Tải bản đầy đủ (.docx) (37 trang)

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG TMCP HÀNG HẢI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (286.71 KB, 37 trang )

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TẠI SỞ GIAO
DỊCH NGÂN HÀNG TMCP HÀNG HẢI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
(2006 - 2008)
I Công tác thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch
Đánh giá và quản lý khoản vốn cho vay giữ một vai trò quan trọng trong hoạt
động tín dụng cũng như hoạt động kinh doanh đối với một định chế tài chính như ngân
hàng thương mại. Thẩm định tín dụng là hoạt động đánh giá dự án trước khi quyết định
cho vay hay không, trong đó thẩm định tài chính dự án là một khâu mang tính chất quyết
định nếu đứng trên phương diện của người cho vay vốn của Ngân hàng thương mại.
1. Tổng quan về thẩm định dự án đầu tư tại Sở giao dịch.
SGD là nơi tập trung nhiều dự án cho vay, để đảm bảo và nâng cao chất lượng cho
hoạt động huy động vốn và tín dụng, hiện nay tại SGD hình thành khối Khách hàng
Doanh nghiệp (KHDN) và Khách hàng cá nhân (KHCN) nhằm tận dụng mọi khả năng
kinh doanh. Tín dụng của bộ phận khách hàng doanh nghiệp luôn chiếm tỷ trọng cao so
với tổng dư nợ tại SGD đạt trên 85%. Con số trên cho thấy thành công của chính sách tín
dụng và cũng là thách thức đặt ra để tiếp tục phát triển trong hoạt động tín dụng, nhất là
tín dụng trung, dài hạn.
Thẩm định dự án là sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích để kiểm tra, đánh
giá mức độ tin cậy và rủi ro của dự án mà khách hàng đề xuất, với mục tiêu làm căn cứ
cho việc ra quyết định cho vay. Công tác thẩm định tại SGD cố gắng phân tích và làm
sáng tỏ tính khả thi thực sự của dự án về mặt kinh tế khi đứng trên góc độ ngân hàng.
Nhận xét chung đối với khâu lập dự án của khách hàng đó là thường thổi phổng và có
những ước lượng quá lạc quan về hiệu quả kinh tế, cố gắng đưa ra một dự án khả thi để
trình diện các cơ quan quản lý và với ngân hàng. Mục đích của công tác thẩm định được
quán triệt là đánh giá một cách chính xác và trung thực khả năng trả nợ của khách hàng,
điều này không những đem lại lợi ích cho ngân hàng mà qua khâu thẩm định này một lần
nữa dự án của khách hàng sẽ được kiểm tra, rà soát trên mọi phương diện, tránh việc đầu
tư sai lầm hoặc bỏ qua một dự án có khả năng đem lại hiệu quả cao nhưng chưa được xây
dựng đúng cách.
1.1. Quy trình thẩm định dự án.
Công tác thẩm định tại SGD nói chung khá hoàn thiện và bao gồm các bước chủ


yếu sau
1
:
1 Hướng dẫn, tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ tín dụng của khách hàng
2 Thẩm định các điều kiện vay vốn và hồ sơ tín dụng
3 Phê duyệt (xét duyệt và quyết định) cho vay
4 Hoàn chỉnh hồ sơ tín dụng (hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay, mua bảo hiểm
cho tài sản và hoàn chỉnh các hồ sơ có liên quan khác)
5 Tiếp nhận, phong tỏa, quản lý tài sản bảo đảm tiền vay
6 Cập nhật hồ sơ tín dụng bằng văn bản và bằng dữ liệu điện tử máy tính
7 Giải ngân khoản vay và hạch toán
8 Theo dõi, kiểm tra khoản vay và khách hàng vay
9 Thu hồi nợ gốc, lãi và phí cho vay
10 Xem xét xử lý những khoản vay có vấn đề
11 Giải tỏa tài sản bảo đảm tiền vay
12 Thống kê, báo cáo tín dụng
13 Tất toán khoản vay và lưu giữ hồ sơ tín dụng
1.2. Nội dụng thẩm định dự án
Với mục tiêu tìm hiểu, phân tích các thông tin để làm căn cứ quyết định cho vay
và giảm xác suất sai lầm dựa trên cơ sở đánh giá khách hàng và dự án đầu tư, ước lượng
rủi ro ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ khi cho vay. Tại SGD, thẩm định hồ sơ vay vốn
tập trung vào các nội dung thẩm định khách hàng, thẩm định dự án đầu tư, thẩm định tài
sản bảo đảm.
Sơ đồ 1: NỘI DUNG THẨM ĐỊNH HỒ SƠ DỰ ÁN
1 Điều 41, chương IV - Quy chế cho vay đối với khách hàng của Ngân hàng TMCP Hàng hải và QUYẾT
ĐỊNH số 1627/2001/QĐ-NHNN (Đã sửa đổi bổ sung theo QĐ 127 và QĐ 783) của Ngân hàng Nhà nước.
Thẩm định khía cạnh kỹ thuật
Thẩm định thị trường dự án
Thẩm định điều kiện pháp lí
Thẩm định hiệu quả KT - XH

1.2.1. Thẩm định khách hàng
Công tác thẩm định khách hàng bao gồm 2 nội dung
2
, thứ nhất là thẩm định tư
cách pháp lý, thứ hai là thẩm định năng lực tài chính của khách hàng.
- Thẩm định tư cách pháp lý: nhằm phát hiện xem khách hàng có thỏa mãn những
điều kiện vay vốn được chỉ ra trong quy chế tín dụng như tư cách pháp nhân, năng lực
pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và mục đích vay vốn của khách hàng phù hợp
với hoạt động kinh doanh, khả năng quản lí của doanh nghiệp cũng như với điều kiện
pháp lí. Bên cạnh đó còn phân tích uy tín của khách hàng trong quan hệ sản xuất kinh
doanh, quan hệ tín dụng với các tổ chức tín dụng khác nhằm đánh giá khả năng, ý thức trả
nợ.
- Thẩm định năng lực tài chính: nội dung này nhằm đánh giá tình hình hoạt động
sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của khách hàng. Các số liệu phía ngân hàng
yêu cầu bao gồm như báo cáo tài chính của các kỳ gần nhất, gồm báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh, bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bảng thuyết minh
báo cáo tài chính. Dựa vào các báo cáo này, cán bộ tín dụng sẽ phân tích để đưa ra đánh
giá về chiều hướng phát triển, tình hình hoạt động, tình hình sử dụng tài sản, khả năng tự
cân đối các nguồn tiền của khách hàng cũng như sự phù hợp của dự án đối với doanh
nghiệp và khả năng hỗ trợ tài chính chính cho dự án. Nguồn tài liệu này còn là cơ sở để
đánh giá xếp hạng tài chính doanh nghiệp.
Yêu cầu đối với thẩm định năng lực tài chính trước hết cần thẩm định mức độ tin
cậy của các báo cáo tài chính, phân tích các tỷ số tài chính và cuối cùng là đưa ra các
đánh giá.
Để đảm bảo mức độ tin cậy của khách hàng nhất là khách hàng có giá trị khoản
vay lớn, ngân hàng đều yêu cầu cung cấp báo cáo tài chính sau khi kiểm toán tuy nhiên
điều này trên thực tế chưa thể thực hiện đối với đại đa số các dự án vay vốn vì vậy các
cán bộ ngân hàng lại là người trực tiếp thẩm định mức độ tin cậy của báo cáo tài chính.
Các nhóm chỉ tiêu tỷ số tài chính
3

bao gồm:
• Khả năng thanh toán
+ Khả năng thanh toán ngắn hạn =
2 Điều 9 – quy chế cho vay của MSB
3 Điều 4 – chương II – quy chế xếp hạng khách hàng Doanh nghiệp trên toàn bộ hệ thống MSB
+ Khả năng thanh toán nhanh =
• Chỉ tiêu hoạt động
+ Vòng quay hàng tồn kho =
+ Vòng quay các khoản phải thu =
+ Vòng quay vốn lưu động =
+ Hiệu quả sử dụng tài sản =
• Khả năng tự tài trợ
+ Hệ số tự tài trợ = x 100%
+ Hệ số đòn bẩy =
• Khả năng sinh lời
+Tốc độ tăng trưởng doanh thu =x100%
+ Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận = x 100%
+ Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) = x 100%
+ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn (ROE) = x 100%
1.2.2. Thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án là một khâu quan trọng trong quá trình thẩm định hồ sơ vay vốn.
Nội dung bao gồm thẩm định tính pháp lý của dự án sau đó tiến hành thẩm định các khía
cạnh như thị trường, kỹ thuật, tài chính, nhân sự và kinh tế - xã hội của dự án.
- Thẩm định mục đích và các điều kiện pháp lý của dự án: kiểm tra tính hợp lệ và
sự đầy đủ của hồ sơ trình duyệt, qua đó đánh giá mục tiêu dự án có phù hợp với quy
hoạch kinh tế của ngành, của địa phương, vùng lãnh thổ và sự phù hợp với các chính sách
phát triển kinh tế, chính sách ưu đãi hay hạn chế kinh doanh sản xuất hay không. Xác
định loại hình dự án là dự án xây dựng mới, dự án mở rộng nâng cao công suất, dự án đầu
tư chiều sâu, hợp lí hoá quá trình sản xuất hay là dự án kết hợp đầu tư chiều sâu, hợp lí
hoá quá trình sản xuất và mở rộng nâng cao công suất để từ đó áp dụng từng nội dung

tính toán cho phù hợp.
- Thẩm định khía cạnh thị trường của dự án: các vấn đề cần xác định rõ đó là thị
trường đầu vào, đầu ra của dự án; xác định thế mạnh, lợi thế cạnh tranh, thị phần sản
phẩm dự án; trên cơ sở đó để đánh giá việc lựa chọn quy mô sản xuất, công nghệ, kỹ
thuật, bộ máy quản lý, nhân công và dự kiến khả năng tiêu thụ, ước tính doanh thu của dự
án. Thẩm định khía cạnh thị trường là bước khởi đầu quan trọng, cần có sự đánh giá chính
xác vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới các giai đoạn sau của dự án là thẩm định phương án kỹ
thuật và thẩm định tài chính.
- Thẩm định khía cạnh kỹ thuật của dự án: đòi hỏi cán bộ tín dụng có sự đánh giá
chính xác trong khâu tính toán các thông số kỹ thuật, kiểm tra sự phù hợp của máy móc
thiết bị với môi trường kinh doanh, môi trường tự nhiên, tránh tình trạng bị hao mòn quá
nhanh (bao gồm cả hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình) và có sự phù hợp với tình
hình tài chính của dự án cũng như phù hợp với khả năng vận hành của chủ đầu tư để từ đó
đề ra phương án kỹ thuật hợp lí, làm cơ sở cho xây dựng dòng tiền của dự án.
- Thẩm định khía cạnh nhân lực và tổ chức quản lý: thẩm định năng lực, trình độ,
chuyên môn, kinh nghiệm cũng như khả năng quản lí, khai thác dự án. Đây là khía cạnh
thường ít được quan tâm khi thẩm định dự án tuy nhiên do nhận thức được tầm ảnh
hưởng của vấn đề nên trong quy trình thẩm định, các cán bộ tín dụng tại đây rất chú trọng
để phân tích nhu cầu nhân lực và trình độ tổ chức quản lý của dự án. Thực tế cho thấy rất
nhiều dự án dù tính toán chi phí và hiệu quả kinh tế vẫn thất bại khi thực hiện mà nguyên
nhân dẫn đến lại là do trình độ quản lý yếu kém, nhân lực không đủ trình độ đáp ứng yêu
cầu kỹ thuật.
- Thẩm định tài chính dự án: đây là nội dung lớn, là khía cạnh chính trong quá
trình thẩm định dự án; là căn cứ quan trọng để đánh giá hiệu quả của dự án và trên cơ sỏ
đó đánh giá được khả năng trả nợ của khách hàng. Nội dung thẩm định dự án có mối liên
hệ mật thiết đối với các nội dụng khác của công tác thẩm định trong đó khía cạnh thị
trường và phương án kỹ thuật cùng tổ chức quản lí là 3 nội dung quan trọng nhất. Nội
dung thẩm định tài chính này sẽ được đề cập chi tiết hơn trong phần sau.
- Thẩm định hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án: đứng trên góc độ ngân hàng thì
hiện nay khía cạnh này vẫn đang còn được phân tích khá hạn chế, chưa có sự quan tâm

đúng đắn khi đánh giá các tác động của dự án tới môi trường tự nhiên, môi trường văn
hóa, xã hội.
1.2.3. Thẩm định tài sản bảo đảm
Hoạt động tín dụng của ngân hàng là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Mặc
dù đã trải qua các khâu thu thập, xử lý, phân tích và thẩm định cả khả năng trả nợ của dự
án, của khách hàng trước khi ra quyết định cho vay nhưng vẫn chưa thể loại bỏ được
những rủi ro tín dụng. Bảo đảm tiền vay là cách thức ràng buộc khách hàng để thu hồi nợ
và giảm thiểu rủi ro tín dụng đã được sử dụng hiệu quả đối với các dự án tại SGD.
4
Để đảm bảo tiền vay thực sự thực sự có hiệu quả đòi hỏi giá trị bảo đảm phải lớn
hơn nghĩa vụ được bảo đảm, tài sản dùng làm bảo đảm nợ vay phải tạo ra dòng tiền tức là
có giá trị và có thị trường để tiêu thụ, cuối cùng tài sản bảo đảm phải có đầy đủ cơ sở
pháp lý để người cho vay có quyền xử lý tài sản bảo đảm.
Các cách thực hiện bảo đảm tín dụng bao gồm bảo đảm bằng tài sản thế chấp, bảo
đảm bằng tài sản cầm cố, bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay và bảo đảm bằng
hình thức bảo lãnh của bên thứ ba.
- Bảo đảm bằng tài sản thế chấp: tài sản thế chấp là bất động sản thuộc quyền sở
hữu của bên đi vay (nhà ở, cơ sở sản xuất kinh doanh và các tài sản khác gắn liền với
chúng) hoặc giá trị quyền sở hữu đất hợp pháp.
- Bảo đảm bằng tài sản cầm cố: là cách thức bên đi vay giao tài sản là các động
sản thuộc sở hữu để đảm bảo khả năng trả nợ như máy móc thiết bị, phương tiện đi lại...
- Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay: là cách thức khách hàng sử dụng tài
sản có giá trị được tại ra bởi một phần hoặc toàn bộ khoản vay của ngân hàng. Tuy nhiên
đây không phải là cách thức được sử dụng rộng rãi mà nó chỉ áp dụng đối với các dự án
được ưu tiên như các dự án thực hiện theo quyết định của Chính phủ hay các dự án trung,
dài hạn đầu tư phát triển của khách hàng có tín nhiệm, khách hàng truyền thống, khách
hàng có khả năng tài chính lành mạnh, có dự án đầu tư khả thi hay những dự án có mức
vốn tự có ít nhất đạt 70% tổng vốn đầu tư.
- Bảo đảm tín dụng bằng hình thức bảo lãnh: đây là cách thức thực hiện bảo đảm
thông qua sự bảo lãnh của bên thứ ba, bên này sẽ thực hiện đầy đủ mọi nghĩa vụ thay cho

bên đi vay đối với bên cho vay. Có hai loại bảo lãnh là bảo lãnh bằng tài sản và bảo lãnh
bằng tín chấp.
Việc thẩm định giá trị pháp lí của tài sản bảo đảm là rất cần thiết, các tài sản đảm
bảo như nhà xưởng, đất đai, phương tiện đi lại hay những tài sản hình thành từ chính dự
án vay vốn... cần phải thẩm định quyền sở hữu để làm chứng thực cho tài sản đó.
Bên cạnh việc thẩm định giá trị pháp lí, thẩm định giá trị thị trường tài sản bảo
đảm nợ vay lại rất quan trọng bởi điểu kiện pháp lí mới là điều kiện cần chứ chưa phải là
4 Bảo đảm tiền vay được thực hiện theo Nghị định 178/1999/NĐ – CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm
tiền vay của các tổ chức tín dụng và Nghị định 85/2002/NĐ – CP ngày 25/10/2002 về sửa đổi, bổ sung
Nghị định 178
điều kiện đủ đảm bảo khả năng thanh lí tài sản để thu hồi nợ khi cần thiết. Khi tiến hành
thẩm định tài sản bảo đảm, các cán bộ tín dụng thường tiến hành phân loại loại hình tài
sản: tài sản hữu hình và tài sản vô hình để thuận lợi cho việc đánh giá dòng tiền theo giá
trị thị trường.
1.3. Phương pháp thẩm định dự án
Nhìn chung, phương pháp thẩm định tại SGD là sự kết hợp nhuần nhuyễn các
phương pháp vốn có, đó là sự kết hợp giữa 5 phương pháp thẩm định phổ biến; thẩm định
theo trình tự kết hợp thẩm định theo phương pháp so sánh đối chiếu các chỉ tiêu cùng với
phương pháp dự báo thống kê và phương pháp phân tích độ nhạy, triệt tiêu rủi ro để tiến
hành phân tích toàn bộ các nội dung của dự án.
Trên cơ sở các thông tin thu thập được, việc lựa chọn phương pháp thẩm định rất
quan trọng. Phương pháp thẩm định đưa ra cách thức xử lí thông tin để cán bộ thẩm định
đánh giá một cách hiệu quả nhất. Cụ thể đó là khi tiến hành thẩm định một dự án, cách
thức tiến hành thẩm định luôn tiến hành từ thẩm định tổng quát đến thẩm định chi tiết
(thẩm định theo trình tự); thẩm định tổng quát nhằm đánh giá tính đầy đủ, hợp lí của dự
án trong hồ sơ dự án, tính pháp lí của chủ đầu tư... để từ đó có cái nhìn tổng quan nhất về
dự án; thẩm định chi tiết nhằm phát hiện ra những thiếu sót của dự án để hoàn tất các nội
dụng thẩm định. Khi tiến hành thẩm định theo trình tự như trên, quy trình thẩm định cũng
gắn kết phương pháp so sánh, đánh giá theo mỗi nội dung cần thẩm định làm cơ sở trong
cả đánh giá tổng quát dự án và cả đánh giá chi tiết dự án. Trong quá trình phân tích,

phương pháp dự báo là công cụ hữu hiệu để đưa ra dự báo các thông số chi phí, doanh thu
trong suốt quãng đời của dự án, với các phương pháp được sử dụng chính như phương
pháp định mức, lấy ý kiến chuyên gia, ngoại suy thống kê.
Phân tích độ nhạy và triệt tiêu rủi ro là phương pháp được sử dụng hỗ trợ lẫn nhau
khi thẩm định tài chính dự án cụ thể là đánh giá nội dung rủi ro vì dòng tiền của mỗi dự
án thường biến đổi theo nhiều yếu tố, mỗi yếu tố lại có một xu hướng biến đổi, dao động
riêng và không chỉ có từng yếu tố tác động riêng rẽ mà sẽ có nhiều yếu tố đồng thời tác
động lên dòng tiền của dự án như các yêu tố chi phí nguyên nhiên vật liệu, giá cả, lãi
suất... Từ đó sẽ giúp phía ngân hàng định dạng được những rủi ro theo từng giai đoạn và
yếu tố nhạy cảm nhất đối với dự án và đưa ra biện pháp quản lí cần thiết. Hiện nay, với sự
hỗ trợ của các phần mềm việc phân tích độ nhạy, nhất là phân tích theo nhiều chiều đã trở
nên dễ dàng hơn, tuy nhiên quan trọng vẫn là việc xác định được các yếu tố nhạy cảm,
mức độ biến động của các yếu tố đó.
2. Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án tại Sở giao dịch.
Trong quy trình thẩm định dự án đầu tư, để đảm bảo tính an toàn cho nguồn vốn
vay, các ngân hàng đều phải tiến hành thẩm định trên nhiều khía cạnh khác nhau, trong
đó thẩm định tài chính là khía cạnh được quan tâm lớn nhất, nó có ý nghĩa quyết định
trong các nội dung thẩm định.
2.1. Vai trò của công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư
Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của mỗi Ngân hàng thương mại,
trong đó tín dụng dự án luôn được đặc biệt quan tâm vì nó đòi hỏi vốn lớn, thời gian đầu
tư kéo dài, chịu nhiều tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội nên
tiềm ẩn nhiều rủi ro khó định trước. Thẩm định dự án đầu tư là công tác thiết yếu đối với
hoạt động tín dụng; cần phải được tiến hành trên mọi phương diện để có cái nhìn khách
quan trước khi cho vay, trong đó thẩm định tài chính dự án là một nội dung mắt xích của
thẩm định dự án, đây là một yêu cầu bắt buộc, mang tính chất tất yếu vì kết quả của nội
dung thẩm định tài chính có liên quan mật thiết tới mọi nội dung của thẩm định tài chính;
hơn nữa kết quả của nội dung này không những là cơ sở để đánh giá tính khả thi của dự
án mà qua đó còn là căn cứ để ngân hàng đánh giá khả năng thu hồi nợ của mình. Với
mục tiêu an toàn và sinh lời, ngân hàng chỉ cho vay đối với những dự án có hiệu quả tài

chính.
Công tác thẩm định tài chính có đạt hiệu quả hay không phụ thuộc vào chất lượng
thẩm định tài chính dự án. Dưới góc độ Ngân hàng, chất lượng thẩm định tài chính được
hiểu là tiêu chí để đánh giá sự đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của Ngân hàng thông qua các
tiêu chí như quy trình thẩm định khoa học và toàn diện, thời gian thẩm định nhanh chóng
và hiệu quả, phương pháp thẩm định khoa học và phù hợp, trình độ của đội ngũ cán bộ
thẩm định, mức độ rủi ro tín dụng thấp và có khả năng thu hồi nợ. Việc nâng cao chất
lượng công tác thẩm định tài chính ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng công tác thẩm định
và tới hoạt động cũng như uy tín của ngân hàng bởi nếu buông lỏng thẩm định tài chính
thì tỷ lệ nợ xấu gia tăng, ngân hàng sẽ phải đối mặt với việc khó khăn trong thu hồi gốc
và lãi, làm giảm uy tín và giảm hiệu quả kinh doanh.
Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác thẩm định tài chính bao gồm năng lực, trình độ
của cán bộ thẩm định; thông tin cho quá trình thẩm định; phương pháp, tiêu chuẩn thẩm
định; hệ thống trang thiết bị phục vụ quá trình thẩm định; công tác tổ chức thẩm định.
Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khách quan khác như tình hình kinh tế vĩ
mô, điều kiện pháp lí và chất lượng lập dự án của doanh nghiệp.
2.2. Phương pháp thẩm định tài chính dự án
Phương pháp thẩm định tài chính dự án được tiến hành dựa theo phương pháp
thẩm định chung. Như đã trình bày ở trên, thẩm định dự án có 5 phương pháp chính gồm
có thẩm định theo trình tự; thẩm định theo phương pháp so sánh, đối chiếu các chỉ tiêu;
phương pháp phân tích độ nhạy; phương pháp dự báo và phương pháp triệt tiêu rủi ro;
trong đó 3 phương pháp phổ biến hiện nay được ngân hàng sử dụng để thẩm định tài
chính là phương pháp so sánh, đối chiếu chỉ tiêu và phương pháp độ nhạy, triệt tiêu rủi ro.
Phương pháp so sánh, đối chiếu chỉ tiêu là cách thức ngân hàng so sánh, đối chiếu
các nội dung tài chính dự án với các tiêu chuẩn về thiết kế, tiêu chuẩn xây dựng, tiêu
chuẩn công nghệ, tiêu chuẩn sản phẩm, các chỉ tiêu cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư, các
định mức tiêu hao nguyên nhiên vật liệu... của những chuẩn mực luật pháp quy định cũng
như của kinh nghiệm thực tế, của các dự án tương tự trong thời gian gần để xác định tổng
vốn đầu tư, xác định tính hợp lí của dòng tiền và đánh giá hiệu quả dự án. Các chỉ tiêu
được lựa chọn dựa trên sự phù hợp của dự án theo thời gian, không gian với điều kiện và

đặc điểm cụ thể nơi dự án diễn ra.
Hai phương pháp phân tích độ nhạy và triệt tiêu rủi ro hiện đang được ngân hàng
áp dụng để đánh giá kiểm định tính an toàn, vững chắc của hiệu quả dự án; phương pháp
phân tích độ nhạy dựa trên việc tính toán để nhận biết các yếu tố nhạy cảm đối với dự án
còn phương pháp triệt tiêu rủi ro chủ yếu dựa trên các biện pháp kinh tế và hành chính
thích hợp để hạn chế thấp nhất hoặc phân tán rủi ro. Phân tích độ nhạy thường dự kiến
những tình huống xấu có thể xảy ra xung quanh sự biến động của các yếu tố chi phí đầu
tư, giá cả yếu tố đầu vào, giá thành đầu ra...; còn phương pháp triệt tiêu rủi ro lại đánh giá
rủi ro theo 2 giai đoạn là thực hiện dự án và sau khi đi vào hoạt động để có biện pháp
quản lí thích hợp như rủi ro do chậm tiến độ, rủi ro cung cấp dịch vụ kỹ thuật, rủi ro cung
cấp các yếu tố đầu vào, rủi ro thiếu vốn kinh doanh, rủi ro quản lí điều hành dự án.... Hai
phương pháp này được sử dụng tương hỗ với nhau để đánh giá toàn diện hơn rủi ro đối
với dự án.
2.3. Nội dung thẩm định tài chính dự án.
Các nội dung của thẩm định tài chính luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau, nội dung
bao gồm: thứ nhất là thẩm định tổng dự toán vốn đầu tư và các nguồn tài trợ cũng như
phương thức tài trợ vốn; thứ hai, thẩm định dòng tiền của dự án; thứ ba, thẩm định lãi
suất chiết khấu đối với dự án; thứ tư, thẩm định các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả tài
chính; thứ năm là đánh giá rủi ro trong dự án. Dựa trên các kết quả phân tích trên sẽ đưa
ra các kết luận chung về tính khả thi về tài chính của dự án để làm căn cứ ra quyết định
cho vay.
2.2.1. Thẩm định tổng dự toán vốn đầu tư và các nguồn tài trợ
Tổng mức dự toán vốn đầu tư là mức vốn đầu tư vào tài sản cố định và tài sản lưu
động để thiết lập và đưa dự án vào hoạt động, bao gồm vốn cho chuẩn bị đầu tư, vốn thực
hiện đầu tư, vốn cho giai đoạn kết thúc đầu tư, lãi vay và vốn lưu động ban đầu cho sản
xuất hoặc vốn lưu động bổ sung. Xác định tổng mức dự toán và độ biến động của chỉ tiêu
này có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình thực hiện dự án đầu tư. Phương pháp sử dụng
để tính toán tổng vốn đầu tư thường kết hợp giữa phương pháp cộng chi phí và phương
pháp định mức dựa trên việc so sánh đối chiếu với các dự án cùng loại khác hoặc những
dự án tương tự; đối với những dự án mới thì việc xác định tổng mức vốn đầu tư sẽ trở nên

khó khăn hơn vì chưa có cơ sở để phân tích mà chủ yếu dựa trên những ước lượng.
Dự toán tốt tổng vốn đầu tư sẽ đảm bảo dự án được diễn ra đúng tiến độ, đảm bảo
khối lượng công việc, giúp chủ đầu tư chủ động các tình huống có thể diễn ra nếu có sự
biến động ảnh hưởng tới dự án. Đồng thời là cơ sở để các ngân hàng quyết định mức vốn
cho vay, thời gian, quy mô, phương thức giải ngân vốn vay. Nếu dự toán mức vốn đầu tư
sai lệch nhiều so với thực tế phản ánh không chính xác các chỉ tiêu tài chính của dự án,
ngoài ra nếu quá thấp thì dự án sẽ thiếu hụt vốn, lâm vào tình trạng trì trệ, không thực
hiện được dự án; nếu dự toán vốn quá cao thì sẽ gây nên tình trạng lãng phí, sử dụng vốn
không hiệu quả. Vì vậy, khi thẩm tra tổng dự toán vốn đầu tư, tại SGD luôn chú ý kiểm
tra tính chính xác, đầy đủ các chỉ tiêu, thông số chi phí của dự án.
Không chỉ mức dự toán mà cơ cấu nguồn tài trợ cũng có ảnh hưởng tới kết quả các
chỉ tiêu tài chính, bởi xác định nguồn tài trợ cho dự án sẽ xác định cơ cấu vốn cho dự án.
Một dự án có cơ cấu vốn càng tối ưu, càng sử dụng được lợi thế của đòn bẩy tài chính thì
dự án càng có hiệu quả. Thông thường, mỗi một dự án được tài trợ bởi hai nguồn chính là
vốn chủ sở hữu và vốn vay, trong đó lượng vốn vay thường chiếm tỷ trọng lớn. Việc xác
định mức vốn đầu tư theo từng giai đoạn dự án là căn cứ để xây dựng bảng cân đối vốn
đầu tư đảm bảo khả năng huy động vốn phải luôn lớn hơn nhu cầu sử dụng vốn. Khi thẩm
định các nguồn tài trợ cho dự án phải thẩm định cả cơ sở pháp lí và khả năng huy động
của các bên.
Cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn
dài hạn (D/E), nó ảnh hưởng tới việc xây dựng dòng tiền của dự án và lựa chọn lãi suất
chiết khấu hợp lý. Đối với việc xác định dòng tiền phù hợp của dự án, cùng một khoản lợi
nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) thì việc sử dụng nợ theo một cơ cấu thích hợp sẽ làm
tăng giá trị của dự án cũng như của doanh nghiệp.
2.3.2. Thẩm định dòng tiền của dự án
Dòng tiền của dự án là sự chênh lệch giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra của dự án
theo từng năm.
Dòng tiền từng năm được kí hiệu là CF
i
, tùy vào cơ cấu vốn và phương thức trả nợ

thì có cách xác định CF
i
khác nhau. Trong trường hợp này ta chỉ đề cập tới cơ cấu vốn
hỗn hợp và do trong thực tế có hai phương thức thanh toán nên dòng tiền được xác định
như sau:
+ Thanh toán theo niên kim là xem trả lãi và vốn vay hàng năm là một dòng tiền ra
CF
i
= LNST + Khấu hao TSCĐ – trả gốc vay
CF
o
= vốn chủ sở hữu
+ Thanh toán theo phương thức lãi trả hàng năm, vốn trả vào năm cuối đời dự án
CF
i
= LNST + Khấu hao TSCĐ + lãi vay
CF
0
= vốn chủ sở hữu + vốn đi vay
Với các dự án có quy mô tương đối lớn tại SGD hiện nay, để đảm bảo tính an toàn
thì thường yêu cầu chủ đầu tư trả gốc và lãi vào cuối các năm theo yêu cầu về thời gian,
quy mô.
Để đảm bảo tính chính xác trong việc tính toán doanh thu, chi phí cần đảm bảo sự
đầy đủ về các tiêu chí thực thu, thực chi cũng như xác định hợp lý doanh thu, chi phí dựa
trên cơ sở so sánh với thực tế hoặc cân đối với giá thị trường. Doanh thu không chỉ có thu
từ sản phẩm chính mà còn bao gồm khoản thu từ sản phẩm phụ, phế liệu, phế phẩm, thu
từ thanh lí. Khi xác định, công tác thẩm định luôn chú trọng vào cách tính khấu hao và
cách xử lý lạm phát.
Hiện nay có rất nhiều phương pháp tính khấu hao khác nhau như khấu hao đều,
khao hao giảm dần theo giá trị còn lại... Mỗi phương thức khấu hao lại có cách xác định

thời gian và các khoản mục tính khấu hao khác nhau từ đó sẽ làm thay đổi chi phí và
dòng tiền của dự án. Lạm phát là yếu tố gây ảnh hưởng lớn tới kết quả của dự án, ước
lượng tỷ lệ lạm phát là điều kiện cần thiết tuy nhiên cũng cần phải chú ý rằng lạm phát
không chỉ tác động lên yếu tố đầu vào của dự án mà còn tác động lên sản phẩm đầu ra của
dự án; vì vậy điều kiện đủ khi xét đến tác động của lạm phát là cần đánh giá được mức độ
tác động lên doanh thu và chi phí của dự án. Nếu sự tác động là tương đối đồng đều thì ta
có thể bỏ qua yếu tố lạm phát, nếu lạm phát tác động làm tăng doanh thu lớn hơn hay nhỏ
hơn tới chi phí thì khi đó cần có sự đánh giá, ước lượng rõ ràng hơn để đảm bảo tính
chính xác của các chỉ tiêu tài chính.
Bên cạnh đó việc tính hợp lý việc phân bổ chi phí khác cũng được quan tâm chi
phí quản lý chung (chi phí quản lý, chi phí hành chính, chi phí bảo hiểm, tiền lương...),
các khoản thuế, nhất là thuế đầu vào, đầu ra, khoản thuế được khấu trừ. Tùy vào đặc thù
của từng dự án mà có sự điều chỉnh phù hợp với các chi phí này, như các dự án có sản
phẩm cần nhập khẩu nguyên vật liệu, xuất khẩu sản phẩm....
2.3.3. Thẩm định lãi suất chiết khấu
Lãi suất chiết khấu là chi phí cơ hội của vốn đầu tư, là cái giá mà chủ sở hữu vốn
đó (nói chung cho cả chủ đầu tư và ngân hàng) phải trả khi đầu tư vào dự án hay nói cách
khác đây là suất sinh lời yêu cầu tối thiểu mà dự án phải đạt được. Việc xác định chính
xác lãi suất chiết khấu là điều tối quan trọng để đánh giá độ tin cậy của NPV tuy nhiên
vấn đề xác định lãi suất chiết khấu của các dự án hiện nay vẫn đang còn khá đơn giản,
chủ yếu vẫn dựa trên lãi suất cho vay tức là chỉ xét trên quan điểm của ngân hàng, điều
này đồng nghĩa với việc đồng nhất rủi ro của ngân hàng là rủi ro của dự án và của doanh
nghiệp . Đứng trên góc độ doanh nghiệp khi tiến hành xác định lãi suất chiết khấu thường
mang tính chủ quan, ước lượng nhiều hơn là đánh giá thực tế, các doanh nghiệp thường
lấy mức lãi suất tiền gửi trên thị trường ngân hàng để tính toán.
Các yếu tố tác động đến việc lựa chọn tỷ suất chiết khấu đó là phân tích rủi ro, khả
năng sinh lời của dự án và việc lựa chọn cơ cấu vốn. Nếu rủi ro của dự án bằng rủi ro của
doanh nghiệp thì suất chiết khấu là chi phí cơ hội của vốn đầu tư, nếu độ rủi ro của dự án
cao hơn độ rủi ro của doanh nghiệp thì suất sinh lời tối thiểu của dự án phải cao hơn suất
sinh lời của doanh nghiệp. Lãi suất chiết khấu thường được xác định là lãi suất bình quân

của các nguồn vốn tài trợ dự án bao gồm vốn vay và vốn chủ sở hữu.
Chính vì vậy, để đảm bảo tính chính xác của lãi suất chiết khấu thì các dự án tại
SGD tiến hành thẩm định lại thông qua việc đánh giá xếp hạng doanh nghiệp theo 5 bước
bao gồm các khía cạnh như lĩnh vực kinh doanh, quy mô, đánh giá các chỉ tiêu tài chính
và phi tài chính.
- Bước 1: xác định ngành, lĩnh vực và cơ cấu doanh thu theo ngành nghề, lĩnh vực
Có 4 nhóm ngành, lĩnh vực là nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng và
dịch vụ, cơ sở phân loại là dựa vào kết quả hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp
đó. Việc xác định ngành, lịch vực kinh doanh là cơ sở cho các bước tiếp theo.
- Bước 2: chấm điểm quy mô
Đây là bước xác định loại doanh nghiệp lớn, trung bình hay nhỏ dựa trên tổng
điểm của các tiêu chí về vốn kinh doanh, lao động, doanh thu thuần và giá trị nộp ngân
sách.
- Bước 3: chấm điểm các chỉ tiêu tài chính
(Nội dung đã được trình bày ở phần thẩm định nội dung tài chính của khách hàng)
- Bước 4: chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính
Bao gồm các tiêu chí:
+ Các chỉ tiêu vĩ mô liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp: môi trường kinh
doanh, chu kỳ kinh doanh, triển vọng tăng trưởng của ngành,áp lực cạnh tranh, nguồn
cung ứng đầu vào.
+ Các chỉ tiêu liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp: thời gian hoạt động của
doanh nghiệp, đánh giá về sản phẩm, thị phần, công nghệ, tính ổn định của nguồn nguyên
liệu, địa điểm kinh doanh, loại hình doanh nghiệp, trình độ - tư cách – kinh nghiệm nhà
lãnh đạo.
+ Uy tín trong quan hệ tín dụng với tất cả các TCTD: trả nợ đúng hạn, số lần cơ
cấu lại thời hạn trả nợ, tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ vay của doanh nghiệp, tỷ lệ lãi quá
hạn trong vòng 12 tháng và số lần cam kết mất khả năng thanh toán (L/C, bảo lãnh, cam
kết khác...)
+ Mức độ quan hệ với MSB: mức độ quan hệ tín dụng, doanh thu chuyển qua
MSB/ tổng doanh thu trong 12 tháng qua, giá trị tài sản bảo đảm tại MSB/ dư nợ tại

MSB, cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác theo yêu cầu của MSB.
- Bước 5: tổng hợp điểm và xếp hàng khách hàng
Sau khi tổng hợp điểm, phần mềm sẽ tự động tính toán để xếp hạng doanh nghiệp.
Các thang hạng giảm dần như AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC, C.
Có thể thấy các tiêu chí khi đánh giá doanh nghiệp rất đầy đủ, nó đã bao gồm tất
cả mọi khía cạnh từ đánh giá các rủi ro tài chính, rủi ro phi tài chính, khả năng sinh lợi

×