mang sức sống và sự vui
mắt là quá trình xây dựng công phu. Bể cá được thắp đèn ban ngày và tắt lúc
ban đêm, trong bể gắn máy bơm tạo bọt hoạt động 24 giờ. Bể cá cảnh không
thể thiếu các loại rong, rong được chăm sóc bằng phân nền vi sinh và các
nguyên liệu khác để không làm ảnh hưởng đến độ trong của nước và sự sống
của cá. Toàn bộ cây, cá và nước tạo thành một môi trường sinh thái cộng sinh
hoàn chỉnh. Cá cảnh được ví như một đứa trẻ suốt ngày cần được chăm sóc,
nâng niu. Người chơi phải chăm cá thường xuyên như thay nước, vệ sinh bể,
khám chữa bệnh cho cá vào những ngày thời tiết thất thường. Theo quan niệm
phong thủy, bể cá thủy sinh sẽ điều hòa không gian, hướng sinh khí vào không
gian sống và làm việc. Làm bạn với cá cảnh là tạo ra sự thích thú, vui tươi cho
con người khi tự tay nuôi, chăm sóc chúng. Người chơi cá cảnh rất vui thích

khi trải qua từng ngày mong đợi để được nhìn những chú cá cảnh lớn lên hàng
ngày đùa vui trong không gian xanh của thủy sinh. Cũng từ thú chơi cá nhân,
nhiều câu lạc bộ chơi cá cảnh đã hình thành mà ở đó những người chơi có thể
gặp gỡ, trao đổi về niềm đam mê và những kiến thức về nuôi cá cảnh. Hiện
nay, đã có nhiều cuộc thi cá cảnh mang tính quốc gia và quốc tế được tổ chức,
điều này cho thấy thú chơi này đã trở thành một nét văn hoá trong cuộc sống
đời thường. Trong nhịp sống thị trường, người chơi cá cảnh có nhiều phương
tiện để tiếp cận thông tin và mua các đồ dùng chuyên dụng trong chơi và nuôi
cá. Tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, các cửa hàng cung cấp cá cảnh và
hướng dẫn kỹ thuật nuôi, chăm sóc cá rất đa dạng. Các địa chỉ này chính là
nhịp cầu để đưa cá cảnh gần hơn với đời sống.[12][14][16]
Nuôi cá cảnh không chỉ ở mục đích thư giãn mà nó còn là một trong
những mặt hàng xuất khẩu đem ngoại tệ về cho đất nước. Đất nước ta nằm
một trong ba khu vực có nguồn cá cảnh nổi tiếng trên thế giới (Đông Nam Á,
Nam Mỹ và Phi Châu). Với khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, điều kiện tự nhiên
thuận lợi, đặc biệt ở khu vực các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Tính riêng
7
khu vực thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay doanh thu xuất khẩu cá cảnh của
thành phố đạt từ 4 – 5 triệu USD một năm. Con số này thực ra chưa xứng với
tiềm năng về xuất khẩu cá cảnh, trong khi doanh số bán lẻ hàng năm trên thế
giới là 7 tỉ USD.
Trước những yêu cầu về hội nhập kinh tế quốc tế, Thành Uỷ - UBND
thành phố HCM, một trong những nơi xuất khẩu cá cảnh chủ lực của đất nước
đã có chủ trương xây dựng chương trình mục tiêu phát triển hoa, cây kiểng, cá
cảnh đến năm 2010. Trên cơ sở đó, thành phố đã và đang triển khai chương
trình phát triển cá cảnh một cách toàn diện bằng việc ban hành Quyết định số
4954/QĐ-UBND ngày 26 tháng 9 năm 2005, cho phép thành lập Hội cá cảnh
thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, hội cá cảnh thành phố Hồ Chí Minh là tổ
chức quần chúng tự nguyện của các cá nhân, tập thể, tổ chức hoạt động trong
lĩnh vực nuôi, tiêu thụ và các dịch vụ có liên quan đến cá cảnh nhằm hỗ trợ,

tập hợp, giúp đỡ nhau, góp phần phát triển thị trường cá cảnh thành phố theo
đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Hội cá cảnh thành phố
chịu sự quản lý của Nhà nước và Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Kể
từ lúc thành lập đến nay, mặc dù với thời gian rất ngắn nhưng Hội cá cảnh
thành phố đã hoạt động một cách rất hiệu quả. Ngoài việc thu hút hội viên
sinh hoạt trong một tập thể quần chúng (khoảng 800 hội viên), Hội còn
thường xuyên tổ chức những hội thảo chuyên đề về cá cảnh (xử lý nước, kỹ
thuật nuôi cá cảnh, ấp trứng, phòng trị bệnh cho cá, xuất nhập khẩu cá…).
Qua những hội thảo trên đã góp phần giúp đỡ những hội viên (cả những người
mới vào nghề và những người nuôi cá lâu năm) có được những kiến thức hữu
ích trong việc nuôi và cải thiện kinh tế hộ gia đình, cũng như phát triển thú
vui tao nhã nuôi cá cảnh. Trước kia, khi hội cá cảnh thành phố chưa ra đời,
hầu hết người chơi thường tự thu thập thông tin qua sách báo trong và ngoài
nước, tự học hỏi trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau. Giờ đây, họ có thể an tâm
hơn vì thông qua những hội thảo này, họ có thể nắm bắt được những thông tin
cần thiết cho việc phát triển nghề nuôi của mình. Ngoài việc mời những
chuyên gia đầu nghành thuỷ sản tham dự, hội thảo còn tập trung nhiều chuyên
gia, nghệ nhân trong lĩnh vực nuôi cá cảnh; những chuyên gia, nghệ nhân này
sẽ trực tiếp trả lời, giảng giải, trao đổi ý kiến với hội viên để giúp hội viên có
những kiến thức hữu ích sau này[7][9][11][12].
8
2.2. Vài nét về điều kiện tự nhiên ở thành phố Huế
2.2.1.Vị trí địa lý
Thành phố Huế nằm ở vị trí trung tâm của đất nước, trên trục Bắc -
Nam của các tuyến đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường biển,
gần tuyến hành lang Đông - Tây của tuyến đường Xuyên Á.
Toạ độ địa lý: 107
0
31’45”-107
0

38' kinh Ðông và 16
0
30'45”-16
o
24' vĩ
Bắc. Thành phố Huế nằm ở vị trí trung tâm của đất nước, trên trục Bắc - Nam
của các tuyến đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường biển, gần
tuyến hành lang Đông - Tây của tuyến đường Xuyên Á. Cách Hà Nội 675 km
về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.060 km, nằm trong vùng kinh tế
trọng điểm Trung bộ với các trung tâm kinh tế đang phát triển nhanh như khu
khuyến khích phát triển kinh tế - thương mại Chân Mây, Thành phố Đà Nẵng,
khu kinh tế mở Chu Lai,.. có hệ thống giao thông thuận lợi kết nối dễ dàng
với Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh, thành khác trong
cả nước (nguồn UBND Thành phố Huế).
Thành phố Huế nằm ở vị trí có điều kiện thiên nhiên, hệ sinh thái đa
dạng, phong phú và diện mạo riêng tạo nên một không gian hấp dẫn, kỳ diệu
từ núi Ngự Bình, đồi Thiên An - Vọng Cảnh. Thành phố hội đủ các dạng địa
hình: đồi núi, đồng bằng, sông hồ, tạo thành một cảnh quan thiên nhiên-đô
thị-văn hoá lý tưởng để tổ chức các loại hình Festival và các hoạt động du lịch
thể thao khác nhau.
Thành phố Huế là địa bàn lý tưởng gắn kết các tài nguyên văn hoá truyền
thống đặc sắc với du lịch mà không một Thành phố, địa danh nào ở nước ta
có được và là một trong 5 trung tâm du lịch quốc gia. Huế nằm ở vị trí trung
tâm của các di sản văn hoá thế giới của Việt Nam (Hội An, Mỹ Sơn, động
Phong Nha-Kẻ Bàng) và gần với các Thành phố cố đô của các nước trong khu
vực (nguồn UBND Thành phố Huế).
9
Hình 1: Bản đồ hành chính thành phố Huế( mapshue,2010)
(Gồm 27 đơn vị hành chính với 27 phường, có 3 phường mới Hương
Long, Thủy Biều, Thủy Xuân được thành lập theo Nghị quyết 14/NQ-CP

ngày 26-03-2010) (nguồn UBND Thành phố Huế).
3.2.Điều kiện tự nhiên:
a. Khí hậu
Khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp từ á
xích đạo đến nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa
miền Bắc và miền Nam nước ta.
b. Chế độ nhiệt
Thành phố Huế có mùa khô nóng và mùa mưa ẩm lạnh. Nhiệt độ trung
bình hàng năm vùng đồng bằng khoảng 24°C - 25°C.
+ Mùa nóng: từ tháng 5 đến tháng 9, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam
nên khô nóng, nhiệt độ cao. Nhiệt độ trung bình các tháng nóng là từ 27°C -
29°C, tháng nóng nhất (tháng 5, 6) nhiệt độ có thể lên đến 38°C- 40°C.
10
+ Mùa lạnh: Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió
mùa Đông bắc nên mưa nhiều, trời lạnh. Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh ở
vùng đồng bằng là 20°C - 22°C. Do trời thường rất lạnh vào những đợt gió
mùa đông bắc tràn về nên việc nuôi giữ cá trong thời kì này rất khó khăn vì có
nhiều loài cá xứ nóng nhập về không thể chịu đựng được sự khắc nghiệt của
cái lạnh ở Huế.
Chế độ nhiệt có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống thuỷ sinh vật. Chính sự
dao động lớn về biên độ nhiệt (cao nhất từ 38-40
0
C và thấp nhất từ 9-12
0
C) đã
gây ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi chất của thuỷ sinh vật.
c. Chế độ mưa
Lượng mưa trung bình khoảng 2500- 3000mm/năm. Mùa mưa bắt đầu từ
tháng 9 đến tháng 2 năm sau, tháng 11 có lượng mưa lớn nhất, chiếm tới 30%
lượng mưa cả năm. Đặc điểm mưa ở Huế là mưa không đều, lượng mưa tăng

dần từ Đông sang Tây, từ Bắc vào Nam và tập trung vào một số tháng với
cường độ mưa lớn do đó dễ gây lũ lụt, xói lở. Trong nước mưa có acid Humic
là một trong những tác nhân làm cho nhiều loại cá sinh sản vào mùa mưa.
d. Nắng
Do nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa nên lượng bức xạ mặt trời ở
Huế khá lớn. Bình quân cả năm bức xạ 70-85Kcal/cm
2
/năm, số giờ chiếu sáng
trung bình 2000 giờ/năm. Các tháng mùa nóng có lượng bức xạ chiếm
63-64% tổng lượng bức xạ cả năm, có giờ chiếu sáng trung bình 170-250 giờ/
tháng. Các tháng còn lại có lượng bức xạ từ 36- 37%, số giờ chiếu sáng
khoảng 60-100giờ/tháng.
e. Gió bão
Chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính:
+ Gió mùa Tây Nam: Bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, gió khô nóng, bốc
hơi mạnh gây khô hạn kéo dài.
+ Gió mùa Đông Bắc: Bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, gió
thường kèm theo mưa làm cho khí hậu lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt.
+ Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 9 -10 thường gây hiện
tượng lũ lụt. (nguồn UBND Thành phố Huế).
11
PHẦN 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1.Đối tượng nghiên cứu
Toàn bộ các loài cá cảnh hiện đang được nuôi ở thành phố Huế.
3.1.2.Địa điểm và thời gian nghiên cứu
+ Địa điểm nghiên cứu
Tại cơ sở sản xuất giống cá cảnh ở Tây Lộc, Phước Vĩnh, An Cựu và
Phú Hoà. Các điểm buôn bán cá cảnh ở đường Trần Hưng Đạo, Phan Đình

Phùng, Nguyễn Quang Bích, Thanh Nam Bồ và các hộ gia đình nuôi cá cảnh
trên thành phố Huế. Phòng thí nghiệm khoa thuỷ sản.
+ Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 6/1/2010 đến 9/5/2010.
3.2. Nội dung nghiên cứu
3.2.1. Điều tra tình hình nuôi/bán cá cảnh trên địa bàn thành phố Huế-tỉnh
Thừa Thiên Huế.
3.2.2. Điều tra thành phần các loài cá cảnh được nuôi tại thành phố Huế
3.2.3. Những thuận lợi và khó khăn trong khi nuôi cá cảnh
3.2.4. Giá trị kinh tế và giá trị tinh thần của cá cảnh
3.2.5. Các bệnh thường gặp ở cá cảnh.
3.2.6. Tìm hiểu đặc điểm sinh học của các loài cá cảnh phổ biến.
3.3. Phương pháp nghiên cứu.
3.3.1. Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin sơ cấp:
-Lập bảng hỏi với nội dung cụ thể
- Hỏi trực tiếp người nuôi và buôn bán cá cảnh
Thu thập thông tin thứ cấp:
-Tìm tài liệu trên các Website
12
-Đọc các sách báo chuyên ngành
-Đọc các báo cáo khoa học về cá cảnh
Ghi chép đầy đủ các số liệu
Tiến hành nghiên cứu ở phòng thí nghiệm
-Tiến hành phân loại và tìm hiểu một số đặc điểm sinh học của các loài
cá cảnh phổ biến.
3.3.2. Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel.
13
PHẦN 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Tình hình nuôi (bán) cá cảnh trên địa bàn thành phố Huế
4.1.1. Số quầy bán và sản xuất
Qua bảng điều tra chúng tôi thấy hiện nay trên địa bàn thành phố có 7
trại sản xuất giống cá cảnh (chiếm 21,86%) và 12 quầy bán cá cảnh (31,5%).
Phần lớn các trại này cũng đã bám trụ khá lâu với nghề cá cảnh, chỉ có 1-2
trại mới mở thêm. Các trại này là nguồn cung ứng cá cảnh cho toàn thành phố
và các vùng phụ cận. Số trại và quầy bán khá nhiều chứng tỏ thị trường cá
cảnh ở thành phố Huế cũng khá lớn.
4.1.2. Kinh nghiệm nuôi và chơi
18.75
28.13
53.13
từ 1-4 năm từ 5-9 năm 10 năm trở lên
Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện về số năm kinh nghiệm chơi cá cảnh
Từ biểu đồ trên có thể thấy phần lớn những người chơi cá cảnh ở đây
đã có kinh nghiệm rất lâu năm trong nghề (trên 10 năm chiếm đến 53,13%,
dưới 4 năm chỉ chiếm 18,75%). Họ là những người rất đam mê về cá cảnh,
qua thời gian nuôi đã tích lũy thêm cho mình rất nhiều vốn kinh nghiệm để
chăm sóc những chú cá cảnh của mình được tốt hơn. Chỉ với những kinh
nghiệm qua thời gian nuôi và tìm hiểu sách báo, những người bạn nuôi các
chủ trại sản xuất đã dần tự khẳng định mình. Họ đã có thể cho sinh sản nhiều
giống cá để xuất ra thị trường mà không cần phải nhập từ thành phố Hồ Chí
Minh như xê can, mắt lồi, thần tiên, chép cảnh….
14
4.1.3.Giá cả một số loại cá
Giá cá cảnh trên thị trường thành phố Huế rất đa dạng, từ những loài cá
rẻ tiền giá chỉ từ 2000-5000 đồng/con đến những loài cá đắt tiền giá có thể lên
đến vài trăm ngàn hay vài triệu đồng. Theo điều tra, hiện nay các giống cá
bán chạy nhất trên địa bàn thành phố chủ yếu có giá từ 2000-5000 đồng/con

như cá xiêm, bảy màu, thần tiên, chép cảnh. Các loài cá có giá từ 5000-25000
đồng/con gồm có các loài như cá sặc, tứ vân, tỳ bà, mã giáp…Đắt nhất trên
thị trường hiện nay vẫn là các loài cá trong họ cá rồng, cá la hán, cá dĩa…giá
của những loài này rất đắt, tùy theo màu sắc, kích cỡ và hình dáng của cá mà
giá có thể lên đến 2-3 triệu đồng/con hay hơn thế nữa.
4.1.4. Thức ăn cá cảnh
Hiện tại trên thành phố Huế các loại thức ăn sử dụng cho cá cảnh chỉ
gồm những loại thức ăn viên công nghiệp hay trùn chỉ, bo bo tươi và sấy khô
đóng hộp. Tuy nhiên thức ăn công nghiệp vẫn là thức ăn được sử dụng chính
còn trùn chỉ, bo bo chỉ là thức ăn bổ sung thêm. Giá thức ăn cũng tương đối
rẻ, thức ăn viên công nghiệp được sử dụng chủ yếu là Sanghai, giá có thể dao
động từ 10000-50000 đồng/kg tùy loại thức ăn tốt hay xấu; trùn chỉ, bo bo
đóng hộp được nhập từ thành phố Hồ Chí Minh ra giá cũng chỉ từ
20000-40000 đồng/hộp/0,3kg. Trùn chỉ, bo bo đóng hộp thường chỉ có những
trại sản xuất hay quầy bán mới sử dụng còn các người nuôi chơi thường sử
dụng bo bo, trùn chỉ tươi để bổ sung thêm thức ăn tươi cho cá cảnh.
4.2. Thành phần các loài cá cảnh được nuôi tại thành phố Huế.
4.2.1. Thành phần loài
Qua điều tra về thành phần các loài cá cảnh đang được chơi ở Huế hiện
nay thì đối tượng cá cảnh nước ngọt vẫn là chủ yếu chưa thấy xuất hiện các đối
tượng cá cảnh nước mặn vì chơi cá nước mặn vừa tốn kém lại khó nuôi, thỉnh
thoảng chỉ có một số người nuôi chơi các loài cá cảnh nước mặn vào dịp hè
như cá hoàng đế, thia xanh, thia lam,...Qua bảng điều tra tôi đã xác định được
40 loài cá thuộc 13 họ của 6 bộ cá cảnh nước ngọt khác nhau (không có đối
tượng cá nước mặn).Danh mục các loài cá được phân loại và sắp xếp theo khóa
phân loại của fishviet.com/net, Vĩnh Khang (1993), Võ Văn Chi (1993) và Mai
Đình Yên - Vũ Trung Tạng (1979)…Kết quả được thể hiện ở bảng 1 dưới đây.
15
Bảng 1: Danh mục các thành phần loài cá cảnh ở Huế
STT Tên khoa học Tên Việt Nam

Tên địa
phương
Nguồn gốc
I CYPRINIFORMES BỘ CÁ CHÉP
(1) Cyprinidae Họ cá chép
1 Barbichthys laevis Cá ba lưỡi Cá phi tiễn Đông Nam Á
2 Puntius tetrazona Cá tứ vân Cá xê can Inđônêxia
3 Barbus pentazona Cá ngũ vân Cá năm sọc Đông Nam Á
4 Carassius auratus Cá vàng Cá mắt lồi, lân Trung Quốc
5 Cyprinus carpio Cá chép Nhật Chép Đông Nam Á
6 Puntius titteya Cá râu anh đào Cá anh đào Sri Lanka
7 Danio rerio Cá ngựa vằn Sọc ngựa
Nam Á,
Myanma
(2) Cobitidae Họ cá chạch
8 Botia modesta Cá heo vạch Cá chuột Đông Nam Á
(3) Schilbeidae Họ cá tra
9 Pangasius sutchi Cá tra yêu Cá mập cảnh Đông Nam Á
(4) Loricariidae Họ cá tỳ bà
10 Hypostomus puncttus Cá chùi gương Cá lau kính Đông Nam Á
II PECIFORMES BỘ CÁ VƯỢC
(5) Lopatidae Họ cá hường
11 Datrioides microlepis Cá hường cá Thái Hổ Đông Nam Á
(6) Scatophagidae Họ cá nâu
16
12 Siatophagus argus Cá ngâu Cá nâu Ấn Độ
(7) Cichlidae Họ cá rô phi
13 Aequedens pulcher
Cá đầu lân kim
tuyến

Đầu lân Nam Mỹ
14 Apisfogranma reitzigi Cá phượng hoàng
Cá phượng
hoàng
Nam Mỹ
15 Astronotus ocellatus Cá heo lửa Cá tai tượng Nam Mỹ
16 Pterophyllum scalare Cá ông tiên Cá thần tiên Nam Mỹ
17 Rajah cichlasonma Cá La Hán Cá La Hán Malaysia
18
Symphysodon
aequifasciata
Cá đĩa xanh lục Dĩa xanh Sông Amazone
19
Symphysodon
aequifasciata axelrodi
Cá đĩa nâu Dĩa nâu Sông Amazone
20
Symphysodon
aequifasciata haraldi
Cá đĩa xanh lam Cá dĩa lam Sông Amazone
21 Symphysodon discus Cá đĩa đỏ Cá dĩa đỏ Sông Amazone
(8) Osphronemidae Họ cá tai tượng
22 Osphronemus goramy Tai tượng thường Phát tài Đông Nam Á
23 Betta splendens Cá chọi, cá đá Cá xiêm, cá đá Đông Nam Á
24
Trichogaster
trichopterus
Cá sặc vàng Cá hoàng vân Đông Nam Á
25 Trichogaster leerii Cá sặc trân châu Cá mã giáp Đông Nam Á
26 Colisa lalia Sặc gấm Cá sặc gấm Đông Nam Á

17
27 Trichogaster microlepis Sặc bạc Cá bạch vân Đông Nam Á
III
CYPRINODONTIFOR
MES
BỘ CÁ SÓC
(9) Poeciliidae
Họ cá khổng
tước
28 Poecilia reticulata Cá khổng tước
Cá bảy màu,
tây
Trung Mỹ
29 Xiphophorus hellerii Hồng kim, kiếm Hồng kiếm
Trung Mỹ và
Châu Phi
30 Poecilia spp
Mô ly, trân
châu
Hoàng châu,
hắcmaní...
Châu Mỹ
IV
OSTEOGLOSSIFOR
MES
BỘ CÁ THÁT
LÁT
(10) Notopteridae Họ cá thát lát
31 Chitala ornata Thát lát hoa Thát lát, còm Sông Mekong
(11) Osteoglossidae Họ cá rồng

32
Osteoglossum
bicirrhosum
Ngân Long Ngân Long Nam Mỹ
33 Scleropages aureus
Kim Long Hồng
Vỹ
Kim Long Indonesia
34
Scleropages
macrocephalus
Thanh long
Borneo
Thanh Long Indonesia
V CHARACIFORMES
BỘ CÁ CHIM
TRẮNG
18

×