Tải bản đầy đủ (.pdf) (29 trang)

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.63 MB, 29 trang )

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
MỤC LỤC
NỘI DUNG

TRANG

I. PHẦN MỞ ĐẦU

3

1. Lý do chọ đề tài

3

2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

4

3. Đối tượng nghiên cứu

4

4. Phạm vi nghiên cứu

4

5. Phương pháp nghiên cứu

4

II. PHẦN NỘI DUNG



5

1. Cơ sở lí luận 

5

2. Thực trạng

6

2.1. Thuận lợi, khó khăn

6

2.2. Thành công, hạn chế

7

2.3. Mặt mạnh, mặt yếu

7

2.4. Nguyên nhân

8

2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề mà thực trạng đặt ra

9


3. Giải pháp, biện pháp

10

3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp

10

3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp

11

3.3. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp

24

3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp

24

3.5. Kết quả  khảo nghiệm, giá trị  khoa học của vấn đề 

24

nghiên cứu
4. Kết quả  thu được qua khảo nghiệm, giá trị  khoa học 

25


Trường TH Lý Tự Trọng                        1              GV: Phạm Thị Thúy Lan


Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
của vấn đề nghiên cứu
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

25

1. Kết luận

25

2. Kiến nghị

26

Trường TH Lý Tự Trọng                        2              GV: Phạm Thị Thúy Lan


Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
I. PHẦN MỞ ĐẦU
 

1. Lí do chọn đề tài
Từ năm học 1995 – 1996 môn Tự nhiên và Xã hội được chính thức đưa 

vào dạy đại trà ở tiểu học. Đây là môn học được xây dựng trên cơ sở kế thừa  
và phát triển các môn học trước nó như  “Khoa học thường thức”, “Tìm hiểu  
khoa học”, “Tìm hiểu tự nhiên và xã hội”. Từ sau năm 2000 môn Tự nhiên và 

Xã hội được cấu trúc lại thành các môn Tự nhiên và Xã hội (lớp 1,2,3), Khoa 
học, Lịch sử và Địa lí (lớp 4,5). Các môn học này được kế thừa, bổ sung, hoàn  
thiện từ  các chủ  đề  và phân môn của môn Tự  nhiên và xã hội và môn Sức  
khỏe trước đây. Đây là môn học có vị  trí quan trọng giúp học sinh lĩnh hội 
những tri thức ban đầu và thiết thực về  con người, tự  nhiên và xã hội xung  
quanh. Từ đó giúp các em phát triển khả năng quan sát, năng lực tư duy, lòng 
ham hiểu biết khoa học và khả  năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Góp 
phần hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh.
Trong xu thế đổi mới của nền giáo dục, cùng với các môn học khác Tự 
nhiên và Xã hội là một môn học có nhiều sự đổi mới. Thế nhưng hiện nay có 
một bộ  phận giáo viên chưa thật sự  hiểu hết ý nghĩa, tầm quan trọng của 
môn Tự  nhiên và Xã hội, việc đổi mới phương pháp dạy học môn học này 
nên chưa thật sự từ bỏ thói quen dạy theo kiểu truyền đạt kiến thức sách vở 
theo lối học thụ động, một chiều. Vậy một giờ học Tự nhiên và Xã hội ở lớp 
2 được tiến hành ra sao để có hiệu quả ?
Mặc dù tất cả  giáo viên của trường tôi đều tích cực đổi mới phương  
pháp dạy học nhưng ở đâu đó vẫn còn tình trạng giờ học Tự nhiên và Xã hội  
vẫn diễn ra tẻ nhạt, trầm lắng với các hoạt động quen thuộc, nhàm chán, rất 
dễ  làm các em mệt mỏi. Điều đó đòi hỏi giáo viên cần có sự  thay đổi linh 
hoạt các hình thức tổ chức dạy học. 

Trường TH Lý Tự Trọng                        3              GV: Phạm Thị Thúy Lan


Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Từ trước đến nay đã có nhiều đồng nghiệp quan tâm và nghiên cứu về 
vấn đề  dạy và học môn Tự  nhiên và Xã hội. Nhưng  ở  đơn vị  tôi chưa có ai 
nghiên cứu về vấn đề này. Với mong muốn được góp phần nhỏ bé của mình 
vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tự  nhiên và Xã hội ở   ở  lớp 2A 
nói riêng và trường Tiểu học Lý Tự Trọng nói chung,  chính vì vậy mà tôi luôn 

trăn trở : Làm sao để giờ học Tự nhiên và Xã hội của lớp 2 đạt hiệu quả cao 
nhất ? Xuất phát từ  thực trạng dạy học môn Tự  nhiên và xã hội đã thúc đẩy  
tôi tìm tòi và nghiên cứu đề  tài: " Một số  biện pháp nâng cao chất lượng  
dạy ­ học môn Tự nhiên và Xã hội ở lớp 2".
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
­ Giúp giáo viên có một số biện pháp để  dạy tốt hơn môn  Tự nhiên và 
Xã hội.
­ Giúp học sinh hứng thú, yêu thích môn Tự  nhiên và Xã hội, phát huy 
được tính tích cực chủ  động, sáng tạo của học sinh  đồng thời trang bi, cung
̣
 
câp cho các em m
́
ột số biện pháp, kĩ năng để học tốt môn  Tự nhiên và xã hội. 
Điêu đó gop phân phát tri
̀
́
̀
ển toàn diện kiến thức, năng lực, phẩm chất của trẻ.
­ Nâng cao chất lượng dạy học môn Tự nhiên và xã hội ở lớp 2.
3. Đối tượng nghiên cứu
Một số  biện pháp nâng cao chất lượng dạy, học môn Tự  nhiên và Xã  
hội ở lớp 2 theo mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN).
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Học sinh lớp 2A, trường Tiểu học Lý Tự Trọng, huyện Krông Ana, tỉnh 
Đăk Lăk, năm học 2014 – 2015. 
Phương pháp dạy ­ học, nội dung chương trình môn Tự nhiên và Xã hội 
lớp 2.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trường TH Lý Tự Trọng                        4              GV: Phạm Thị Thúy Lan



Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp trải nghiệm
+ Phương pháp trò chơi
+ Phương pháp nghiên cứu, thu thập tài liệu
+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
+ Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
Tại hội nghị trung  ương lần thứ VIII, Đảng ta đã xác định rằng : “Đổi 
mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp 
hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế  thị  trường định hướng xã hội chủ 
nghĩa và hội nhập quốc tế”.  Trong xu thế  đổi mới của nền giáo dục nước  
nhà, Giáo dục Tiểu học đang tạo ra những bước chuyển dịch định hướng có  
giá trị. Những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học đã được thực 
hiện ở tất cả các trường tiểu học trong cả nước. Đây là con đường giúp  học 
sinh  tiếp cận với tri thức mới, nhằm thay  đổi cách dạy học truyền thống  
“thầy giảng trò nghe, thầy đọc trò chép”. Theo quan điểm dạy học mới, dạy 
học là quá trình học sinh tự khám phá, tự tìm ra chân lí. Phương pháp dạy môn 
Tự nhiên và Xã hội cũng không nằm ngoài định hướng đó. 
Tự  nhiên và xã hội là một môn học mang tính tích hợp cao. Tính tích  
hợp ấy được thể hiện ở chỗ : Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội xem xét 
tự nhiên, con người, xã hội trong một thể thống nhất, có mối quan hệ qua lại 
và tác động lẫn nhau. Các kiến thức trong chương trình môn Tự  nhiên và Xã 
hội là kết quả  của việc tích hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học như  :  
Sinh học, Vật lí, Hoá học, Dân số. Chương trình môn Tự  nhiên và Xã hội có  
Trường TH Lý Tự Trọng                        5              GV: Phạm Thị Thúy Lan



Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
cấu trúc phù hợp với nhận thức của học sinh đó là cấu trúc đồng tâm phát 
triển qua các lớp, cùng là một chủ đề dạy học nhưng ở lớp 1 kiến thức trang  
bị sơ giản hơn ở lớp 2. Và cứ như vậy mức độ kiến thức được nâng dần lên  
ở các lớp cuối cấp. Tự nhiên và Xã hội là một môn học có thể nói cung cấp,  
trang bị cho học sinh những kiến thức về tự nhiên và xã hội trong cuộc sống 
hàng ngày xảy ra xung quanh các em. 
Nhưng trong thực tế, một bộ  phận   giáo viên  và cả  học sinh vẫn còn 
những nhận thức chưa đúng về môn Tự nhiên và xã hội, xem nhẹ vai trò của 
Tự nhiên và Xã hội, thờ ơ với môn học này dẫn đến chất lượng dạy và học 
không cao. Như vậy muốn đào tạo con người phát triển toàn diện thì vấn đề 
cấp thiết là thay đổi cách dạy, cách học môn Tự nhiên và Xã hội.
2. Thực trạng  
2.1. Thuận lợi, khó khăn
* Thuận lợi
­  Được sự  quan tâm của các cấp và nhà trường, tạo mọi điều kiện 
thuận lợi cho giáo viên và học sinh về cơ sở vật chất. Đồ dùng dạy học được 
trang bị tương đối đầy đủ.
­ Sự  giúp đỡ  của đồng nghiệp nhất là những  giáo viên  trong tổ  2  đã 
giúp tôi hoàn thành đề tài này.
­ Giáo viên có điều kiện để tham khảo các tài liệu trên internet, sách báo 
có liên quan, tự học để nâng cao tay nghề và góp phần làm cho bài giảng thêm 
phong phú, sinh động hơn.
­ Chương trình môn Tự nhiên và xã hội lớp 2 theo mô hình trường học 
mới Việt Nam gọi tắt là VNEN được phân chia theo ba chủ đề: con người và 
sức khỏe; xã hội; tự nhiên. Cac 
́ bài học trong từng chủ đề  được cac nha biên
́

̀
 

Trường TH Lý Tự Trọng                        6              GV: Phạm Thị Thúy Lan


Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
soan săp xêp thanh môt hê thông va rât khoa hoc, kênh hình
̣
́ ́
̀
̣
̣
́
̀ ́
̣
 phong phú, kênh 
chữ rõ ràng, màu sắc đẹp. Phần nội dung cần thiết ngắn gọn, dễ nhớ. 
­ Giáo viên được thực hiện mô hình dạy học mới VNEN nên đã quen  
dần với việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học theo hướng tích cực 
hóa hoạt động học của học sinh. 
* Khó khăn
­ Mỗi bài học được tích hợp nhiều nội dung, nội dung bài khá dài  và 
dàn trải (mỗi bài từ 2 đến 3 tiết).
­  Một số  giáo viên và cả  học sinh chỉ  chú trọng vào hai môn Toán và 
Tiếng Việt nên không đầu tư  vào chất lượng dạy và học cho môn Tự  nhiên 
và Xã hội, dẫn đến tình  trạng giáo viên chỉ dạy qua loa, còn học sinh học hời 
hợt, học chỉ để hoàn thành chương trình.
­ Khả năng tập trung chú ý của học sinh lớp 2 còn nhiều hạn chế, kĩ năng 
quan sát, tưởng tượng còn yếu, khả năng ghi nhớ của các em còn chậm, máy móc. 

Tinh thần hợp tác học chưa cao, nhiều em chưa tự tin khi hợp tác trong nhóm, một  
số em còn học thụ động. Học sinh dân tộc thiểu số vốn từ ngữ, khả năng giao 
tiếp, lĩnh hội kiến thức còn hạn chế.
2.2. Thành công, hạn chế
* Thành công
Trước khi vân dung đ
̣
̣
ề tài này vào thực tế dạy học, tôi nhân thây:
̣
́
Từ khi trường tôi thực hiện chương trình thí điểm VNEN thì giáo viên 
và học sinh đã thay đổi cách dạy, cách học theo hướng tích cực, hợp tác. Giơ ̀
hoc 
̣ Tự  nhiên và Xã hội không con 
̀ kiểu truyền thụ  một chiều của giáo viên 
như  trươc, hoc sinh 
́
̣
chủ  động hơn trong việc lĩnh hội kiến thức. Kiến thức 
của môn hoc nay 
̣
̀ hết sức gần gũi, thiết thực và cần thiết đối với các em.

Trường TH Lý Tự Trọng                        7              GV: Phạm Thị Thúy Lan


Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Một số giáo viên bước đầu đã biết vận dụng các phương pháp dạy học 
tích cực tương đối phù hợp. Biết cách sử dụng, khai thác các đồ dùng dạy học 

môn Tự nhiên và Xã hội để đem lại hiệu quả cho tiết dạy.
* Hạn chế:
Bên cạnh đó một số  giáo viên  chưa thực sự  từ  bỏ  cách dạy học theo  
kiểu đàm thoại, giảng giải, truyền thụ một chiều,  áp dụng các phương pháp 
dạy Tự nhiên và xã hội còn khá máy móc, đơn điệu, chủ yếu hướng học sinh 
đến việc hoàn thành bài học, môn học chứ  chưa chú ý đến việc hình thành 
cho học sinh những kĩ năng khi học Tự  nhiên và Xã hội, học sinh biết được 
điều gì, hiệu quả mà tiết học mang lại là gì vẫn chưa được chú trọng.
2.3. Mặt mạnh, mặt yếu
* Mặt mạnh
Bản thân tôi đã có ba năm dạy lớp 2 nên cũng có chút ít kinh nghiệm khi 
dạy môn Tự nhiên và Xã hội. 
Một số  học sinh đã  biết cách làm việc,  khai thác  sách giáo khoa, đồ 
dùng dạy học, bước đầu các em đã có một số  kĩ năng như  quan sát và sắp 
xếp, phân tích tranh, ảnh; đọc, hệ thống hóa. 
Từ đó giúp các em ham thich hoc môn 
́
̣
Tự nhiên và xã hội hơn, thích tìm 
tòi, khám phá về  Tự nhiên và xã hội. Môn học này đã khơi gợi  ở các em tính 
tò mò, thích tìm hiểu về tự nhiên, con người, xã hội. Từ đó các em biết được 
những điều kì diệu trong cuộc sống, giúp các em thêm yêu cuộc sống và sống  
có trách nhiệm hơn.
* Mặt yếu
Tài liệu Hướng dẫn học môn Tự nhiên và Xã hội là sách “ba trong một” 
nó vừa là sách giáo viên vừa là sách học sinh, vừa là sách bài tập nên giáo viên  
không có sách hướng dẫn để làm cơ sở định hướng cho tiết dạy.
Trường TH Lý Tự Trọng                        8              GV: Phạm Thị Thúy Lan



Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
 Những kiến thức về  tự nhiên, xã hội thực sự quá rộng, có những điều 
mà con người cũng chưa thể  giải thích được.  Một số  kiến thức khá trừu 
tượng đối với nhận thức của học sinh lớp 2 vì vậy các em không thể hiểu hết  
được.
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
* Nguyên nhân dẫn đến thành công của đề tài
Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp quản lí giáo dục, sự giúp đỡ 
nhiệt tình của chị em trong tổ 2. 
Sự nhiệt huyết của một giáo viên trẻ cùng với tinh thần không ngừng học  
hỏi của bản thân. 
Sự đồng lòng hưởng ứng cách dạy học mới từ phía phụ huynh, sự quan tâm 
của gia đình các em, sự phối hợp giáo dục của ba lực lượng nhà trường ­ gia đình ­ 
xã hội giúp cho việc dạy học mang lại kết quả khả quan hơn.
Kiến thức môn Tự  nhiên và Xã hội rất gần gũi, cần thiết đối với học 
sinh nên các em rất tò mò, thích tìm hiểu, khám phá.
* Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém
Năm học 2014 – 2015 là năm học thứ ba chúng tôi sử dụng Sách Hướng dẫn 
học môn Tự nhiên và xã hội, đây là sách thử nghiệm nên vẫn còn một số bất cập, 
các bài học nội dung không tách bạch rõ ràng theo từng tiết như sách giáo khoa của 
chương trình hiện hành mà được tích hợp nhiều nội dung và mỗi bài thường học từ 
2 đến 3 tiết do vậy nội dung bài khá dài và dàn trải. 
Một số giáo viên chưa thật sự coi trọng môn học này, chưa mạnh dạn sáng 
tạo trong việc dạy học nên nhiều khi áp dụng máy móc, rập khuôn theo sách. Tài 
liệu về bồi dưỡng nghiệp vụ, rèn kĩ năng dạy học môn Tự nhiên và xã hội còn ít. 
2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra

Trường TH Lý Tự Trọng                        9              GV: Phạm Thị Thúy Lan



Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Năm học 2014 – 2015 là năm học tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm  
và giảng dạy lớp 2A, nhiều em gia đình rất khó khăn, có những em bố mẹ thường 
đi làm ăn xa nên không quan tâm nhiều đến việc học tập của con em mình. Chính 
vì vậy mà tôi luôn trăn trở  để  tìm biện pháp giúp  học sinh yêu thích học Tự 
nhiên và xã hội hơn, chất lượng môn học này khả quan hơn.
Từ lâu nay trong suy nghĩ của nhiều giáo viên và học sinh vẫn cho rằng  
Tự nhiên và Xã hội là môn học không được coi trọng, các em chỉ học qua loa 
còn phần lớn thời gian là dành để học Toán, học Tiếng Việt và mỗi lần kiểm 
tra giáo viên cũng chỉ kiểm tra khả năng làm toán, viết văn, khả năng đọc viết  
của các em chứ ít chú trọng đến kiểm tra kiến thức về Tự nhiên và Xã hội từ 
đó nảy sinh tâm lí xem thường môn học này dẫn đến chất lượng dạy học môn 
Tự nhiên và Xã hội chưa cao là điều khó tránh khỏi.
Năm học này cũng là năm thứ ba trường tiểu học Lý Tự Trọng thực hiện mô 
hình dạy học kiểu mới gọi tắt là VNEN. Với mô hình dạy học này cả giáo viên và  
học sinh phải chuyển đổi từ cách truyền thụ một chiều của giáo viên (thầy giảng 
trò nghe, thầy đọc trò chép) sang dạy học hợp tác ( dạy học theo nhóm, học sinh 
chủ động học tập, tự khám phá chiếm lĩnh kiến thức, giáo viên là người hướng 
dẫn, gợi mở để  học sinh nắm được kiến thức). Việc học hợp tác rèn cho các em 
các kĩ năng như kĩ năng làm việc, trao đổi trong nhóm, trong lớp; kĩ năng giao tiếp, 
tương tác giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên.
Sách Hướng dẫn học môn Tự  nhiên và Xã hội vừa là sách dùng cho học 
sinh vừa là sách dùng cho giáo viên, đồng thời cũng là sách bài tập. Sự kết hợp ba 
trong một này vừa tiện lợi nhưng cũng gây khó khăn cho giáo viên vì không có sách 
thiết kế bài giảng hay sách giáo viên để làm cơ sở cho việc dạy học. Nội dung bài 
dài thường từ 2 đến 3 tiết.
Chẳng hạn như bài : Cây sống ở đâu ? được dạy trong 3 tiết. Đây là sự tích  
hợp nội dung của 3 bài học trong sách giáo khoa  Tự nhiên và Xã hội của chương 
trình hiện hành. Đối với bài này giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu về môi 
Trường TH Lý Tự Trọng                        10              GV: Phạm Thị Thúy Lan



Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
trường sống của cây, nhận biết được một số loài cây sống trên cạn, một số loài 
cây sống dưới nước, ích lợi của những loài cây đó.
Học sinh phải đọc hiểu tốt mới tự học theo các câu lệnh trong sách nhưng  
trong thực tế ở lớp 2 một số em đọc hiểu còn chậm vì vậy ảnh hưởng đến tiến độ 
bài học. Mặt khác các kĩ năng như giao tiếp, hợp tác, lãnh đạo, giải quyết vấn đề 
của một số em còn rất hạn chế nhất là các em người dân tộc thiểu số các em rất 
rụt rè trong giao tiếp.  Mặt khác  môn học  Tự  nhiên và Xã hội  chỉ  được học 1 
tiết/tuần mà đối với học sinh tiểu học các em nhanh nhớ nhưng cũng nhanh quên  
cho nên nhiều nội dung các em không nhớ hết được dẫn đến việc hổng kiến thức. 
3. Giải pháp, biện pháp
3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
 

Để nâng cao hiệu quả dạy và học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2, tôi đã 

tiến hành một số biện pháp nhằm thay đổi cách dạy, cách học Tự nhiên và Xã 
hội, hình thành cho học sinh một số  kĩ năng như  kĩ năng quan sát, phân tích, 
thảo luận và hợp tác trong nhóm, giải quyết vấn đề  khi học Tự  nhiên và Xã 
hội. Đồng thời giúp giáo viên giảng dạy môn học này một cách hiệu quả hơn.
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
* Biện pháp 1: Giáo viên phải nắm vững nội dung chương trình 
sách giáo khoa môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2. 
Sách giáo khoa môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 chủ  yếu được trình bày  
bằng những hình  ảnh phong phú, sinh động, màu sác tươi sáng, kênh hình, 
kênh chữ phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học. Kênh hình 
vừa đóng vai trò cung cấp thông tin, là nguồn tri thức quan trọng của bài học,  
vừa đóng vai trò chỉ dẫn các hoạt động học tập thông qua các lôgô. 


Hoạt động cá nhân
Trường TH Lý Tự Trọng                        11              GV: Phạm Thị Thúy Lan


Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Hoạt động cặp đôi

Hoạt động nhóm

Hoạt động cả lớp

Hoạt động với cộng đồng
Kênh chữ  chủ yếu là các câu hỏi, các lệnh yêu cầu học sinh làm việc, 
cung cấp kiến thức của bài học. 
Chương trình môn Tự  nhiên và Xã hội lớp 2 theo mô hình trường học 
mới Việt Nam (VNEN) gồm 14 bài và 3 phiếu kiểm tra tương ứng với 35 tiết,  
được phân phối theo 3 chủ đề: Con người và sức khoẻ; Xã hội; Tự nhiên. 
Chủ đề: Con người và sức khoẻ (gồm 5 bài) : 
Bài 1: Vì sao chúng ta vận động được ?
Bài 2: Làm gì để xương và cơ phát triển ?
Bài 3: Thức ăn được tiêu hóa như thế nào ?
Bài 4: Ăn uống thế nào để cơ thể khỏe mạnh ?
Bài 5: Vì sao chúng ta phải ăn uống sạch sẽ ?
Phiểu kiểm tra 1.
Chủ đề xã hội (gồm 6 bài)
Bài 6: Gia đình thân yêu của em
Bài 7: Em cần làm gì khi ở nhà ?

Trường TH Lý Tự Trọng                        12              GV: Phạm Thị Thúy Lan



Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Bài 8: Trường học của chúng em 
Bài 9: Làm gì để trường học sạch sẽ và an toàn ?
Bài 10: An toàn khi đi trên các phương tiện giao thông.
Bài 11: Cuộc sống xung quanh em.
Phiểu kiểm tra 2.
Chủ đề Tự nhiên (gồm 3 bài)
Bài 12: Cây sống ở đâu ?
Bài 13 : Loài vật sống ở đâu ?
Bài 14 : Bầu trời ban ngày và ban đêm.
Phiểu kiểm tra 3.
Cấu trúc của mỗi bài học linh hoạt, mềm dẻo hơn. Mỗi bài thường 
gồm hoạt động cơ bản (cung cấp kiến thức mới của bài học); hoạt động thực 
hành (học sinh thực hành, luyện tập kiến thức đã học); hoạt động ứng dụng  
(học sinh vận dụng kiến thức đã học vào thực tế). Mỗi bài học có thể  bắt 
đầu bằng những câu hỏi nhằm yêu cầu học sinh huy động vốn hiểu biết của  
mình hoặc bằng trò chơi để  khởi động cho tiết học thêm phần hứng khởi,  
hoặc liên hệ thực tế rồi mới đi đến phát hiện kiến thức mới của bài học. 
Nội dung kiến thức trong toàn bộ  môn Tự  nhiên và Xã hội lớp 2 được  
phát triển theo nguyên tắc từ gần đến xa, dẫn dắt học sinh mở rộng vốn hiểu  
biết từ  bản thân đến gia đình, trường học; từ  cuộc sống xã hội xung quanh  
đến thiên nhiên rộng lớn, từ những cây cối, con vật thường gặp đến Mặt trời,  
Mặt trăng và các vì sao. Nội dung kiến thức trong chủ đề  đều được tích hợp  
nội dung giáo dục sức khoẻ một cách hợp lý nhuần nhuyễn; đi từ sức khoẻ cá 
nhân trong chủ đề con người và sức khoẻ đến sức khoẻ cộng đồng trong chủ 
đề xã hội và sức khoẻ môi trường trong chủ đề Tự nhiên.

Trường TH Lý Tự Trọng                        13              GV: Phạm Thị Thúy Lan



Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
*Biện pháp 2: Giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kĩ năng quan  
sát
Quan sát là phương pháp sử dụng các giác quan để tri giác trực tiếp, có 
mục đích các đối tượng tự nhiên và xã hội mà không có sự can thiệp vào quá  
trình diễn biến các hiện tượng hoặc sự vật nào đó.
Phương pháp quan sát là phương pháp đặc trưng để dạy môn Tự nhiên 
và xã hội. Sách Hướng dẫn học môn Tự  nhiên và xã hội có rất nhiều tranh,  
ảnh giúp học sinh quan sát để biết được hình dạng, đặc điểm bên ngoài của 
cơ  thể  người, của một số  cây xanh, con vật hoặc nhận biết các hiện tượng  
diễn ra trong tự nhiên, trong cuộc sống.
Thông thường khi hướng dẫn học sinh quan sát, tôi thường tiến hành 
theo 4 bước sau :
­ Lựa chọn đối tượng quan sát : trong mỗi tiết học, bài học giáo viên  
cần xác định lượng kiến thức cần đạt, từ đó xác định đối tượng để  khai thác 
lượng kiến thức đó. Đối tượng quan sát có thể là tranh ảnh, mô hình, vật thật,  
nên tối đa lựa chọn vật thật cho học sinh quan sát. Khi không có điều kiện để 
chuẩn bị vật thật thì mới cho học sinh quan sát mô hình, tranh ảnh. Đối tượng  
quan sát phải rõ ràng, đủ lớn, đảm bảo tính sư phạm, tính thẩm mĩ thì mới có 
thể giúp học sinh tri giác đúng về sự vật, hiện tượng.
­ Xác định mục đích quan sát : khi đã lựa chọn được đối tượng quan sát,  
giáo viên phải xác định cho học sinh quan sát để đạt mục đích gì, cần hướng 
học sinh quan sát bộ phận, đặc điểm của đối tượng, tránh quan sát lan man.
­ Tổ  chức và hướng dẫn học sinh quan sát : giáo viên cần hướng dẫn, 
tổ chức   cho học sinh quan sát một cách khéo léo, nhẹ nhàng, đúng trọng tâm. 
Tùy vào số lượng đồ dùng, mục tiêu của từng tiết học, từng hoạt động có thể 
tổ  chức cho học sinh quan sát cá nhân (nếu đảm bảo 1 đồ  dùng/học sinh)  
hoặc theo cặp, nhóm (nếu ít đồ dùng). Các nhóm có thể cùng quan sát một đối  

Trường TH Lý Tự Trọng                        14              GV: Phạm Thị Thúy Lan


Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
tượng để  giải quyết chung một nhiệm vụ  học tập hoặc mỗi nhóm có thể 
quan sát nhiều đối tượng khác nhau và giải quyết nhiều nhiệm vụ khác nhau. 
Khi quan sát, tôi khuyến khích học sinh sử  dụng nhiều giác quan để  phán 
đoán, cảm nhận. Đồng thời tôi hướng dẫn các em quan sát từ  tổng thể  đến 
chi tiết, từ ngoài vào trong.
­ Trình bày kết quả  sau khi quan sát : có thể  tổ  chức cho các em trình 
bày kết quả  quan sát trong nhóm, hoặc trước lớp. Nhưng cho dù theo hình 
thức nào thì cũng phải đạt được mục đích quan sát đã đặt ra.
Chẳng hạn : Khi dạy bài 13: Loài vật sống ở đâu ? tôi cho học sinh sưu 
tầm các bức tranh về các con vật, các em mang đến lớp và làm việc với các  
tranh đã chuẩn bị. Các nhóm quan sát tranh và nói nơi sống của các con vật đó. 
Sau khi đã quan sát các bức tranh,  ảnh về  các con vật các em sẽ  sắp xếp  
chúng thành các nhóm : những con vật sống trên cạn, những con vật sống  
dưới nước, những con vật vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước. Đây không 
chỉ  là một hoạt động học tập mà còn giúp các em hứng thú, thoải mái khi 
được làm việc với các bức tranh,  ảnh nhiều màu sắc và quan trọng hơn là 
hình thành kĩ năng quan sát cho học sinh từ  đó cung cấp kiến thức của bài  
học.

Trường TH Lý Tự Trọng                        15              GV: Phạm Thị Thúy Lan


Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.

* Biện pháp 3: Tăng cường sử dụng trò chơi học tập
Trò chơi học tập là hoạt động vui chơi nằm trong chương trình dạy học 

để thực hiện mục tiêu, yêu cầu nào đó của tiết học, kiến thức nào đó của bộ 
môn. Trò chơi học tập giúp học sinh rèn luyện, củng cố  kiến thức đồng thời 
phát triển vốn kinh nghiệm mà các em thu được thông qua hoạt động trò chơi.  
Đồng thời qua trò chơi học tập học sinh được rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thúc  
đẩy trí tuệ làm cơ hội hoạt động của các em đa dạng và phong phú. Qua hoạt  
động trò chơi các em biết kiềm chế, tự  hoạt động, tham gia một cách tích 
cực. Bên cạnh đó, giáo dục cho học sinh một số năng lực : tư  duy, giao tiếp,  
hoà đồng, làm việc với tập thể…Khi tham gia trò chơi học tập, học sinh có 
những phản  ứng tâm lý như  sau : hăng say, chơi hết mình trong trò chơi; dễ 
dàng bỏ  qua những sai phạm của người khác; tôn trọng kỉ  luật, có tính tập 
thể; giúp đỡ, nâng đỡ đồng đội; tích cực hoạt động, sẵn sàng vì danh dự của 
đội mình, nhóm mình. Khi tổ chức trò chơi giáo viên cần lưu ý: Trò chơi phải 
có mục đích học tập, không đơn thuần là trò chơi giải trí. Trò chơi phải đơn 
Trường TH Lý Tự Trọng                        16              GV: Phạm Thị Thúy Lan


Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
giản, dễ  thực hiện; thu hút được đa số  học sinh tham gia; không tốn nhiều 
thời gian, sức lực để  không làm  ảnh hưởng đến các tiết học tiếp theo. Trò 
chơi phải được chuẩn bị  tốt về  điều kiện, phương tiện, phải có kế  hoạch 
thực hiện như một bài soạn.
* Một trò chơi phải có tên gọi và được thiết kế theo các nội dung sau:
+ Mục đích của trò chơi : Trò chơi dùng để  củng cố  kiến thức, kĩ năng 
nào ?
+ Đồ dùng và người chơi : Phương tiện của trò chơi là gì ? Mô hình của  
trò chơi ra sao ? Bao nhiêu người chơi là đủ ?
+ Luật chơi: Chỉ  rõ quy tắc và cách hoạt động đối với người chơi và 
quy định thắng thua.
+ Hình thức chơi : Chơi theo nhóm, cá nhân, tập thể.
+ Cách thức chơi : Cách hướng dẫn, tổ chức các hoạt dộng trò chơi.

+ Hướng phát triển trò chơi : Từ một trò chơi giáo viên có thể biến đổi 
thành nhiều trò chơi phù hợp với nhiều nội dung học tập khác. Phát triển trò 
chơi đòi hỏi giáo viên phải linh động trong việc thay  đổi trò chơi: về  số 
người, hình thức, luật chơi…
* Cách tiến hành phương pháp trò chơi.
+ Chủ trò (giáo viên hoặc học sinh) giới thiệu trò chơi : Nêu tên trò chơi,  
phổ biến luật chơi, quy định thời gian chơi và sau đó có thể cho học sinh chơi  
thử.
­ Chơi thật.
­ Nhận xét kết quả trò chơi, có thể thưởng phạt cho người thắng thua.
­ Nhận xét thái độ của người tham gia trò chơi, rút kinh nghiệm cho trò 
chơi sau.
 ­ Kết thúc : Hỏi học sinh đã học được những gì qua trò chơi. Sau đó  
giáo viên tổng kết lại những gì học sinh đã học qua trò chơi này.
­ Người chủ  trò phải có khả  năng lôi cuốn, thu hút người tham gia trò 
chơi.
Trường TH Lý Tự Trọng                        17              GV: Phạm Thị Thúy Lan


Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
        ­ Với những trò chơi đơn giản không cần thiết phải thực hiện đầy đủ 
các bước trên.
Sau đây là một số  trò chơi mà tôi thường vận dụng vào dạy môn Tự 
nhiên và xã hội lớp 2 :
* Trò chơi “Ghép chữ vào hình”
Hình thành và củng cố  kiến thức  ở  các chủ  điểm Con người và sức  
khỏe, xã hội và Tự  nhiên. Trò chơi này thường được áp dụng vào các bài 
1,3,9,13,14.
Chuẩn bị : tranh câm vẽ nội dung các bài
Các thẻ chữ ghi nội dung phù hợp với tranh.

* Cách tiến hành: Các nhóm, đội nhận bộ tranh câm và các thẻ chữ; sau  
đó gắn thẻ chữ với nội dung tranh cho phù hợp. Sau khi hoàn thành các nhóm  
có thể gắn sản phẩm của đội, nhóm mình lên bảng hoặc để tại chỗ làm việc  
của nhóm mình và báo cáo kết quả với giáo viên.
Ví dụ: khi dạy bài : Thức ăn được tiêu hóa như thế nào? Tôi sử dụng trò 
chơi này giúp học sinh nhận biết và nhớ  được vị  trí các bộ  phận của cơ  quan 
tiêu hóa.

Trường TH Lý Tự Trọng                        18              GV: Phạm Thị Thúy Lan


Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.

Sơ đồ có quan tiêu hóa

Sau khi ghép chữ vào hình học sinh sẽ nói được các bộ phận, vị trí của 
cơ quan tiêu hóa, đường đi của thức ăn trong ống tiêu hóa.
* Trò chơi “Đi chợ”
Học sinh nói được cần phải ăn uống như  thế  nào để  có sức khỏe tốt, 
biết được những thức ăn giúp các em khỏe mạnh, mau lớn. Từ đó các em có ý  
thức tự giác trong việc ăn uống và giữ vệ sinh khi ăn uống.
Trò chơi này tôi vận dụng khi dạy bài 4 trong chủ  điểm Con người và 
sức khoẻ.
Ví dụ  : Khi dạy bài 4, tôi cho học sinh quan sát các món ăn trong sách  
giáo khoa, sau đó thảo luận nhóm 4 để  lựa chọn và viết vào bảng nhóm tên 
các loại đồ  ăn, đồ  uống cho 3 bữa ăn trong một ngày sao cho đảm bảo đủ 
chất, hợp lí. Học sinh có thể  lựa chọn và viết thực đơn trong một ngày như 
sau:
Bữa ăn


Tên các loại thức ăn, đồ uống

Trường TH Lý Tự Trọng                        19              GV: Phạm Thị Thúy Lan


Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.

Bữa sáng

Bánh mì, sữa tươi

Bữa trưa

Cơm, cá kho, canh chua, cam

Bữa tối

Cơm, thịt kho tàu, canh rau muống, dưa hấu

* Trò chơi “Đối đáp nhanh”
Giúp học sinh củng cố  kiến thức  ở  các chủ  đề. Trò chơi này tôi vận  
dụng khi dạy bài 2, 9, 12, 13.
Ví dụ: Khi dạy bài 13 “Loài vật sống  ở  đâu” tôi chuẩn bị: hai bộ  bìa, 
mỗi bộ gồm các tấm bìa đánh số thứ tự 1,2,3,4,…
Tiến hành: giáo viên chọn một số học sinh tham gia, chia số học sinh đó  
thành hai nhóm bằng nhau, xếp thành hai hàng quay mặt vào nhau, mỗi học  
sinh đeo một số thứ tự, hai em có số như nhau đứng quay mặt vào nhau. Học  
sinh 1 ở nhóm A nói tên con vật thì học sinh 1 của nhóm B phải nói ngay con  
vật đó sống ở đâu. Tiếp đó, học sinh 2 ở nhóm B nói trước thì học sinh 2 của  
nhóm A nói sau sao cho phù hợp. Học sinh chơi như  vậy cho đến hết hàng.  

Nhóm nào có nhiều câu trả lời đúng hơn thì nhóm đó thắng cuộc.
* Trò chơi “Biển báo nói gì”
Trò chơi này thường được sử  dụng khi dạy các bài học liên quan đến 
an toàn giao thông nhằm củng cố kiến thức về một số biển báo giao thông.
Trò chơi này tôi áp dụng để dạy bài 10: An toàn khi đi trên các phương  
tiện giao thông.
Khi dạy bài này tôi chuẩn bị: bộ bìa gồm 12 tấm bìa nhỏ 6 tấm vẽ biển  
báo, 6 tấm viết tên biển báo. Tôi chọn ngẫu nhiên 12 học sinh để tham gia trò  
chơi, phát cho mỗi học sinh một tấm bìa, giáo viên hoặc quản trò hô “biển  
báo nói gì” học sinh có tấm bìa vẽ  biển báo và học sinh có tấm bìa viêt chữ 

Trường TH Lý Tự Trọng                        20              GV: Phạm Thị Thúy Lan


Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
phải tìm đến nhau, cặp nào tìm đến nhau nhanh nhất và đúng thì cặp đó được  
khen.

* Trò chơi “Chim bay cò bay”
Tạo cho học sinh không khí thoải mái trước khi vào bài học
Áp dụng cho bài 13: Loài vật sống ở đâu ?
Khi dạy bài này tôi cho một học sinh làm chủ  trò, chủ  trò sẽ  phổ  biến  
luật chơi và cho các bạn chơi thử. Khi chủ trò hô “chim bay, heo bay, gà bay,
…” học sinh lắng nghe và làm động tác giơ  tay vẫy vẫy giống như  con vật  
đang bay hoặc đứng yên nếu con vật đó không biết bay.
* Trò chơi “Đố bạn con gì”
Học sinh nhớ  được đặc điểm chính của một số  con vật đã học. Thực 
hành kĩ năng đặt câu hỏi để loại trừ. Phương pháp này được tôi vận dụng vào  
dạy bài 13: Loài vật sống ở đâu ?


Trường TH Lý Tự Trọng                        21              GV: Phạm Thị Thúy Lan


Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Giáo viên chuẩn bị  các tấm thẻ  ghi tên con vật hoặc vẽ  hình con vật. 
Mỗi học sinh tham gia trò chơi sẽ được chủ trò đeo hình vẽ một con vật hoặc 
thẻ chữ ghi tên con vật sau lưng, em đó không biết con gì nhưng cả  lớp đều 
biết rõ. Học sinh tham gia chơi đặt câu hỏi  để đoán xem đó là con gì? Cả lớp  
chỉ trả lời đúng hoặc sai.
Ví dụ: Con này có 4 chân phải không ? Con này được nuôi trong nhà  
phải không? Con này có thể cày ruộng phải không ?... Sau một số câu hỏi như 
vậy học sinh đó có thể đoán ra con vật đó là con gì.
Trong trường hợp giáo viên không chuẩn bị  được đồ  dùng thì có thể 
thay thế  bằng cách cho học sinh thực hiện một số hành động, tiếng kêu của  
con vật (đứng quay lưng lại với bạn sẽ  đoán) để  lớp quan sát và gợi ý cho 
bạn đoán tên con vật.
* Trò chơi “Giải câu đố”
 

Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, nhất là chương trình lớp  

2, việc tổ  chức trò chơi học tập trên lớp hay ngoài giờ  học sẽ  làm cho học  
sinh tiểu học thêm hứng thú học tập và yêu thích bộ  môn này, góp phần đổi 
mới phương pháp dạy học hiện nay. 
Ví dụ: Khi dạy bài 14 : “Bầu trời ban ngày và ban đêm” tôi đưa ra câu  
đố: 
“Hai anh cùng ở một hàng
Thế mà mặt đỏ, mặt vàng khác nhau
Lững lờ đi trước về sau
Hàng năm họa có gặp nhau đôi lần”

(Là gì ? Đáp án: Mặt trời, mặt trăng)

Trường TH Lý Tự Trọng                        22              GV: Phạm Thị Thúy Lan


Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Tiếp đó tôi dẫn dắt vào bài: Mặt trời, mặt trăng là hai hành tinh. Độ lớn  
của hai hành tinh này chênh lệch nhau như thế nào? So với trái đất lớn, nhỏ ra  
sao? Chúng ta cùng tìm hiểu qua bài 14 : “Bầu trời ban ngày và ban đêm”.
Khi dạy học, tôi lựa chọn thời điểm thích hợp để  tổ  chức trò chơi cho 
phù hợp, đúng lúc tạo hứng thú cho học sinh.
Để  củng cố  kiến thức của bài 13: Loài vật sống  ở  đâu ? Tôi tổ  chức 
cho học sinh chơi trò chơi giải câu đố để củng cố kiến thức của bài 
“Cá gì đủ chữ, xứng câu?”
(Đố cá gì ? Đáp án : cá đối)
“ Chim gì biểu tượng hòa bình 
Cả nhân loại lẫn chúng mình đều yêu”
(Đố chim gì ? Đáp án : chim bồ câu)
“ Khen ai dạ sáng như đèn
Tối trời như mực biết bạn quen mà mừng”
(Đố con gì ? Đáp án : con chó)
“Vừa bằng hạt thóc biết bay
Đi đêm mang đuốc, ban ngày thì không”
(Đố con gì ? Đáp án : con đom đóm)
Biện pháp 3: Phát huy tối đa hiệu quả của phương pháp thảo luận 
nhóm
Thảo luận nhóm là một phương pháp giúp học sinh tham gia một cách 
chủ động, tích cực vào quá trình học tập, học sinh được hợp tác với bạn, biết 
chia sẻ kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề nào đó.
Phương pháp thảo luận nhóm được tiến hành thường xuyên trong quá 

trình dạy học theo mô hình VNEN. Mỗi nhóm học tập thường gồm hai người  
Trường TH Lý Tự Trọng                        23              GV: Phạm Thị Thúy Lan


Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
trở lên để cùng hợp tác thực hiện một nhiệm vụ học tập hoặc giải quyết một  
vấn đề nào đó. Thông qua hoạt động thảo luận nhóm học sinh chủ động hơn  
trong giải quyết vấn đề, được sự hỗ trợ của các thành viên trong nhóm, được 
phát triển kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ 
năng điều hành, bày tỏ, kiềm chế cảm xúc.
Trong quá trình dạy học giáo viên cần linh hoạt trong sử dụng các kiểu  
nhóm khác nhau tùy vào mục tiêu, nội dung của bài học. Thông thường tôi sử 
dụng một số cách chia nhóm như sau:
­ Nhóm cặp: xếp 2 học sinh cùng bàn vào một cặp.
­ Nhóm đếm số : những học sinh có cùng một số sẽ vào một nhóm.
­ Nhóm biểu tượng: con vật, cây cối, bông hoa … 
­ Nhóm sở thích: những học sinh có cùng sở thích ngồi cùng một nhóm.
­ Nhóm tương trợ: xếp những học sinh có trình độ  và năng lực khác 
nhau vào một nhóm, để  học sinh năng khiếu có thể  hỗ  trợ  cho học sinh có 
khả năng học tập còn hạn chế.
­ Nhóm theo trình độ: những học sinh cùng năng lực và trình độ sẽ ngồi  
một nhóm.
­ Nhóm cùng tháng sinh: những em có cùng tháng sinh nhật ngồi vào 
một nhóm.
Theo kinh nghiệm của tôi thì nhóm cặp và nhóm tương trợ  được sử 
dụng nhiều nhất, không tốn thời gian chia nhóm và thường mang lại hiệu quả 
cao.
Chẳng hạn khi dạy bài 10: An toàn khi đi trên các phương tiện giao 
thông. Tôi chọn kiểu nhóm tương trợ, mỗi nhóm 4 học sinh. Các em sẽ  thảo 
luận làm việc và hoàn thành phiếu học tập sau :

Viết tiếp vào chỗ … các phương tiện giao thông tương ứng:
Trường TH Lý Tự Trọng                        24              GV: Phạm Thị Thúy Lan


Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.

a) Đường bộ : ………………………………………………………………
b) Đường sắt : ……………………………………………………………...
c) Đường thủy : …………………………………………………………….
d) Đường hàng không : …………………………………………………….
Tôi đến từng nhóm để kiểm tra. Sau khi các em hoàn thành tôi cho các  
nhóm báo cáo kết quả.
Biện pháp 4: Sử dụng đồ dùng dạy học trực quan
Đồ  dùng trực quan là những thiết bị  dạy học dạy học sẵn có hoặc do 
giáo viên, học sinh tự làm, tự tìm tòi để phục vụ cho nội dung bài học.
Thiết bị  dạy học là yếu tố  không thể  thiếu trong quá trình dạy học.  
Thiết bị dạy học giúp học sinh tri giác một cách trực tiếp về sự vật, từ đó các  
em có nhận thức sâu hơn nội dung bài học. thiết bị  dạy học gồm thiết bị 
dạy : là những thiết bị do giáo viên sử dụng khi giảng dạy như tranh, ảnh, vật  
mẫu, băng hình,…Còn thiết bị  học : là những thiết bị  do học sinh sử  dụng  
như phiếu học tập, tranh ảnh, vật thật mà học sinh tự chuẩn bị. 
Sử  dụng đồ  dùng trực quan cần gắn với nội dung của sách giáo khoa,  
phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học và phù hợp với hình thức, phương  
pháp dạy học bộ môn đó và phải đúng lúc, đúng chỗ, cần nghiên cứu sử dụng  
thành thạo các loại đồ dùng.
Ví dụ  : khi dạy Bài 13 : “Loài vật sống  ở  đâu ?” khi dạy xong hoạt  
động cơ  bản, tôi yêu cầu học sinh sưu tầm tranh  ảnh về  các con vật và sẽ 
mang đến lớp vào tiết học sau.  Ở hoạt động thực hành học sinh sẽ lấy tranh 
ảnh về các con vật mà mình sưu tầm được để  giới thiệu với các bạn : đó là 
con vật gì ? Nó sống  ở  đâu ? Nó có lợi ích hay có tác hại gì đối với con  

người ?
Trường TH Lý Tự Trọng                        25              GV: Phạm Thị Thúy Lan


×