Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Lí thuyết kiến tạo và hướng áp dụng vào quá trình dạy học theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (145.46 KB, 7 trang )

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
2014, Vol. 59, No. 6BC, pp. 243-249
This paper is available online at

LÍ THUYẾT KIẾN TẠO VÀ HƯỚNG ÁP DỤNG VÀO QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trịnh Thị Quý
Khoa Quản lí giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tóm tắt. Lí thuyết kiến tạo ra đời và trải qua quá trình lịch sử phát triển lâu dài nhưng
những giá trị của lí thuyết này vẫn còn tồn tại và khẳng định ngay cả trong những điều kiện
tân tiến nhất của hoạt động dạy học hiện nay. Việc tổ chức dạy học theo lí thuyết kiến tạo
làm cho lớp học ngày nay trở thành trung tâm của sự tìm tịi, khám phá tri thức, mà ở đó
người học được thực sự xem là trung tâm của quá trình dạy học. Dạy học trong phương
thức đào tạo theo học chế tín chỉ là q trình tổ chức cho sinh viên học cách khám phá và
tìm ra tri thức mới, tự mình kiến tạo nội dung bài học và nghiên cứu khoa học. Điều này
hoàn toàn phù hợp với bản chất của dạy học theo lí thuyết kiến tạo.
Từ khóa: Lí thuyết kiến tạo; Dạy học theo lí thuyết kiến tạo; Lí thuyết dạy học; Thuyết
kiến tạo; Quá trình dạy học.

1.

Mở đầu

Trong bối cảnh đổi mới một cách mạnh mẽ q trình dạy học nói chung và q trình dạy
học ở đại học nói riêng đáp ứng u cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cơng
cuộc cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa nước nhà, việc nghiên cứu và áp dụng những lí thuyết hiện
đại vào đổi mới quá trình dạy học đại học trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Lí thuyết kiến tạo đã
được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và kiến giải những giải pháp áp dụng ở nhiều nước khác nhau
nhằm mục đích đẩy mạnh chất lượng dạy học hướng vào người học [4;5]. Việc nghiên cứu và áp
dụng lí thuyết kiến tạo trong dạy học ở Việt Nam đã và đang phát huy hiệu quả với các môn khoa
học cơ bản ở nhà trường phổ thông [1;2]. Tuy nhiên, với quá trình dạy học ở đại học, đặc biệt trong


điều kiện đào tạo tín chỉ thì chưa có nhiều nhà khoa học luận bàn về vấn đề này. Bài viết dưới đây
là những mạn đàm về lí thuyết kiến tạo việc áp dụng lí thuyết này trong điều kiện đào tạo theo học
chế tín chỉ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

2.
2.1.

Nội dung nghiên cứu
Thuyết kiến tạo (Constructivism)

Khái niệm về kiến tạo có từ thời cổ xưa, thời Socrate, cụ thể là từ cuộc đối thoại của ông
với các học trò của ông. Trong cuộc trao đổi này, ông đã đưa ra những câu hỏi trực tiếp để dẫn dắt
những người học tự mình nhận ra điểm yếu của họ.
Liên hệ: Trịnh Thị Quý, e-mail:

243


Trịnh Thị Quý

Jean Piaget và John Deway đã phát triển các học thuyết về sự phát triển và giáo dục trẻ em,
tạo ra bước phát triển nhảy vọt cho lí thuyết kiến tạo. J.Piaget cho rằng: con người học tập thông
qua việc thiết lập nên chuỗi logic liên tiếp nhau, cái này nối tiếp cái kia. Ông cũng kết luận rằng,
logic cũng như phương thức suy nghĩ của trẻ em hồn tồn khác so với người trưởng thành. Đây
chính là cơ sở của việc giáo dục dựa trên lí thuyết kiến tạo [1].
John Deway yêu cầu giáo dục phải dựa trên kinh nghiệm thực tế, ông viết: “Nếu ta nghi ngờ
rằng quá trình học diễn ra như thế nào, hãy tham gia vào những câu hỏi liên tiếp, nghiên cứu, suy
nghĩ những khả năng khác nhau, từ đó hình thành niềm tin dựa vào các bằng chứng cụ thể”.
Thuyết kiến tạo của J. Bruner là lí thuyết về sự nhận thức được bắt nguồn từ tư tưởng của
J.Piaget. Tư tưởng cốt lõi của thuyết kiến tạo là: tri thức được xuất hiện thông qua việc chủ thể

nhận thức tự cấu trúc vào hệ thống bên trong của mình, và theo cách đó thì tri thức được coi là
mang tính chủ quan. Với việc nhấn mạnh vai trò chủ thể nhận thức trong việc giải thích và kiến
tạo tri thức, thuyết kiến tạo thuộc lí thuyết chủ thể. Cần tổ chức sự tương tác giữa người học và
đối tượng học tập, để giúp người học xây dựng thông tin mới vào cấu trúc tư duy của chính mình,
đã được chủ thể điều chỉnh. Học khơng chỉ là khám phá mà cịn là sự giải thích, cấu trúc mới
tri thức [2].
Theo J. Bruner, khơng có kiến thức khách quan tuyệt đối. Kiến thức là một quá trình và là
sản phẩm được kiến tạo theo từng cá nhân (tương tác giữa đối tượng học tập và người học); Về mặt
nội dung, dạy học phải định hướng theo những lĩnh vực và vấn đề phức hợp, gần với cuộc sống và
nghề nghiệp, được khảo sát một cách tổng thể; Việc học tập chỉ có thể được thực hiện trong một
q trình tích cực, vì chỉ từ những kinh nghiệm và kiến thức mới của bản thân thì mới có thể thay
đổi và cá nhân hóa những kiến thức và khả năng đã có; Học tập trong nhóm có ý nghĩa quan trọng
góp phần cho người học tự điều chỉnh hoạt động học tập của bản thân mình; Học qua sai lầm là
điều rất có ý nghĩa; các lĩnh vực học tập cần định hướng vào hứng thú người học, vì có thể học hỏi
dễ nhất từ những kinh nghiệm mà người ta thấy hứng thú hoặc có tính thách thức.
Thuyết kiến tạo khơng chỉ giới hạn những khía cạnh nhận thức của việc dạy và học. Sự học
tập hợp tác đòi hỏi và khuyến khích phát triển khơng chỉ có lí trí mà cịn phát triển cả về mặt tình
cảm, giao tiếp; Mục đích học tập là xây dựng kiến thức của bản thân nên khi đánh giá các kết quả
học tập không định hướng theo các sản phẩm học tập, mà cần kiểm tra những tiến bộ trong quá
trình học tập và trong những tình huống học tập phức tạp.
Lí thuyết kiến tạo về cơ bản là một lí thuyết dựa trên quan sát và nghiên cứu khoa học nhằm
trả lời cho câu hỏi: Con người học như thế nào? Lí thuyết này nói rằng con người kiến tạo những
sự hiểu biết và tri thức về thế giới thông qua trải nghiệm và phản ánh. Khi chúng ta đối diện với
một điều gì mới mẻ, chúng ta phải điều ứng nó với những ý tưởng và kinh nghiệm có từ trước.
Cũng có thể nó sẽ thay đổi điều mà ta đã tin tưởng hoặc loại bỏ chúng vì khơng thích đáng. Để
làm điều này, chúng ta phải đưa ra những nghi vấn, khám phá và đánh giá cái mà chúng ta biết.
* Một số hạn chế của thuyết kiến tạo
Quan điểm cực đoan trong thuyết kiến tạo phủ nhận sự tồn tại của tri thức khách quan là
không thuyết phục; Một số tác giả nhấn mạnh quá đơn phương rằng chỉ có thể học tập có ý nghĩa
những gì mà người ta quan tâm. Tuy nhiên, trong cuộc sống đòi hỏi cả những điều mà khi cịn đi

học người ta khơng quan tâm; Việc đưa các kĩ năng cơ bản vào các đề tài phức tạp mà khơng có
luyện tập cơ bản có thể làm hạn chế kết quả học tập; Lưu ý, dạy học theo thuyết kiến tạo đòi hỏi
nhiều thời gian, mà vấn đề này liên quan đến việc quá tải trong dạy học hiện nay (xem Bảng 1).
244


Lí thuyết kiến tạo và hướng áp dụng vào quá trình dạy học theo học chế tín chỉ...
Bảng 1. Sự khác biệt trong hai thái cực của triết học dạy học
của các lí thuyết khách thể và các lí thuyết chủ thể
Lí thuyết Khách thể
Lí thuyết Chủ thể
1) Trong một thời điểm xác định, có những tri thức
1) Khơng có tri thức khách quan. Mỗi người hiểu
chung, khách quan, nhờ đó có thể giải thích thế
và giải thích thế giới theo kinh nghiệm riêng của
giới.Tri thức này có tính ổn định và có thể cấu trúc
mình.
để truyền thụ cho người học.
2) Người học tiếp thu những kiến thức đó và hiểu 2) Các chủ thể nhận thức có thể hiểu một cách
giống nhau.
khác nhau đối với cùng một hiện thực.
3) Giáo viên giúp học viên tiếp thu những nội dung 3) Nhiệm vụ của giáo viên là giúp học viên tăng
của của tri thức khách quan về thế giới vào cấu trúc cường tự trải nghiệm và biết đặt vấn đề,từ đó giúp
tư duy của họ.
họ có thể tự xây dựng tri thức cho mình.

2.2.

Dạy học theo quan điểm của thuyết kiến tạo


Dạy học theo quan điểm của thuyết kiến tạo nghĩa là giáo viên hướng dẫn để học sinh tự
khám phá ra tri thức, thực hiện những nhiệm vụ học tập, từ đó kiến tạo tri thức cho bản thân [3].
Vì vậy, các kiểu dạy học như: dạy học khám phá, dạy học hợp tác, dạy học giải quyết vấn đề. . .
đều được coi là các phương pháp dạy học vận dụng quan điểm của lí thuyết kiến tạo.

Hình 1.
Trong dạy học, học sinh được khuyến khích sử dụng các phương pháp riêng của họ để kiến
tạo tri thức chứ không phải chấp nhận lối tư duy của người khác. Như vậy, tri thức được kiến tạo
một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ khơng phải được tiếp nhận một cách thụ động từ môi
trường bên ngồi. Trong mơi trường học tập kiến tạo, học sinh được học nhiều hơn khi thực sự
được cuốn hút vào việc học, thay vì chỉ lắng nghe thụ động, nghĩa là thuyết kiến tạo coi trọng vai
trò chủ động và tích cực của học sinh trong q trình học tập để tạo nên tri thức cho bản thân, đặc
biệt tư duy của học sinh dần trở nên trừu tượng và phát triển hơn, học sinh được thúc giục để hoạt
động trong tiến trình học tập. Vai trị trung tâm của quá trình dạy học được chuyển từ giáo viên
sang học sinh, giáo viên đóng vai trị là người cố vấn, dàn xếp, nhắc nhở và giúp học sinh phát
triển, đánh giá những hiểu biết và việc học của mình. Cả giáo viên và học sinh không chỉ xem kiến
thức là một thứ để nhớ mà còn xem kiến thức là một cấu trúc động. Quy trình dạy học theo thuyết
kiến tạo có cấu trúc như sau:
Theo quy trình này, việc dạy một kiến thức mới không phải bắt đầu từ việc giáo viên thơng
báo kiến thức đó mà phải bắt đầu từ việc khám phá của học sinh về kiến thức cần lĩnh hội. Học
245


Trịnh Thị Q

Hình 2.
sinh có cơ hội bộc lộ những quan điểm của mình, lắng nghe quan điểm của bạn, được tranh luận,
thống nhất ý kiến. Qua lắng nghe, theo dõi những quan điểm của học sinh, giáo viên sẽ phát hiện
ra nhiều yếu tố bất ngờ hoặc khác thường, giáo viên tôn trọng những ý kiến của học sinh, khuyến
khích học sinh lựa chọn con đường đi đúng để tiếp cận được tri thức. Kết quả của hoạt động đó,

học sinh có được một hệ thống kiến thức phù hợp với yêu cầu, đồng thời các em tìm ra được con
đường chiếm lĩnh tri thức.
Dạy học theo mơ hình trên đã chứa đựng sự thay đổi quan điểm là dạy học phải luôn chú ý
tới những tri thức và kĩ năng đã có của học sinh, đó là một trong những tiền đề để tổ chức dạy học
những kiến thức mới.
Như vậy có thể nói rằng thuyết kiến tạo là một lí thuyết tổng qt, nó ở tầng bậc cao nhất
trong tháp các mức độ của lí thuyết phương pháp dạy học. Người giáo viên nếu áp dụng dạy học
theo thuyết kiến tạo thì có thể sử dụng 4 bình diện sau đây:
- Học trong hành động;
- Học là vượt qua trở ngại;
- Học trong sự tương tác xã hội;
- Học thông qua giải quyết vấn đề.
Dạy học theo thuyết kiến tạo cũng giống như các cách tiếp cận lí thuyết dạy học khác, quy
trình diễn ra có ít nhất là 3 pha:
- Pha chuyển giao nhiệm vụ;
- Pha hành động giải quyết vấn đề;
- Pha tranh luận hợp thức hóa và vận dụng kiến thức mới.
Theo đó, nhiệm vụ của giáo viên theo lí thuyết kiến tạo:
- Tạo điều kiện cho học sinh bộc lộ và trao đổi ý kiến của mình;
- Bảo đảm mọi ý kiến đều được đưa ra xem xét;
- Tổ chức tranh luận công khai các ý kiến của học sinh;
- Trình bày tính hiển nhiên của các quan điểm khoa học;
- Lắng nghe các ý kiến của học sinh (đúng và sai) về các vấn đề;
- Lưu ý tới các ý kiến đơn giản mà hiệu quả nhất.
Trong lớp học, quan điểm kiến tạo của việc học có thể đi đến một số lượng những thực
nghiệm dạy học khác nhau. Trong hầu hết các trường hợp, nó thường có nghĩa là khuyến khích
người học sử dụng những kĩ năng hoạt động (thực nghiệm, giải quyết vấn đề thực tế) để tạo nhiều
246



Lí thuyết kiến tạo và hướng áp dụng vào quá trình dạy học theo học chế tín chỉ...

thơng tin và rồi phản ánh, nói về những cái mà chúng đang làm và sự hiểu hiết của chúng đang
thay đổi như thế nào.
Lí thuyết kiến tạo là một lí thuyết của nhận thức. Theo Ernst Von Glasersfeld kiến thức luôn
là kết quả của hoạt động kiến tạo và từ đó nó khơng thể thâm nhập vào một người học thụ động.
Nó phải được xây dựng một cách tích cực bởi chính mỗi người học. Tuy nhiên, giáo viên có thể
định hướng cho người học theo một cách tổng quát và sự hướng dẫn đó sẽ giúp người học khơng
phải kiến tạo tri thức theo những hướng mà giáo viên không mong muốn. Giáo viên phải chắc chắn
hiểu những khái niệm mà học sinh đã nắm từ trước, rồi hướng dẫn hoạt động để định vị chúng và
rồi giúp người học kiến tạo tri thức từ chúng [3;5].
Trong một lớp kiến tạo, tâm điểm là xu hướng thay đổi từ giáo viên làm trung tâm (Teacher
- centered) đến học sinh làm trung tâm (Student - centered). Lớp học khơng cịn là nơi mà giáo
viên, là những chuyên gia “đổ” những tri thức lên đầu học sinh - những cái chai rỗng [4]. Trong
mơ hình kiến tạo, học sinh được thúc giục để hoạt động trong tiến trình học tập của chúng. Giáo
viên đóng vai trị như người cố vấn, dàn xếp, nhắc nhở và giúp học sinh phát triển và đánh giá
những hiểu biết về việc học của chúng. Một trong những công việc lớn nhất của giáo viên là: Hỏi
những câu hỏi có chất lượng?
Trong một lớp học kiến tạo, cả giáo viên và học sinh không phải chỉ xem kiến thức như một
thứ để nhớ mà là một đối tượng động.
Bảng 2. So sánh sự khác biệt khi sử dụng lí thuyết kiến tạo
trong dạy học với lớp học truyền thống [3]
Lớp học truyền thống
Lớp học kiến tạo
Chương trình dạy học bắt đầu với các phần của cả Chương trình nhấn mạnh các khái niệm lớn, bắt
tổng thể. Nhấn mạnh các kĩ năng cơ bản;
đầu với tổng thể và mở rộng ra với các phần;
Mục đích của những câu hỏi của học sinh và
Chương trình giảng dạy, SGK là pháp lệnh tối cao;
những vấn đề mà chúng quan tâm là quan trọng;

Phương tiện chủ yếu là sách giáo khoa và sách bài Phương tiện bao gồm những nguồn ban đầu và
tập;
phương tiện vận dụng;
Học tập là tương tác, xây dựng trên những cái mà
Học tập dựa vào sự nhắc lại, bắt chước;
học sinh đã biết rồi;
Giáo viên phổ biến những thông tin cho học sinh, Giáo viên đàm thoại với học sinh, giúp đỡ học sinh
học sinh tiếp nhận tri thức;
tự kiến tạo tri thức cho chúng;
Vai trò của giáo viên là tương tác, đàm phán là tối
Vai trò của giáo viên là trực tiếp, quyền lực tối cao;
cao;
Đánh giá bao gồm kiểm tra việc làm, quan sát,
Đánh giá thông qua trắc nghiệm, trả lời đúng. Sản
quan điểm của học sinh. Tiến trình quan trọng hơn
phẩm cuối cùng là quan trọng;
sản phẩm;
Kiến thức giống như một vật trơ;
Kiến thức là một đối tượng động;
Học sinh làm việc nhóm là chủ yếu.
Học sinh làm việc chủ yếu một mình.

2.3.

Áp dụng dạy học theo lí thuyết kiến tạo trong đào tạo theo học chế tín chỉ
tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội chuyển đổi sang đào tạo theo học chế tín chỉ từ năm 2009,
với phương thức đào tạo hoàn toàn mới so với phương thức đào tạo theo niên chế trước đây đòi
hỏi thầy và trị của nhà trường phải tìm cho mình cách dạy và học sao cho hiệu quả nhất trong quá

trình chuyển đổi này.
247


Trịnh Thị Quý

Trong học chế tín chỉ, tương ứng với một giờ học trên lớp, sinh viên phải có 2 giờ tự nghiên
cứu, điều đó địi hỏi người giảng viên phải biết tổ chức hoạt động học của sinh viên như một quá
trình tự mình kiến tạo tri thức mới. Sinh viên lúc này khơng cịn bị động phụ thuộc vào những gì
giảng viên cung cấp mà hồn tồn chủ động trong hoạt động nhận thức của mình. Đặc biệt, trong
bối cảnh sự lạc hậu của nội dung dạy học diễn ra ngày càng nhanh chóng, thì dạy cho sinh viên
cách học chứ không phải là cung cấp thông tin càng trở nên quan trọng.
Theo đó, lí thuyết kiến tạo chỉ ra rằng người giảng viên trong quá trình tổ chức hoạt động
dạy của mình phải xuất phát từ những gì sinh viên cần và muốn biết, muốn học chứ khơng phải từ
những gì người giảng viên có. Từ đó, giảng viên tổ chức cho sinh viên dựa trên những kinh nghiệm
đã có của bản thân, cùng khám phá và lĩnh hội tri thức mới. Giảng viên cũng sẽ trở thành người đi
học hỏi.
Giảng viên nhà trường phải trở thành những người tạo ra sự “kiến tạo” kiến thức cho sinh
viên, muốn vậy thì bản thân giảng viên ngồi chun mơn sâu mà mình đảm nhiệm thì khơng ngừng
mở rộng hiểu biết về những lĩnh vực chuyên môn liên quan. Những giảng viên thuộc chuyên ngành
gần (như văn, sử, địa. . . .) cũng phải là những cộng tác viên hết sức đắc lực trong việc thiết kế và tổ
chức quá trình dạy học cho sinh viên. Người dạy áp dụng lí thuyết kiến tạo thường theo 4 bình diện:
- Học trong hành động;
- Học là vượt qua trở ngại;
- Học trong sự tương tác xã hội;
- Học thông qua giải quyết vấn đề.
Do đó, khi thiết kế hoạt động dạy giảng viên cần căn cứ trên thời lượng cho phép, lựa chọn
nội dung cho phù hợp với những điều kiện tiến hành. Xu hướng tích hợp nội dung hiện nay ở nhà
trường phổ thơng địi hỏi các trường sư phạm trong đó có Đại học Sư phạm Hà Nội cần phải nhanh
chóng chuyển đổi mơ hình đào tạo đáp ứng yêu cầu giáo viên dạy được tích hợp sau khi tốt nghiệp.

Lí thuyết kiến tạo chỉ ra rằng người dạy bắt đầu hoạt động dạy học từ phần tổng thể, người học
từ đó kiến tạo dần những đơn vị kiến thức bên trong và điều này hoàn toàn phù hợp với xu hướng
nói trên.
Muốn áp dụng một cách hiệu quả lí thuyết kiến tạo trong dạy học ở Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội thì cả thầy và trị của nhà trường cần phải đổi mới mạnh mẽ từ nhận thức đến hành
động, trong khi sức ỳ của sinh viên sư phạm vẫn cịn rất lớn. Thậm chí nếu giảng viên khơng giao
bài về nhà thì việc tự học ở nhà của sinh viên gần như khơng có chứ chưa nói đến việc chủ động
đặt ra các vấn đề cho hoạt động học tập của mình.
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cần phải đổi mới nội dung chương trình theo hướng giảm
tải nội dung, tăng cường dạy học dựa vào chuẩn kĩ năng nhiều hơn là chuẩn kiến thức. Từ đó giảng
viên mới có thể thiết kế các hoạt động phức hợp để tổ chức hoạt động cho sinh viên tự mình khám
phá tri thức và hình thành năng lực nghề nghiệp tương lai.
Chương trình đào tạo cũng phải tăng cường tính liên thơng liên kết giữa các phần, các nội
dung, các môn, các chuyên ngành để thấy được logic của kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi cho
sinh viên kiến tạo tri thức mới. Điều này cũng đòi hỏi giảng viên trong nhà trường phải phối hợp
với nhau, liên kết với nhau trong việc tổ chức các hoạt động học tập cho sinh viên.
Nhà trường cũng cần mở rộng hơn nữa mạng lưới các cơ sở thực hành, thực tế để tạo mơi
trường cho sinh viên có điều kiện khám phá, luyện tập và trải nghiệm những gì đã, đang và sẽ được
đón nhận trong hoạt động học tập của mình. Giúp các em rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp tốt trước
248


Lí thuyết kiến tạo và hướng áp dụng vào quá trình dạy học theo học chế tín chỉ...

khi ra trường để có thể tự học suốt đời, tự tạo việc làm và tìm cho mình việc làm mong muốn. Đó
là cái đích chung của tất cả các giảng viên, cán bộ cơng nhân viên của nhà trường.

3.

Kết luận


Lí thuyết kiến tạo cũng như các lí thuyết dạy học khác, đều có những hạn chế nhất định. Tuy
nhiên, để hoạt động dạy học trong nhà trường hướng tới bản chất của quá trình dạy học là quá trình
tổ chức hoạt động nhận thức của người học thì việc áp dụng lí thuyết kiến tạo trong dạy học là một
hướng đi mở ra nhiều triển vọng cho việc đổi mới dạy và học ở đại học hiện nay, đáp ứng yêu cầu
của phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ ở Việt Nam. Tất nhiên, sự thay đổi phải là đồng bộ
ở tất cả các khâu của quá trình dạy học đại học mới có thể đem lại kết quả như mong muốn, cần
phải đổi mới từ mục tiêu tới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra đánh
giá cũng như tạo môi trường dạy và học thuận lợi. Vì vậy địi hỏi cả thầy và trò trường Đại học Sư
phạm cần phải đổi mới mạnh mẽ từ nhận thức tới hành động một cách nhanh chóng và quyết liệt
hướng tới một thương hiệu là trường đào tạo giáo viên uy tín và chất lượng bậc nhất trong cả nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]
[2]
[3]

[4]
[5]

Nguyễn Hữu Châu, Cao Thị Hà, 2013. Dạy học tốn ở trường phổ thơng theo quan điểm kiến
tạo. Tạp chí Giáo dục, số 60.
Nguyễn Hữu Châu, Cao Thị Hà, 2004. Cơ sở lí luận của lí thuyết kiến tạo trong dạy học.
Thơng tin khoa học giáo dục, số 103.
Dương Bạch Dương, 2002. Nghiên cứu phương pháp giảng dạy một số khái niệm, định luật
trong chương trình vật lí lớp 10 THPT theo quan điểm kiến tạo. Luận án tiến sĩ giáo dục học,
Viện Khoa học Giáo dục.
Bruner, J., 1966. Toward a Theory of Instruction. Cambridge, MA: Harvard University Press.
Charles M.Reigeluth, 2011. Instructional Theory and Technology for New Paradigm of
Education. Indiana University.
ABSTRACT

Constructivism applied to credit based teaching
at the Hanoi National University of Education

While constructivism was established and has undergone long-term historical development,
this theory still exists and is confirmed in even the latest teaching activities. Today, constructivism
makes the class a center of exploration and knowledge discovery in which the learner is considered
to be the center of the teaching process. Teaching in a credit system is the process of organizing
for students to learn to find information and do scientific research by themselves. This is entirely
consistent with the nature of teaching constructivism.

249



×