Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

trồng trọt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (134.83 KB, 16 trang )

Đào Duy Đông –MTA k53 Thiết kế công thức luân canh cho ĐBSH
--------------------------------------------------------------------------------------------
A. MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết nước ta là một nước có nền nông nghiệp phát
triển lâu đời. Phải kể đến ở đây là nền văn minh lúa nước Sông Hồng.
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có bốn mùa:
Xuân, hạ, thu, đông. Việc sản xuất lương thực, thực hiện nay là vô cùng
cấp thiết, tận dụng tối đa nguồn tài nguyên đã có. Theo kinh nghiệm của
ông cha ta ngày trước chỉ có hai vụ nhưng nay chúng ta đã mở rộng và
phát hiện ra những giống cây mới ngắn ngày trồng được 3 vụ trong năm.
Từ sau cách mạng tháng Tám (1945) đến nay, năng suất lúa của cả nước
tăng lên không ngừng, nhưng sự khác nhau giữa các vùng về năng suất
lại rất khác nhau theo thời kỳ và các vùng sinh thái. Theo thống kê của bộ
Nông Nghiệp thì năng suất của Đồng Bằng Sông Hồng và Đồng Bằng
Sông Cửu Long là cao hơn các vùng khác, phù hợp với điều kiện địa hình
và đất phù sa rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp ở hai vùng này. Có
rất nhiều biện pháp làm cho năng suất cây trồng tăng nhanh như: luân
canh, trồng xen, trồng gối…tùy từng vùng mà ta có thể sử dụng những
biện pháp thích hợp cho từng giống cây trồng. Như chúng ta đã biết
Đồng Bằng Sông Hồng có một lượng đất phù sa cực kỳ phong phú. Là
Đồng Bằng nên Sông Hồng rất thích hợp với luân canh tăng vụ vừa đem
lại lợi ích cao mà có thể cải tạo đất, làm đất không bị mất chất dinh
dưỡng mà lại có thể để chất dinh dưỡng lại cho vụ sau. Để tìm hiểu rõ
hơn về vấn đề này ta đi tìm hiểu một số công thức luân canh.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
1
Đào Duy Đông –MTA k53 Thiết kế công thức luân canh cho ĐBSH
--------------------------------------------------------------------------------------------
B. NỘI DUNG
1. Điều kiện tự nhiên của ĐBSH.
Vùng Đồng bằng sông Hồng có toạ độ địa lí là 22


0
- 21
0
30' B và
105
0
30' - 107
0
Đ, nằm ở phía Nam của đường chí tuyến Bắc. Vùng bao gồm
đồng bằng châu thổ màu mỡ, dải đất rìa trung du với một số tài nguyên
khoáng sản, tài nguyên du lịch và vịnh Bắc Bộ giàu tiềm năng.
Như đúng tên gọi của vùng, sông Hồng đã gắn bó ngàn đời nay với cư
dân của vùng đồng bằng châu thổ này. Địa hình của vùng tương đối bằng
phẳng, có độ cao từ 0,4 - 12m so với mực nước biển. Ngoài ra, địa hình cũng
có một số vùng đồi có cấu tạo cacxtơ đá vôi dọc hai cánh Tây Nam và Đông
Bắc.
Vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung
bình năm khoảng 22,5 - 23,5
0
C. Lượng mưa trung bình năm là 1400 -
2000mm.
Vùng có vị trí thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội. Đây là cầu
nối giữa Đông Bắc, Tây Bắc với Bắc Trung Bộ, đồng thời cũng nằm ở trung
tâm miền Bắc, trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có thủ đô Hà Nội là
trung tâm công nghiệp, hành chính, chính trị cao nhất nước... Vùng lại tiếp
giáp với hơn 400km bờ biển, có cửa ngõ thông ra biển qua cảng Hải Phòng,
dễ dàng mở rộng giao lưu với các vùng khác và các nước trong khu vực. Tuy
nhiên, do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên thường xuyên chịu
ảnh hưởng của thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------

2
Đào Duy Đông –MTA k53 Thiết kế công thức luân canh cho ĐBSH
--------------------------------------------------------------------------------------------
Vùng còn có bờ biển dài, có ngư trường Hải Phòng - Quảng Ninh,
cảng Hải Phòng, khu du lịch Đồ Sơn.
Điều kiện khí hậu và thuỷ văn thuận lợi cho việc thâm canh tăng vụ
trong sản xuất nông nghiệp. Thời tiết mùa đông rất phù hợp với một số cây
trồng ưa lạnh.
Tài nguyên có giá trị đáng kể là các mỏ đá (Hải Phòng, Hà Nam,
Ninh Bình), sét cao lanh (Hải Dương), than nâu (Hưng Yên), khí tự nhiên
(Thái Bình). Về khoáng sản thì vùng có trữ lượng lớn về than nâu, đá vôi,
sét, cao lanh. Đặc biệt, mỏ khí đốt Tiền Hải đã được đưa vào khai thác nhiều
năm nay và đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Nguồn tài nguyên biển đang được khai thác có hiệu quả nhờ phát triển
nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, du lịch
Tuy nhiên, vùng thiếu nguyên liệu cho việc phát triển công nghiệp,
phần lớn nguyên liệu phải được nhập từ vùng khác. Một số tài nguyên của
vùng bị suy thoái do khai thác quá mức.
2. thực trạng năng suất cây trồng ở ĐBSH.
Qua nhiều năm thâm canh, luân canh trên ĐBSH thì người dân cũng
áp dụng được nhiều công thức luân canh mới để đưa vào sản xuất cho cây
trồng tăng năng suât. Từ việc điều kiện tự nhiên thuận lợi mà họ đã trồng
luân canh, Trồng xen, tăng vụ…rất hiệu quả.
Tài nguyên thiên nhiên của vùng khá đa dạng, đặc biệt là đất phù sa
sông Hồng. Đồng bằng sông Hồng là nơi có nhiều khả năng để sản xuất
lương thực, thực phẩm. Trên thực tế, đây là vựa lúa lớn thứ hai của cả nước,
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
3
Đào Duy Đông –MTA k53 Thiết kế công thức luân canh cho ĐBSH
--------------------------------------------------------------------------------------------

sau Ðồng bằng sông Cửu Long. Số đất đai sử dụng cho nông nghiệp là trên
70 vạn ha, chiếm 56% tổng diện tích tự nhiên của vùng, trong đó 70% đất có
độ phì từ trung bình trở lên. Ngoài số đất đai phục vụ nông nghiệp và các
mục đích khác, số diện tích đất chưa được sử dụng vẫn còn hơn 2 vạn ha.
Nhìn chung, đất đai của Ðồng bằng sông Hồng khá màu mỡ do được phù sa
của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp. Tuy vậy, độ phì nhiêu
của các loại đất không giống nhau ở khắp mọi nơi. Đất không được bồi đắp
hàng năm vẫn màu mỡ hơn đất được bồi đắp. Đất thuộc vùng châu thổ sông
Hồng phì nhiêu hơn đất thuộc vùng châu thổ sông Thái Bình. Có giá trị nhất
đối với việc phát triển cây lương thực ở Ðồng bằng sông Hồng là diện tích
đất không được phù sa bồi đắp hàng năm (đất trong đê). Loại đất này chiếm
phần lớn diện tích châu thổ, đã bị biến đổi nhiều do trồng lúa.
Vùng có hai hệ thống sông lớn là hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái
Bình nên nguồn nước rất phong phú. Cả nguồn nước trên mặt lẫn nguồn
nước ngầm đều có chất lượng rất tốt. Tuy nhiên, vùng cũng có xảy ra tình
trạng quá thừa nước trong mùa mưa và thiếu nước trong mùa khô.
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, ngành trồng cây lương thực luôn
giữ địa vị hàng đầu. Diện tích cây lương thực là khoảng 1,2 triệu ha, chiếm
khoảng 14% diện tích cây lương thực của cả nước. Sản lượng lương thực là
6,1 triệu tấn, chiếm 18% sản lượng lương thực toàn quốc (1999).
Trong các cây lương thực, lúa có ý nghĩa quan trọng nhất cả về diện
tích và sản lượng. Hàng năm, Ðồng bằng sông Hồng có hơn 1 triệu ha đất
gieo trồng lúa. Với con số này, lúa chiếm 88% diện tích cây lương thực của
vùng và chiếm khoảng 14% diện tích gieo trồng lúa của cả nước (1999).
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
4
Đào Duy Đông –MTA k53 Thiết kế công thức luân canh cho ĐBSH
--------------------------------------------------------------------------------------------
Cây lúa có mặt ở hầu hết các nơi, nhưng tập trung nhất và đạt năng
suất cao nhất là ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên,

Ninh Bình. Thái Bình trở thành tỉnh dẫn đầu cả nước về năng suất lúa (61,6
tạ/ha – năm 1999). Nhiều huyện, hợp tác xã đạt năng suất 8 – 10 tấn/năm.
3. Giới thiệu về luân canh
Luân canh là sự luân phiên cây trồng theo không gian và thời gian.
- Luân canh không gian là sự luân phiên nơi trồng của một loại cây
hay nói cách khác luân canh không gian là một loại cây trồng thay đổi nơi
trồng từ mảnh đất này sang mảnh đất khác.
- Luân canh thời gian là sự luân phiên cây trồng theo mùa vụ. Vụ sau,
năm sau trồng những cây không giống vụ trước, năm trước. Nói một cách
khác là trên cùng một mảnh đất trong nhưng thời gian khác nhau được trồng
những cây khác nhau.
Chu kỳ luân canh là số năm thực hiện một công thức luân canh. Công
thức luân canh là trình tự bố trí cây trồng trong một chu kỳ luân canh.
Ví dụ:
Ngô xuân – đậu tương hè thu – khoai tây
Lạc xuân – ngô hè thu – rau đông.
Trong luân canh có thể kết hợp với trồng xen, trồng gối
Ngô xuân( trồng xen lạc) – lúa mùa sớm – khoai tây( trồng xen Xà
lách)
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
5
Đào Duy Đông –MTA k53 Thiết kế công thức luân canh cho ĐBSH
--------------------------------------------------------------------------------------------
Hay: Ngô xuân( trồng gối đậu tương hè thu) – khoai lang đông( trồng
xen rau thơm)
4. Lợi ích của Luân canh.
a. luân canh nâng cao năng suất cây trồng và hiệu quả kinh tế cao.
Vì luân canh có tác dụng nhiều mặt nên trong luân canh cây trồng
sinh trưởng tốt, cho năng suất cao. Hệ thống luân canh chính xác không
chỉ lợi dụng tốt nhất các điều kiện tự nhiên của môi trường mà còn phát

huy vai trò của các yếu tố xã hội hoặc tiến bộ kỹ thuật như giống, gieo
trồng và chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại, bón phân hoặc thu hoạch.
b. luân canh có tác dụng điều hòa các chất dinh dưỡng trong đất.
Cây trồng hút nước và các chất dinh dưỡng từ đất để tổng hợp các
chất hữu cơ tạo thành sản phẩm. Con người thu hoạch và su7wr dụng sản
phẩm đã lấy đi một lượng dinh dưỡng từ đất. mỗi loại cây trồng, thậm chí
mỗi giống cây trồng cũng yêu cầu một lượng dinh dưỡng khác nhau. Cho
nên độc canh dẫn đến kiệt quệ một loại dinh dưỡng nào đó trong đất, còn
luân canh các loại cây khác nhau, sử dụng dinh dưỡng khác nhau, chất
dinh dưỡng được điều hòa.
Ngoài ra, cây trồng còn để lại chất hữu cơ trong đất với số lượng
khác nhau cho nên lượng dinh dưỡng để lại cũng rất khác nhau.
c. luân canh có tác dụng cải tạo và bồi dưỡng đất
Mỗi loại cây do đặc điểm sinh học của rễ, do yêu cầu về môi
trường sống và các biện pháp kỹ thuật tác động khác nhau( bón phân,
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
6

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×