Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT SẢN PHẨM TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (241.27 KB, 18 trang )

Chuyên đề tốt nghiệp Trờng ĐH KTQD
Một số Đánh giá và ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện
quy trình kiểm toán chi phí sản xuất sản phẩm
trong kiểm toán tài chính do AASC thực hiện
3.1. Đánh giá thực tế kiểm toán của Công ty AASC (Trụ sở Hà Nội).
Cơ sở của những đánh giá thực tế kiểm toán CPSX SP tại Công ty AASC là
viẹc so sánh giữa lý luận và thực tiễn kiểm toán khỏn mục SPSX SP.
3.1.1. Đánh giá chơng trình kiểm toán khoản mục CPSX SP.
Công ty AASC hiện nay đã xây dựng một hệ thống chơng trình kiểm toán chi
tiết từng khoản mục trên Báo cáo tài chính. Chơng trình kiểm toán đợc xem là tài
liệu hớng dẫn nghiệp vụ rất cần thiết cho các trợ lý kiểm toán và các KTV. Chơng
trình kiểm toán giúp cho KTV định hớng đợc các công việc cần thực hiện đồng
thời đảm bảo nội dung kiểm toán không bị trùng lặp. Hơn thế nữa, chơng trình
kiểm toán còn giúp ngời xem xét hồ sơ kiểm toán có thể hiểu đợc các công việc
mà KTV đã thực hiện trong quá trình kiểm toán. Tuy nhiên, qua thời gian thực tập
và đợc tìm hiểu thực tế kiểm toán CPSX SP tại Công ty cho thấy chơng trình kiểm
toán CPSX SP vẫn có một số hạn chế nhất định khi so sánh với lý luận về kiểm
toán CPSX SP.
Thứ nhất, chơng trình kiểm toán khoản mục CPSX SP không đề cập đến nội
dung khâu lập kế hoạch kiểm toán, trên thực tế Công ty AASC có xây dựng kế
hoạch kiểm toán nhng đây là kế hoạch cho cuộc kiểm toán BCTC, việc lập kế
hoạch kiểm toán cho từng khoản mục cha đợc quan tâm. Hạn chế này một phần là
do vấn đề về thời gian và chi phí kiểm toán mà Công ty AASC nói riêng và các
Công ty kiểm toán nói chung tại Việt Nam gặp phải.
Thứ hai, trong chơng trình kiểm toán khoản mục CPSX SP, việc mô tả hệ
thống KSNB mới chỉ sử dụng phơng pháp tờng thuật và sử dụng Bảng câu hỏi về
hệ thống KSNB mà cha thấy sử dụng phơng pháp lu đồ.
Thứ ba, cũng nh nhiều các Công ty kiểm toán khác, AASC cũng cha đa ra
các thủ tục kiểm toán số d đầu năm đối với những khách hàng kiểm toán lần đầu.
Thứ t, chơng trình kiểm toán của AASC mặc dù đợc đánh giá là khá chắt chẽ
và có hiệu quả, song đó là chơng trình chung cho mọi khách hàng. Mặt khác mỗi


một loại hình doanh nghiệp thì lại có đặc điểm riêng, chính vì vậy việc thực hiện
chung một chơng trình kiểm toán cho mọi khách hàng có thể nói là cha thực sự
hiệu quả.
1
Sinh viên Nguyễn Thị Nhung 1 Lớp Kiểm toán 44
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng ĐH KTQD
3.1.2. Đánh giá việc thực hiện chơng trình kiểm toán khoản mục CPSX SP.
Đánh giá việc thực hiện chơng trình kiểm toán khoản mục CPSX SP đợc xem
xét trong cả 5 giai đoạn của quy trình kiểm toán khoản mục SPSX SP.
Giai đoạn 1: Khảo sát và đánh giá khách hàng
Trong giai on ny thỡ ngun khỏch hng Cụng ty cú c ch yu da
trờn uy tớn ca Cụng ty, mi quan h ca Ban Giỏm c, cỏc thnh viờn trong
Cụng ty v thụng qua hot ng tip th, gi Th cho hng. Tuy nhiên, trên thực
tế việc tìm kiếm nguồn khách hàng lại chủ yếu tập trung vào Ban Giám đốc và
lãnh đạo các phòng, còn các thành viên hầu nh không chủ động tham gia giới
thiệu, tiếp thị về Công ty để tìm kiếm khách hàng.
Giai on 2: Ký hp ng cung cp dch v.
Các hợp đồng kiểm toán đợc ký kết giữa khách hàng đợc kiểm toán và Công
ty đợc thc hiện theo đúng quy định của Công ty và của Nhà nớc về hợp đồng kinh
tế và phù hợp với chuẩn mực kiểm toán số 210 Hợp đồng kiểm toán .
Giai on 3: Lp k hoch kim toỏn v thit k chng trỡnh kim toỏn.
Lp k hoch kim toỏn.
Ti Cụng ty AASC, việc lập k hoch kim toỏn chin lc, k hoch kim
toỏn tng th cha thực sự đợc chú trọng. Cụ thể là trong hồ sơ kiểm toán của các
cuộc kiểm toán cha thờng xuyên lu kế hoạch kiểm toán chiến lợc và kế hoạch
kiểm toán tổng thể, mặt khác trong giấy tờ làm việc của KTV cũng không thấy ghi
kế hoạch về thời gian kiểm toán khi tiến hành kiểm toán BCTC nói chung và kiểm
toán CPSX SP nói riêng.
Trong giai đoạn này, việc lựa chọn đội ngũ KTV tham gia cuộc kiểm toán
cũng đợc xem là một công việc khá quan trọng quyết định đến hiệu quả của cuộc

kiểm toán. Trên thực tế, tại AASC việc lựa chọn KTV tham gia kiểm toán đợc
đánh giá khá tốt. Sau khi ký hợp đồng kiểm toán, Ban giám đốc Công ty sẽ phân
công về một phòng cụ thể chịu trách nhiệm kiểm toán khách hàng đó, sau đó lãnh
đạo phòng lựa chọn đội ngũ KTV tham gia cuộc kiểm toán. Việc lựa chọn này căn
cứ vào tình hình nhân sự của phòng lúc bấy giờ, năng lực và thế mạnh của từng
kiểm toán viên. Do đó, không phải bất cứ một cuộc kiểm toán khách hàng thờng
xuyên nào thì đội ngũ KTV tham gia cuộc kiểm toán cũng đợc giữ nguyên nh năm
trớc. Việc bố trí nhân sự này một mặt cũng gặp phải khó khăn do KTV lần đầu
tiên tham gia kiểm toán khách hàng nên mất nhiều thời gian hơn trong khâu tìm
hiểu về khách hàng trong giai đoạn đầu của cuộc kiểm toán cũng nh trong quá
trình thực hiện cuộc kiểm toán. Mặt khác, cách bố trí nhân sự tham gia cuộc kiểm
2
Sinh viên Nguyễn Thị Nhung 2 Lớp Kiểm toán 44
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng ĐH KTQD
toán nh thế này cũng tạo điều kiện cho các KTV có đợc sự hiểu biết phong phú
hơn, giúp họ có thêm đợc kinh nghiệm trong công việc kiểm toán.
Thực hiện các thủ tục phân tích, thủ tục kiểm soát và thủ tục kiểm tra chi tiết.
Về thủ tục phân tích, trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, tại Công ty
việc thực hiện các thủ tục phân tích cũng cha đợc quan tâm đúng mức, các thủ
tục này ít đợc thực hiện. Mặt khác, kết quả của các thủ tục phân tích rất ít khi đợc
kiểm toán viên thể hiện rõ ràng trên giấy tờ làm việc mặc dù có thể là kiểm toán
viên có sử dụng thủ tục phân tích để đánh giá sơ bộ về rủi ro đối với khoản mục
trên BCTC nói chung và khoản mục CPSX SP nói riêng.
Về thủ tục kiểm soát, theo lý thuyết thì các thủ tục kiểm soát sẽ đợc thực
hiện khi KTV đánh giá hệ thống KSNB là hoạt động có hiệu quả. Tuy nhiên, trên
thực tế các KTV thờng ít sử dụng thủ tục kiểm soát, mặc dù có những khách hàng
hệ thống KSNB của họ đợc đánh giá là khá hiệu quả nhng KTV vẫn đánh giá rủi
ro kiểm soát ở mức cao và thờng không sử dụng hệ thống KSNB của đơn vị. Điều
này là một hạn chế mà AASC cần phải khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả của
cuộc kiểm toán.

Về thủ tục kiểm tra chi tiết, đây là một công việc chiếm nhiều thời gian nhất
của một cuộc kiểm toán nhng kết quả mà nó mang lại là đáng tin cậy nhất. Trên
thực tế, công việc kiểm tra chi tiết hiện đang thực hiện tại AASC đợc đánh giá là
khá tốt và khá hiệu quả.
Giai đoạn 4: Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Về thực hiện các thủ tục kiểm soát.
Trong quá trình thực hiện kiểm toán hiện nay tại AASC, các thủ tục kiểm
soát cha thực sự đợc chú trọng, các KTV có thực hiện các thủ tục này nhng khá sơ
sài và thờng không đợc lu lại trên giấy tờ làm việc.
Về thực hiện các thủ tục phân tích.
Công ty AASC đã xây dựng đợc kỹ thuật phân tích kết hợp cả hai phơng pháp
phân tích xu hớng và phân tích tỷ xuất trong kiểm toán BCTC nói chung và kiểm
toán CPSX SP nói riêng. Điều này giúp KTV có đợc cái nhìn tổng quát về khoản
mục CPSX SP. Tuy nhiên, trong thực tế kiểm toán tại AASC, thủ tục phân tích đợc
sử dụng chủ yếu là phân tích xu hớng biến động của các khoản mục CPSX SP
thông qua các bảng tính chênh lệch chi phí qua các tháng trong năm và năm nay so
với năm trớc. Do vậy, kết quả phân tích cha mô tả hết đợc sự biến động của khoản
mục CPSX SP trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác.
3
Sinh viên Nguyễn Thị Nhung 3 Lớp Kiểm toán 44
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng ĐH KTQD
Mặt khác, trong phân tích KTV thờng sử dụng số liệu của nội bộ đơn vị đợc
kiểm toán mà ít kết hợp với việc phân tích trong mối quan hệ với các số liệu
khác cùng ngành. Điều này làm cho rủi ro trong đánh giá ban đầu của KTV về
khoản mục đợc kiểm toán có khả năng tăng lên.
Mặt khác, sau khi phân tích, KTV không thờng xuyên lu lại trên giấy tờ làm
việc của mình về nội dung phân tích, đặc biệt là phân tích tỷ suất. Điều này có
thể gây khó khăn cho việc soát xét, đánh giá kết quả kiểm toán sau này.
Về thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết.
Mỗi công ty kiểm toán đều có những đặc trng riêng trong phơng pháp kiểm

toán. Tại Công ty AASC thủ tục kiểm tra chi tiết đợc xem là thế mạnh và đợc thực
hiện khá tỉ mỉ. Công ty đã thiết kế đợc hệ thống các kỹ thuật kiểm tra chi tiết tơng
đối đầy đủ và thống nhất theo một quy trình. Cụ thể, quy trình kiểm toán khoản
mục CPSX SP đợc thực hiện thông qua việc đối chiếu giữa số liệu tổng hợp trên
BCTC, Báo cáo kiểm toán năm trớc với số liệu trên sổ tổng hợp (sổ cái), sau đó
đối chiếu với số liệu trên sô chi tiết. Cuối cùng là đối chiếu số liệu trên sổ chi tiết
với các chứng từ và tài liệu liên quan.
Nhìn chung, việc thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết đợc các KTV của AASC
thực hiện tơng đối đầy đủ và theo đúng nh chơng trình kiểm toán quy định, đồng
thời vận dụng linh hoạt cho từng đơn vị khách hàng.
Về ph ơng pháp chọn mẫu kiểm toán.
Hiện nay, tại AASC không có quy định cụ thể về phơng pháp chọn mẫu kiểm
toán mà việc chọn mẫu phụ thuộc vào kinh nghiệm của từng KTV.
Nếu KTV đánh giá hệ thống KSNB của khách hàng hoạt động không hiệu
quả thì KTV sẽ tiến hành chọn mẫu 100% để tiến hành kiểm tra, bên cạnh đó, nếu
KTV phán đoán rằng rủi ro kiểm toán tập trung ở các khoản mục chi phí mà phần
lớn các khoản chi phí này có liên quan trực tiếp tới khoản mục tiền mặt hay tạm
ứng thì KTV cũng có thể kiểm tra chọn mẫu 100%.
Ngợc lại, nếu KTV đánh giá hệ thống KSNB hoạt động hiệu quả thì khi đó
KTV sẽ tiến hành kiểm tra chọn mẫu theo tháng với các tháng có chi phí phát sinh
lớn. Tuy nhiên, khi hệ thống KSNB đợc đánh giá là hoạt động hiệu quả nhng trong
quá trình kiểm tra chọn mẫu, KTV phát hiện thấy có nhiều sai phạm trong phạm vi
mẫu chọn đó thì KTV vẫn có thể mở rộng quy mô mẫu chọn để đi đến kết luận
kiểm toán phù hợp và có những bút toán điều chỉnh cần thiết.
Ngoài ra, KTV còn phải tiến hành kiểm tra chi tiết toàn bộ trớc khi chọn mẫu
đối với các số d và nghiệp vụ có giá trị lớn hơn mức trọng yếu phân bổ cho các
4
Sinh viên Nguyễn Thị Nhung 4 Lớp Kiểm toán 44
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng ĐH KTQD
khoản mục đó. Tuy nhiên, trong một số trờng hợp nếu số lợng các nghiệp vụ phát

sinh với số tiền lớn là rất lớn thì KTV chỉ tập trung kiểm tra chi tiết đối với các
nghiệp vụ phát sinh có quy mô lớn.
Giai on 5: Phỏt hnh Bỏo cỏo kim toỏn
Về soỏt xột li h s kim toỏn trc khi ri khi vn phũng khỏch hng.
Quản lý và ghi chép giấy tờ làm việc.
Tại Công ty AASC, giấy tờ làm việc đợc thiết kế một cách khoa học, giúp
KTV linh hoạt trong công việc đồng thời việc ghi chép giấy tờ cũng thuận tiện.
Công ty cũng quy định rõ cách đánh tham chiếu giúp cho các KTV có thể tìm và
đối chiếu sô liệu một cách dễ dàng và cũng để thuận tiện cho công việc soát xét và
kiểm tra. Trên thực tế, việc ghi chép giấy tờ làm việc của các KTV đều thực hiện
đúng theo quy định của Công ty.
Soỏt xột li h s kim.
Tại AASC, việc soát xét giấy tờ làm việc hiện nay do trởng nhóm kiểm toán
thực hiện. Kết thúc mỗi cuộc kiểm toán nhóm trởng tiến hành thu thập và soát xét
giấy tờ làm việc của các KTV trên các nội dung:
- Tính tuân thủ trong cách trình bày giấy tờ làm việc.
- Tình đầy đủ và thuyết phục của các bằng chứng kiểm toán và chơng trình
kiểm toán.
- Tính chính xác của số liệu trình bày trong giấy tờ làm việc của các KTV.
Về tổng kt li kt qu cụng vic ó thc hin.
Sau khi soát xét và tổng hợp giấy tờ làm việc, nhóm trởng đa ra kết luận cuối
cùng về mục tiêu kiểm toán khoản mục CPSX SP và đa ra kiến nghị với đơn vị
khách hàng trong nhận xét kiểm toán.
Về việc lp ti liu soỏt xột qua 3 cp v tng hp cỏc sai sút ngh iu
chnh d tho phc v cho mc ớch kim soỏt cht lng.
Hiện nay, việc thực hiện soát xét 3 cấp đợc áp dụng tại AASC khá nghiêm
ngặt nhằm phát hành ra các Báo cáo kiểm toán đảm bảo độ chính xác cao nhất.
Cấp soát xét thứ nhất: Trởng nhóm kiểm toán tiến hành soát xét giấy tờ làm
việc của các KTV trớc khi đa ra các bút toán điều chỉnh trong Biên bản kiểm toán.
Cấp soát xét thứ hai: Lãnh đạo phòng tiến hành soát xét Báo cáo kiểm toán

trớc khi phát hành Báo cáo kiểm toán chính thức dựa trên các giấy tờ làm việc của
KTV và các bằng chứng kiểm toán mà các KTV thu thập đợc.
5
Sinh viên Nguyễn Thị Nhung 5 Lớp Kiểm toán 44
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng ĐH KTQD
Cấp soát xét cao nhất: Một ngời trong Ban Giám đốc tiến hành soát xét Báo
cáo kiểm toán trớc khi phát hành nhằm đảm bảo các Báo cáo kiểm toán đợc phát
hành phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính của đơn vị đợc kiểm toán.
(Việc soát xét 3 cấp tham khảo thêm ở phần 2.1.8. H thng k toỏn và
kiểm soát chất lợng áp dng ti Cụng ty).
Về việc liên kết các phần hành trong quá trình thực hiên kiểm toán.
Đây là một hạn chế của AASC cũng nh các công ty kiểm toán khác đó là cha
đạt đến sự kết hợp chặt chẽ các phần hành do tiếp cận kiểm toán BCTC theo khoản
mục. Bản thân cách tiếp cận này đã có hạn chế là tách biệt những khoản mục ở vị
trí khác nhau nhng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Đặc biệt phải kể đến là khoản
mục CPSX SP, khoản mục này là một chỉ tiêu tổng hợp liên quan đến nhiều khoản
mục trên BCĐKT và BCKQKD. Vì vậy, kiểm toán khoản mục CPSX SP mà không
kết hợp với các phần hành kiểm toán khác có liên quan thì khối lợng công việc
kiểm toán sẽ nhất nhiều và bị trùng lặp.
Trong quá trình thực hiện kiểm toán tại 2 khách hàng PL và TY, để khắc
phục hạn chế này các KTV đã có sự kết hợp giữa các phần hành liên quan tới
nhau. Cụ thể, một KTV thờng đợc giao nhiệm vụ kiểm toán các khoản mục có mối
liên hệ với nhau để thuận tiện cho việc đối chiếu và kiểm tra giữa các phần hành.
3.2. Phơng hớng hoàn thiện quy trình kiểm toán chi phí sản
xuất sản phẩm trong kiểm toán tài chính do AASC thực
hiện.
Quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính của AASC đợc xây dựng dựa trên sự
giúp đỡ về mặt kỹ thuật của Liên minh Châu Âu, quy trình này nhìn chung rất phù
hợp với đặc điểm các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trình thực
hiện, quy trình này vẫn còn có những hạn chế cần đợc hoàn thiện hơn nhằm nâng

cao hiệu quả của cuộc kiểm toán mà mục đích cuối cùng là nâng cao uy tín cho
Công ty. Qua thời gian thực tập tại Công ty Dịch vụ t vấnTài chính kế toán và
kiểm toán AASC, đợc tìm hiểu thực tế công tác kiểm toán nói chung và kiểm toán
khoản mục CPSX SP nói riêng tại một số khách hàng của Công ty, em xin mạnh
dạn đa ra một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện hơn nữa quy trình kiểm toán
CPSX SP trong kiểm toán báo cáo tài chính của Công ty.
3.2.1. Về công tác lập kế hoạch kiểm toán khoản mục CPSX SP.
Mục tiêu của việc lập kế hoạch kiểm toán nh đã biết chính là để có thể thực
hiện cuộc kiểm toán một cách có hiệu quả và theo đúng thời gian dự kiến. Nó
6
Sinh viên Nguyễn Thị Nhung 6 Lớp Kiểm toán 44
Chuyên đề tốt nghiệp Trờng ĐH KTQD
không chỉ là trách nhiệm của kiểm toán viên và công ty kiểm toán mà nó còn thực
sự có ý nghĩa cho mỗi cuộc kiểm toán, lập kế hoạch kiểm toán kết hợp hài hoà
công việc với nhau, đồng thời nó còn là căn cứ để công ty kiểm toán tránh đợc
những bất đồng với khách hàng.
Tại Công ty kiểm toán AASC, việc lập kế hoạch kiểm toán cha thực sự đợc
chú trọng. Vì vậy, Công ty nên tập trung nhiều hơn đến công tác lập kế hoạch
kiểm toán để đáp ứng yêu cầu của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 Lập
kế hoạch kiểm toán, đảm bảo chất lợng và hiệu quả hoạt động kiểm toán.
Về áp dụng chơng trình kiểm toán chung thiết kế cho mọi cuộc kiểm toán
và những thay đổi phù hợp với từng khách hàng.
Nh đã thấy, mặc dù chơng trình kiểm toán chung tại AASC đợc đánh giá là
khá phù hợp với đặc điểm của các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên trong khi áp
dụng chơng trình này để kiểm toán với các khách hàng khác nhau thì nó đã bộc lộ
một số những hạn chế. Để khắc phục những hạn chế này, Công ty nên soạn lại ch-
ơng trình kiểm toán cho phù hợp với đặc điểm riêng của khách hàng dựa trên ch-
ơng trình kiểm toán mẫu của Công ty. Khi đó, KTV ngay từ đầu đã phải có đợc
nhận định sơ bộ của mình liên quan đến hoạt động kinh doanh của đơn vị khách
hàng. Do đó có thể hạn chế ngay từ đầu những thủ tục kiểm toán không cần thiết

và tập trung hơn vào những thủ tục để xác định nhanh chóng những sai phạm có
thể xảy ra của đơn vị khách hàng giúp cuộc kiểm toán đợc tiến hành một cách
nhanh chóng và hiệu quả hơn, tiết kiệm đợc thời gian và chi phí cho cuộc kiểm
toán và giảm đợc rủi ro kiểm toán.
Về thủ tục kiểm soát.
Để khẳng định về sự thiết kế phù hợp và vận hành hữu hiệu của hệ thống
kiểm soát nội bộ tại đơn vị khách hàng, Công ty nên đa các thủ tục kiểm soát này
vào chơng trình kiểm toán. Các thủ tục này có thể thiết kế dới nhiều hình thức
khác nhau song đơn giản và phổ biến nhất vẫn là dới dạng câu hỏi, các câu hỏi này
nên đợc lập dới dạng câu hỏi đóng để việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ tại
đơn vị khách hàng không mất quá nhiều thời gian của một cuộc kiểm toán.
Đối với khoản mục chi phí sản xuất sản phẩm, kiểm toán viên có thể đa ra
bảng câu hỏi về hệ thống kiểm soát nội bộ nh sau:
Bảng 18. Câu hỏi về hệ thống KSNB đối với khoản mục chi phí NVL TT.
STT Nội dung phỏng vấn Có Không Ghi chú
1 Đơn vị có xây dựng định mức kinh tế, kỹ thuật
7
Sinh viên Nguyễn Thị Nhung 7 Lớp Kiểm toán 44

×