Tải bản đầy đủ (.pdf) (114 trang)

Cảm hứng chủ đạo và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn kim lân

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1020.72 KB, 114 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Quốc Thanh

CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ NGHỆ
THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN
NGẮN KIM LÂN

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC
Mã số: 60 22 32

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHÙNG QUÝ NHÂM

Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2006


Mục Lục
Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài..................................................................................... 1
2. Giới hạn của đề tài ................................................................................. 2
3. Lịch sử vấn đề......................................................................................... 4
4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................15
5. Những đóng góp của luận văn ...............................................................16
6. Kết cấu của luận văn ..............................................................................16
Chương 1. Cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn của Kim Lân ...........17


1.1. Về khái niệm cảm hứng .......................................................................17
1.2. Cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn của Kim Lân.......................... 20
1.2.1. Động lực thúc đẩy sáng tác và ngọn nguồn, đối tượng tạo nên
cảm hứng trong truyện ngắn của Kim Lân .................................................. 20
1.2.2. Về cảm hứng phê phán trong truyện ngắn của Kim Lân.......... 21
1.2.3. Cảm hứng yêu thương và trân trọng con người ...................... 28
1.2.4. Cảm hứng về những sinh hoạt văn hố ở vùng thơn q ......... 45
Chương 2. Phương thức trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân

62

2.1. Các vấn đề về phương thức trần thuật trong loại hình tự sự ............ 62
2.2. Phương thức trần thuật khách quan trong truyện ngắn của Kim Lân 64
2.2.1. Kiểu người trần thuật lạnh lùng .............................................. 65
2.2.2. Kiểu trần thuật hồ mình với nhân vật ................................... 72
2.2.3. Phương thức trần thuật khách quan và những truyện ngắn mang
dấu ấn tự truyện của Kim Lân ..................................................................... 74
2.3. Phương thức trần thuật chủ quan trong truyện ngắn của Kim Lân

79

2.3.1. Kiểu người trần thuật xưng tơi đóng vai trị người dẫn truyện 80
2.3.2. Kiểu người trần thuật xưng tôi vừa là người dẫn truyện vừa là
một nhân vật................................................................................................. 85


Chương 3. Cấu trúc trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân ..........92
3.1. Cấu trúc trần thuật trong tác phẩm tự sự........................................... 92
3.2. Các dạng cấu trúc trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân ......... 93
3.2.1. Dạng cấu trúc trần thuật theo trình tự thời gian...................... 94

3.2.2. Dạng cấu trúc trần thuật rẽ ngang lồng ghép nhiều tầng bậc trần
thuật, ở nhiều thời điểm khác nhau ...............................................................99
3.2.3. Dạng cấu trúc trần thuật theo tâm lí ........................................105
3.2.4. Dạng cấu trúc trần thuật đảo lộn trình tự thời gian ................111
Kết luận .........................................................................................................116
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 1 tháng 8 năm 1921,
quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, tỉnh Bắc Ninh. Bởi rất mê tuồng nên
nhân vật tuồng Kim Lân đã trở thành bút danh của ông từ những năm bốn
mươi của thế kỉ trước. Kim Lân sinh ra ở mảnh đất “đời tạo văn nhân”,
“nhân tài nảy nở” nhưng lại không giống như nhiều nhân tài ở mảnh đất
này. Ông có một đời sống riêng thua thiệt: con một người vợ thứ ba trong
một gia đình bình thường, bị mọi người rẻ rúng... Do điều kiện khó khăn
nên Kim Lân chỉ học hết bậc tiểu học. Sau đó làm thợ sơn guốc, sơn bình
phong, thợ sơn tranh sơn mài... Kim Lân đến với văn học ban đầu là từ say
mê và ham thích. Ơng bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941. Tác phẩm của
Kim Lân đăng trên báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật. Ông
quan niệm viết văn như cách “địi cho mình một thân phận, một nhân
phẩm, một chỗ đứng trong cuộc sống bé nhỏ quẩn quanh của quê hương”
[54, tr.15].
Kim Lân bắt đầu sự nghiệp bằng truyện ngắn Đứa con người vợ lẽ
đăng trên báo Trung Bắc chủ nhật (1942). Đây là tác phẩm mang tính tự
truyện. Trong những năm 1941 đến năm 1944, Kim Lân viết khá đều.
Những truyện ngắn của ông đăng trên báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung

Bắc chủ nhật, ông tập trung phản ánh khung cảnh làng quê với cuộc sống
và số phận của người nông dân. Những cuộc đời lam lũ, đói nghèo trực tiếp
bước vào tác phẩm của ơng và những cuộc đời ấy đã tốt lên ý nghĩa hiện
thực sâu sắc. Một số tác phẩm của ơng như: Đuổi tà, Con Mã Mái, Ơng
Cản Ngũ… đi vào đề tài độc đáo: tái hiện những sinh hoạt phong phú ở
vùng thôn quê. Qua những tác phẩm này, tác giả tập trung biểu hiện vẻ đẹp

1


tâm hồn của người dân quê - những con người cực nhọc nghèo khổ, nhưng
vẫn yêu đời, trong sáng và tài hoa.
Sau cách mạng tháng tám, Kim Lân tiếp tục viết về làng quê Việt Nam.
Trong những tác phẩm: Làng, Vợ nhặt, Bố con ông gác máy bay trên núi
Côi Kê, Người chú dượng... ông tiếp tục viết về những cảnh đời Tội
nghiệp, khốn khó và sự đổi đời của người nông dân nhờ cách mạng. Trong
những tác phẩm viết ở giai đoạn này, Kim Lân đi sâu vào thể hiện những
thay đổi tình cảm của người nơng dân trong cách mạng, kháng chiến, sự
đổi đời của họ trong cải cách ruộng đất và những hoạt động cách mạng
thầm lặng bình thường nhưng thật đáng quý của họ.
Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Trong cả hai giai đoạn
sáng tác trước và sau cách mạng tháng tám, Kim Lân viết không nhiều
nhưng ở giai đoạn nào ông cũng có tác phẩm hay. Ơng là cây bút viết
truyện ngắn vững vàng. “Thành công của Kim Lân chủ yếu do năng khiếu
bẩm sinh và vốn sống của người vốn là con đẻ của đồng ruộng. Một lòng đi
về với “đất”, với “ thuần hậu nguyên thuỷ” của cuộc sống nông thôn” [89,
tr.758].
Truyện ngắn Kim Lân hấp dẫn và được các nhà nghiên cứu quan tâm,
đề cập đến ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, vấn đề cảm hứng chủ đạo
và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân cần được xem xét

ở bình diện rộng và mức độ bao quát hơn để hiểu rõ tài năng và đóng góp
của nhà văn.
2. Giới hạn của đề tài
2.1. Đối tượng khảo sát
Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Tác phẩm đã xuất bản:
- Làng, truyện ngắn, Tạp chí Văn nghệ, 1948, nhà xuất bản Văn nghệ,
Hà Nội, 1955.

2


- Nên vợ nên chồng, tập truyện ngắn, nhà xuất bản Văn nghệ, Hà Nội,
1955.
- Ơng lão hàng xóm (cùng Nguyên Hồng, Nguyễn Văn Bổng), nhà
xuất bản Văn nghệ, Hà Nội, 1957.
- Anh chàng hiệp sĩ gỗ, nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội, 1958 .
- Cô gái công trường, truyện phim, nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội,
1960.
- Vợ nhặt, tập truyện ngắn, nhà xuất bản Văn học, Hà nội, 1984.
- Ông Cản Ngũ, nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội, 1984.
- Tuyển tập Kim Lân, nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1996.
- Kim Lâm - Tác phẩm chọn lọc, nhà xuất bản Hội nhà văn, 2004.
Để phục vụ cho đề tài khoa học, đáng lẽ người viết phải khảo sát toàn
bộ truyện ngắn của Kim Lân nhưng do khó khăn trong việc sưu tập tư liệu,
hạn chế về thời gian nên người viết chỉ tập trung khảo sát 28 truyện ngắn từ
bốn nguồn tư liệu sau:
- Truyện Cô Vịa, báo Trung Bắc chủ nhật, số135, ngày 8-11-1942.
- Truyện Vợ chồng anh đội trưởng, báo Văn nghệ, số13, 1965.
- Tuyển tập Kim Lân, nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1996.
- Kim Lân - Tác phẩm chọn lọc, nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội,

2004.
Bên cạnh việc khảo sát 28 truyện ngắn nêu trên, chúng tơi cịn tiếp thu
một cách chọn lọc những nhận định đánh giá của các cơng trình nghiên cứu
đã có và những ý kiến của chính tác giả để đảm bảo tính khoa học, tính
khách quan cho luận văn.
2.2. Nội dung vấn đề
Tìm hiểu đặc điểm truyện ngắn của một tác giả là đề tài gồm nhiều vấn
đề. Nhưng do nhu cầu nghiên cứu, nguồn tư liệu, quỹ thời gian và những

3


hạn chế nhất định của bản thân, chúng tôi chỉ tập trung vào ba vấn đề: cảm
hứng chủ đạo, phương thức trần thuật và cấu trúc trần thuật trong truyện
ngắn của Kim Lân .
3. Lịch sử vấn đề
3.1. Phần mở đầu
Như đã trình bày ở trên, các cơng trình nghiên cứu về truyện ngắn của
Kim Lân chưa thật nhiều. Các cơng trình nghiên cứu này có thể chia làm
bốn nhóm. Một là, các bài viết của nhà nghiên cứu về nội dung, nghệ thuật
truyện ngắn Kim Lân. Hai là, một số bài viết về hai tác phẩm (Làng, Vợ
nhặt) giảng dạy ở trường phổ thông. Ba là, các bài viết của Kim Lân nói về
những tác phẩm của mình. Bốn là, luận văn nghiên cứu về đặc điểm truyện
ngắn Kim Lân. Nhìn chung, các bài nghiên cứu đã đi vào đặc điểm truyện
ngắn của Kim Lân ở những phương diện và những mức độ khác nhau.
Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi sẽ hệ thống những ý kiến nổi
bật, những nhận định quan trọng liên quan đến đề tài.
3.2. Để hệ thống các cơng trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
luận văn, chúng tôi phân chia ra các nhóm ý kiến sau
3.2.1. Hướng tiếp cận về nội dung

Kim Lân đến với văn học bằng sự say mê ham thích và ý chí vượt lên
số phận. Ơng bước vào đời sống văn học còn bởi sự gặp gỡ tình cờ, gắn bó
với nhà văn Ngun Hồng. Ngun Hồng - người bạn văn của Kim Lân đã
nhận xét về những tác phẩm đầu tay của ông:
Từ giữa những năm 1943 - 1944 ấy, tôi được đọc mấy truyện của Kim
Lân. Thoạt tiên tôi chẳng những không để ý mà còn thấy cái tên Kim Lân
chương chướng thế nào ấy… Nhưng rồi, chỉ bập vào mấy truyện của anh
mà tôi thấy không phải loại ướt át một cách bợm bãi, trái lại nó có cái gì
chân chất của đời sống và con người nghèo hèn, khổ đau… [31, tr.10].

4


Ở lời nhận xét này, nhà văn Nguyên Hồng đã rất chính xác khi đánh
giá về phương diện nội dung và mối quan hệ giữa tác phẩm - hiện thực
trong văn chương của Kim Lân. Cũng gần với quan điểm của nhà văn
Nguyên Hồng, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đưa ra nhận xét:
Đọc văn xuôi Kim Lân, ta bắt gặp cái thế giới của những người
thường dân nghèo khổ vốn là hạng “hạ lưu” ở xã hội cũ: Những người
nông dân miền xuôi mất nhà mất đất xiêu dạt lên miền ngược, táp vào một
xóm chợ bến sơng, một góc phố núi hay ven một đồn điền, một xóm trai,
tiếp tục vật lộn với miếng sống sơ đẳng hằng ngày. Đã có lúc nhà văn gọi
những nhân vật thân thuộc ấy của ngịi bút mình là “ những đầu thừa đi
thẹo ở khắp xó xỉnh cuộc sống”. Cách gọi giống như là sự tự mệnh danh
đầy đau xót của chính các nhân vật ấy (…) Mạch kể chuyện của Kim Lân
dường như bắt rất nhạy vào những cảnh thương tâm: cảnh bỏ nhà xiêu dạt
vì cơng nợ, thuế khố, cảnh ăn xin, cảnh chết đường chết chợ, cảnh bị áp
bức, đoạ đầy… [2, tr.56].
Khẳng định lại điều này, năm 1994 trong bài viết Nghĩ về nghề văn ,
nhà văn Kim Lân bộc bạch:

Tôi đến với văn học ban đầu là từ sự say mê ham thích. Những truyện
ngắn đầu tay của tôi như Đứa con người vợ lẽ, Người kép già, Cô Vịa là
những truyện ngắn viết về đề tài xã hội. Đó là những câu chuyện về bản
thân tôi, tâm tư và số phận của tôi cũng như những người gần gũi trong
làng xóm của tơi (…) Tơi viết như một việc được thôi thúc từ bên trong.
Những cảm xúc suy tư của tơi địi hỏi tơi phải viết. Thực chất, viết văn,
trước tiên tơi viết về mình [16, tr.262] (…) Nói đến tình u đất nước, nghe
cảm thấy xa xơi, nhưng tình cảm đối với làng thì thật gần gũi, gắn bó. Đối
với con người Việt Nam, làng xóm ni những con người lớn lên bằng cả
vật chất cũng như tinh thần.

5


Tình u của tơi đối với làng cũng như đối với cách mạng là nguồn
cảm hứng sâu sắc nhất khi tôi viết Làng [16, tr.268].
Ở những ý kiến trên, Kim Lân khẳng định viết văn đối ơng như một
sự địi hỏi cho mình một thân phận, một chỗ đứng trong xã hội. Văn ông là
những câu chuyện về bản thân và những người gần gũi trong làng xóm.
Nguồn cảm hứng của ông là con người làng quê, quê hương và cách mạng.
Năm 1996 trong lời giới thiệu Tuyển tập Kim Lân, nhà nghiên cứu
Lữ Huy Ngun có trích dẫn ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu:
Vương Trí Nhàn, Lữ Quốc Văn và Nguyễn Đăng Mạnh:
Hình như những mẫu người đầu thừa đuôi thẹo ấy đã gửi một đại
diện của họ vào văn học và Kim Lân đã làm việc này một cách đàng hồng
chững chạc [54, tr.16].
Đó là những trang số phận của các đầu thừa đuôi thẹo, được đưa từ
các xó xỉnh tối khuất lên mặt trang giấy trắng chất chứa nhân thế, nhân
tình hoặc những trang tuy nghiêng về nhiều phía phong tục, trình bày cặn
kẽ những thú chơi lành mạnh…, nhưng vẫn biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm

hồn của một người nông dân trước cách mạng - những người sống vất vả,
khổ nghèo nhưng vẫn yêu đời, trong sáng, thông minh, tài hoa [54, tr.18].
Kim Lân là một nhà tiểu thuyết phong tục hạng nhất của Việt Nam
[54, tr.18 - 19].
Ở ba ý kiến trên, các nhà nghiên cứu đã rất tinh tế khái quát đặc điểm
về nội dung trong truyện ngắn của Kim Lân. Từ các ý kiến này, nhà nghiên
cứu Lữ Huy Nguyên bổ sung và nhấn mạnh:
Tuy nhiên nếu có dịp đọc lại các tác phẩm của Kim Lân mà chủ yếu
Là truyện ngắn, ta sẽ thấy ông không phải chỉ là đại diện văn học của loại
nhân vật đầu thừa, đi thẹo; ơng cịn là đại diện văn học sáng giá của

6


những lớp người tài hoa, bặt thiệp, phong lưu riêng thú… chọi gà, thả
chim, đấu võ, đánh vật… [54, tr.16].
Cùng thống nhất với các quan điểm trên, nhà nghiên cứu Hồi Việt
đưa ra nhận xét về hai đề tài chính trong truyện ngắn của Kim Lân:
Chính cái vốn sống phong phú của ông đã dẫn ông tới với hai đề tài
chủ yếu trong nghiệp văn của ông:
- Số phận những người thấp cổ bé họng trong xã hội cũ.
- Phong tục tập qn, những thú vui, trị chơi nơi thơn dã [88, tr.88].
Ngoài ý kiến về hai đề tài chủ yếu trong truyện ngắn của Kim Lân,
nhà nghiên cứu Hoài Việt cịn chỉ ra nguồn gốc thành cơng của Kim Lân là
ở cái tâm và cái tài. Cái tâm của ơng là lịng thương xót con người hay con
vật, là sự chân thật, thẳng thắn, ghét sự khuất tất, ám muội. Cái “tài là con
mắt nhìn, cái óc nghĩ, cây bút viết ra” [88, tr.89].
Năm 2003 trong phần giới thiệu về tác giả Kim Lân, nhà nhiên cứu
Trần Hữu Tá đưa ra nhận xét:
Thế giới nghệ thuật của ông chỉ tập trung ở khung cảnh làng quê

cùng với cuộc sống, thân phận người nông dân (…) Những con người của
quê hương ông, thân thiết ruột thịt với ông, từ cuộc sống đói nghèo lam lũ
trực tiếp bước vào tác phẩm, tự nó tốt lên ý nghĩa hiện thực, mặc dù nhà
văn chưa thật tự giác về điều đó .
Kim Lân viết rất hay về những cái gọi là “thú đồng quê” hay “phong
lưu đồng ruộng”. Đó là những thú chơi lành mạnh mang màu sắc văn hoá
truyền thống của người dân q như đánh vật, ni chó săn, gà chọi, thả
chim v.v…Những truyện ngắn Kim Lân viết về phong tục (Đuổi tà, Đôi
chim thành, Con Mã Mái (…) hấp dẫn khơng phải chỉ vì đã cung cấp được
những trang tri thức về phong tục mà chủ yếu là vì nhà văn đã làm hiển
hiện lên được cuộc sống và con người làng quê Việt Nam cổ truyền, tuy

7


nghèo khổ, thiếu thốn mà vẫn có nhiều thú vui thanh lịch. Những con người
thật thà chất phác, nhưng thông minh, hóm hỉnh và tài hoa, đã đặt tất cả
niềm say mê của mình vào những thú chơi giản dị mà tao nhã tinh tế ấy,
chẳng khác gì những tâm hồn nghệ sĩ say mê sáng tạo nghệ thuật [90,
tr.758].
Ở ý kiến này, nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá cũng nhấn mạnh hai nội
dung nổi bật trong truyện ngắn Kim Lân là: con người, cuộc sống nông
thôn và những sinh hoạt văn hố phong phú ở vùng thơn q.
Sau cách mạng tháng tám, Kim Lân tìm thấy nguồn cảm hứng mới, ý
thức hơn về trách nhiệm của một nhà văn cách mạng:
Sau cách mạng tháng tám, ngòi bút Kim Lân tập trung vào phương
diện xã hội chính trị, của đời sống nông dân gắn liền với vận mệnh đất
nước. Về đề tài này, Làng và Vợ nhặt xứng đáng được xem là những truyện
ngắn xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại [62, tr.49].
Với quan điểm lịch sử và cái nhìn biện chứng sắc sảo, Nguyễn Đăng

Mạnh đã đưa ra nhận xét thuyết phục về đặc điểm nội dung và vị trí truyện
ngắn của Kim Lân. Cũng cùng quan điểm này, khi giới thiệu truyện ngắn
Làng, nhà nghiên cứu Lữ Huy Nguyên khẳng định: “Phải nói đây là một
chuyển biến mới, khá thành công của Kim Lân viết về người nông dân sau
cách mạng” [54, tr.20].
Năm 1991, Trần Ninh Hồ đưa ra ý kiến nhận xét, đánh giá về truyện
ngắn của Kim Lân:
Tuy tầm vóc, vị trí của mỗi nhà văn một khác, nhưng Kim Lân cũng
là một nhà văn thường đến với ta trong những khoảng chợt nhớ của đời
người rất khó diễn đạt thành lời ấy (…) Năm mươi năm, một nửa thế kỉ
cầm bút mà chỉ vẻn vẹn có chừng ngót chục truyện ngắn thì quả là ít ỏi.
Nhưng cũng kỳ lạ thay, mỗi khi lần mở những trang văn ít ỏi ấy, ta lại cảm

8


thấy khơng có một bước ngoặt, một chặng đường nào của con người Việt
Nam trong gần nửa thế kỉ qua mà Kim Lân không đá động tới dẫu chỉ bằng
sự chạm trổ hết sức khiêm tốn là: truyện ngắn [75, tr.106 - 107].
Đây có lẽ là nhận xét của người rất hiểu truyện ngắn Kim Lân. Nhưng
ở vấn đề này, chúng tôi thống nhất với quan điểm của nhà nghiên cứu Lại
Nguyên Ân hơn:
Do chỗ tập trung miêu tả người nông dân trong cách mạng dân tộc
dân chủ cho nên ở hầu hết truyện ngắn của ông, Kim Lân chưa chú trọng
khám phá óc tư hữu của họ. Nét tâm lý căn bản này, chỉ cần bước vào thời
kì đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa là lập tức bộc lộ rõ rệt. Nhà văn đã
thấy ngay nét đó: ở ông cả Luốn gốc me trong truyện ngắn cùng tên, nhà
văn đã khá tinh tế nhận thấy có một tương quan nào đó giữa thói gia
trưởng và óc tư hữu trong tâm lý người nông dân này (…) Đáng tiếc là
những tâm lí ứng xử như vậy của người nông dân trong cách mạng xã hội

chủ nghĩa đã không được Kim Lân tiếp tục phân tích và thể hiện nữa trong
văn xuôi của ông: giữa những năm sáu mươi về sau, hầu như ông đã thôi
không sáng tác nữa [2, tr.58 - 59].
Năm 2005 trong luận văn Đặc điểm truyện ngắn Kim Lân, tác giả
Đặng Thị Huy Lam đã dành hẳn một chương viết về Người lao động nghèo
ở làng quê Việt Nam và tấm lòng của nhà văn Kim Lân. Trong chương này,
tác giả đi vào hai nội dung. Một là, hiện thực về làng quê Việt Nam và
người lao động nghèo. Ở nội dung này, tác giả khảo sát các vấn đề: phong
tục và sinh hoạt văn hố làng q, những mảnh đời đầu thừa đi thẹo,
cuộc sống mới của người lao động nghèo sau cách mạng tháng tám. Hai là,
tấm lòng của nhà văn Kim Lân. Nội dung này bao gồm vấn đề: cái tơi giàu
lịng nhân ái, sự trân trọng và ca ngợi cái đẹp trong tâm hồn của người lao
động nghèo. Với những nội dung trên, có thể nói tác giả Đặng Thị Huy

9


Lam đã tìm hiểu nội dung của truyện ngắn Kim Lân theo các định hướng
của những cơng trình nghiên cứu đã có. Đóng góp của tác giả là đã hệ
thống và cụ thể các quan điểm để phục vụ cho luận văn của mình.
3.2.2. Hướng tiếp cận về nghệ thuật
Như đã trình bày, các cơng trình nghiên cứu truyện ngắn của Kim Lân
chưa nhiều. Đặc điểm các cơng trình nghiên cứu về nghệ thuật truyện ngắn
của Kim Lân cũng chỉ ở mức độ riêng lẻ, chưa tập trung và hệ thống.
Năm 1986 trong bài Văn xuôi Kim Lân, nhà nghiên cứu Lại Nguyên
Ân đưa ra nhận định:
Có lẽ do số lượng tác phẩm không nhiều nên truyện ngắn Kim Lân
cũng không thật đa dạng về các kiểu cấu tứ. Bằng vào hai tập Vợ nhặt và
Nên vợ nên chồng, có thể kể được khoảng ba kiểu truyện chính. Kiểu phổ
biến hơn cả có thể gọi là những truyện ngắn tính cách. Nhiệm vụ nghệ

thuật mà nhà văn vẽ ra ở đó là vẽ ra một con người (…) Hơi khác chút ít
với kiểu truyện tính cách này, Vợ nhặt là truyện ngắn không chú tâm hẳn
vào nhân vật nào (…) Diễn biến của truyện khơng nhằm khám phá một nét
tính cách nào của một trong số các nhân vật. Cái được chủ yếu ở đây là
miêu tả một tình huống. Đây có thể gọi là ước lệ là truyện ngắn tình huống
(…) Có một kiểu truyện nữa mà Kim Lân viết rất ít. Tơi muốn nói truyện
ngắn Con chó xấu xí từng được đặt làm cái tên chung cho tập truyện Vợ
nhặt hồi in lần đầu thành sách. Đây là truyện có hơi hướng ngụ ý [2, tr.59
- 61].
Ở ý kiến này, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân chia truyện ngắn Kim
Lân thành ba loại: truyện ngắn tính cách, truyện ngắn tình huống và truyện
ngắn ngụ ý. Cũng trong bài viết này, nhà nghiên cứu còn đưa ra nhận xét về
ngôn ngữ và chất giọng trong văn xuôi Kim Lân:

10


Chất giọng thường xuyên trong truyện ngắn của Kim Lân là chất
giọng thực sự văn xi. Nó khơng thích hướng vào chất trữ tình, khơng
thích nống lên thống thiết. Nó thích phơ bày cái nơm na thật thà, đáng u
nhưng cũng đáng tức cười của những sự thật xung quanh chứ khơng thích
phủ lên các sự thật ấy một sự cảm động đến rưng rưng.
Chính là do thích phơ bày nôm na thực thà của những con người và sự
vật xung quanh nên văn xuôi này đã chú trọng khai thác các khả năng miêu
tả của các ngôn ngữ (…) Nhà văn rất chú ý miêu tả lời ăn tiếng nói của họ
và đã biến thứ ngơn ngữ sống của những cư dân sống thực đó thành một
đối tượng nghệ thuật rất đáng lắng nghe, nếu ta biết nghiệm ra cái vẻ đẹp
rất thực của lời ăn tiếng nói ấy [2, tr.62].
Ở cả hai ý kiến trên, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đã rất có cơ sở
khi nhận xét về ba kiểu truyện trong truyện ngắn của Kim Lân. Đặc biệt

hơn, tác giả rất sắc sảo khi phát hiện một trong những đặc sắc của văn xuôi
Kim Lân là ngơn ngữ. “Ngơn ngữ nhân vật có vai trị quyết định trong việc
thể hiện những tâm lí cổ truyền của người nông dân” [2, tr.62].
Năm 1994 trong bài Nghĩ về nghề văn , Kim Lân bộc bạch:
Khi sáng tác truyện ngắn, đối với tôi chi tiết vô cùng quan trọng.
Trong truyện ngắn của tơi đầy ắp chi tiết. Tơi nói bằng chi tiết. Truyện của
tôi viết ra không ai kể lại được .
Truyện Làng, Vợ nhặt, Bố con ông gác máy bay trên núi Cơi Kê, Ơng
lão hàng xóm nếu kể cốt truyện ra thì tẻ nhạt khơng có gì đáng chú ý cả.
Chi tiết lấn át cốt truyện, chi tiết thể hiện một cách tinh tế nhất và rõ ràng
nhất tính cách nhân vật cũng như hồn cảnh sống của nhân vật [16,
tr.264].
Năm 1996 trong lời giới thiệu Tuyển tập Kim Lân, nhà nghiên cứu
Lữ Huy Nguyên đã mượn lời của nhà nghiên cứu Nguyên An để đánh giá

11


về truyện ngắn của Kim Lân “ông là một nhà văn kỹ lưỡng, tinh tế trong
việc lựa chọn chi tiết, kỳ khu và tài hoa trong việc lựa chọn ngôn từ, hình
ảnh. Vì thế mà Nguyễn Khải coi ơng là một bậc thầy để noi theo” [54,
tr.18].
Năm 1994 trong bài viết về truyện Vợ nhặt, nhà văn Kim Lân nói:
Tơi quan niệm: truyện ngắn cũng như tiểu thuyết và điều quan trọng
nhất là nhân vật. Nhân vật phải có tính cách và phải hành động theo tính
cách nhân vật một cách tự nhiên, không giả tạo sáo rỗng (…) Ngôn ngữ
trong truyện ngắn phải tinh hơn, gạn lọc kỹ hơn và phải có ý tứ từ bên
trong (…) Tơi nghĩ văn chương bây giờ kêu quá, bóng bẩy quá cũng như
đánh bóng mạ kền, cái đó khơng cần có trong văn chương; điều quan trọng
văn chương phải thật giản dị. Văn của tơi đã nói được tiếng nói và suy nghĩ

của tôi [16, tr.41].
Trong cả ba ý kiến trên, Kim Lân và các nhà nghiên cứu đều khẳng
định thành công của truyện ngắn Kim Lân tập trung ở ba phương diện: lựa
chọn, thể hiện chi tiết; xây dựng nhân vật và sử dụng ngôn ngữ.
Năm 1997 trong bài Sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật đặc sắc của
truyện Kim Lân tác giả Bảo Nguyên cũng cùng quan điểm với các nhà
nghiên cứu khác, khi chỉ ra thành công của truyện ngắn Kim Lân ở các
phương diện: sử dụng ngữ âm và từ vựng.
Kim Lân đã dùng hàng loạt từ láy: xác xơ, heo hút,ngăn ngắt, úp súp,
sù sì, dật dờ, thê thiết (…) Từ láy đã góp phần tích cực tạo ra âm điệu
trầm, nhịp ngơn ngữ chậm, có tác dụng nhấn mạnh những đặc tính cần
miêu tả (…)
Ơng lựa chọn những từ ngữ còn mang hơi thở của cuộc sống hàng
ngày, để diễn đạt chúng đúng cái cuộc sống miền quê với những con người
quê giản dị và đáng yêu (…)

12


Trong việc sử dụng từ ngữ, Kim Lân đặc biệt chú ý những thành ngữ,
những từ đệm vốn là những từ ngữ cửa miệng của người dân: “giời đất cha
mẹ ơi”, “cụ bảo thì là dân ta”, “dầu bây giờ đắt gớm”(…) Những từ ngữ
này đặt đúng hoàn cảnh đã tạo ra tác dụng vừa khắc hoạ tính cách nhân
vật vừa gợi nên nét đời thường rất phù hợp với cuộc sống miền quê [68,
tr.230 - 231].
Nhận xét về giọng văn của Kim Lân, ngoài việc thống nhất với đánh
giá của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, tác giả Bảo Nguyên rất tinh tế khi
bổ sung thêm:
Giọng văn chủ đạo của ơng thường trầm sáng như giọng ca dao, cổ
tích. Nhịp văn của ơng chậm gọn… Đó là một thứ giọng đệm phù hợp với

quang cảnh nông thôn, với văn minh nông nghiệp (…)
Yêu thương ca ngợi là nét giọng chủ đạo trong các truyện ngắn Kim
Lân. Song ở mỗi truyện ở mỗi hoàn cảnh, ở mỗi nhân vật trong từng điều
kiện Kim Lân sử dụng các giọng khác nhau để miêu tả. Giọng phẫn uất lẫn
mỉa mai trong “Đứa con người vợ lẽ” giọng cảm thương và mỉa mai
trong“Con chó xấu xí” giọng cảm thơng lẫn kính phục trong “Thượng
tướng Trần Quang Khải - Trạng vật”.
(…)
Trong các truyện tâm lí xã hội của Kim Lân ta thường bắt gặp một
giọng kể, giọng tả đồng tình, cảm thương [68, tr.232].
Từ những ý kiến đánh giá trên tác giả Bảo Nguyên đã đưa ra kết luận
khái quát:
Ngữ âm từ vựng, giọng điệu được bàn tay nhà nghệ sĩ tài ba Kim Lân
đã sắp đặt tạo ra một thứ ngôn từ mang đậm chất “văn xi ”. Đó là một
đố hoa tạo nên sức hút ban đầu cho các độc giả. Đó là phong cách giản
dị mà độc đáo của Kim Lân [68, tr.233].

13


Năm 2005 trong luận văn Đặc điểm truyện ngắn Kim Lân, tác giả
Đặng Thị Huy Lam dành hai chương để khảo sát nghệ thuật truyện ngắn
của Kim Lân. Ở chương Nghệ thuật dựng truyện và xây dựng nhân vật, tác
giả đã đi sâu tìm hiểu các vấn đề cốt truyện, tình huống, chi tiết, nghệ thuật
miêu tả ngoại hình, miêu tả và biểu hiện tâm lý nhân vật. Ở chương Ngơn
ngữ và giọng điệu, ngồi những định hướng của cơng trình nghiên cứu có
trước, tác giả luận văn đã có những tìm tịi, phát hiện về đặc điểm câu văn
và biện pháp so sánh tu từ trong truyện ngắn của Kim Lân.
3.3. Nhận định chung
Các cơng trình nghiên cứu về truyện ngắn của Kim Lân được thực

hiện ở các phương diện và mức độ khác nhau. Nhìn chung các nhà nghiên
cứu và tác giả đều công nhận:
- Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Ông “là một trong
những cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Kim
Lân đã tạo được cách viết độc đáo. Phải nói rằng Kim Lân viết khơng
nhiều nhưng sáng tác của ông đã gây được ấn tượng với người đọc” [16,
tr.31].
- Thế giới nghệ thuật của Kim Lân tập trung ở khung cảnh làng quê
cùng với cuộc sống, thân phận người dân quê.
- Kim Lân viết rất hay về những cái gọi là “thú đồng quê” hay “phong
lưu đồng ruộng”. Đó là những sinh hoạt văn hố của người dân quê.
- Trong các truyện ngắn, Kim Lân thể hiện rất rõ cái tơi giàu lịng nhân
ái, trân trọng và ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của người lao động nghèo.
- Kim Lân là nhà văn kỹ lưỡng tinh tế trong việc lựa chọn chi tiết, kỳ
khu và tài hoa trong việc lựa chọn ngơn ngữ và hình ảnh.
4. Phương pháp nghiên cứu

14


4.1. Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sẽ vận dụng quan điểm duy
vật, quan điểm lịch sử và phương pháp biện chứng làm nền tảng cho nhận
thức và nghiên cứu. Chúng tôi sẽ vận dụng những thành tựu của các khoa
học liên ngành như: phương pháp luận nghiên cứu văn học, phong cách
học, thi pháp học, lý luận văn học… để làm nổi bật vấn đề.
4.2. Ngoài những vấn đề có tính chất phương pháp luận nêu trên,
chúng tôi sẽ sử dụng phối hợp hai phương pháp chủ yếu là phương pháp
phân tích, tổng hợp và phương pháp hệ thống.
Phương pháp phân tích, tổng hợp là phương pháp được sử dụng rộng
rãi trong luận văn. Chúng tôi sẽ đi từ việc khảo sát phân tích từng truyện

ngắn, các yếu tố nổi bật thể hiện cảm hứng và nghệ thuật trần thuật, để từ
đó rút ra những nhận xét có tính tổng hợp, khái qt. Đồng thời, để triển
khai vấn đề một cách khoa học, biện chứng, chúng tôi sẽ đặt đối tượng
nghiên cứu trong mối quan hệ với các yếu tố khác của hệ thống để làm rõ
cảm hứng chủ đạo và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của Kim
Lân.
Vận dụng phương pháp hệ thống, chúng tôi nhằm mục đích phát hiện
tính lặp lại nhiều lần của các phương diện liên quan đến đề tài. Từ bước tập
hợp các phương diện lặp lại liên quan đến đề tài, chúng tôi sẽ đi đến việc
khẳng định những đặc điểm mang tính ổn định về cảm hứng và nghệ thuật
trần thuật. Từ đó tạo cơ sở vững chắc cho những nhận xét của luận văn.
Ngoài các phương pháp vừa nêu, chúng tơi cịn sử dụng phương pháp
so sánh và thống kê ở những chừng mực nhất định. Khi trình bày cảm hứng
chủ đạo, chúng tơi có so sánh những tác phẩm của Kim Lân với những tác
phẩm của các nhà văn Nguyễn Tuân, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Thạch Lam…
Sử dụng phương pháp so sánh, chúng tôi nhằm để hình dung rõ vấn đề chứ
khơng nhằm mục đích khẳng định sự hơn kém ở các nhà văn. Phương pháp

15


thống kê sẽ được sử dụng để xem xét các phương thức trần thuật, các dạng
cấu trúc trần thuật có tính tập trung cao và có tấn số xuất hiện nhiều lần
trong truyện ngắn của Kim Lân, từ đó hướng đến việc tìm ra các đặc điểm
riêng, ổn định, có dụng ý của nhà văn, nhằm làm vững chắc hơn cho những
nhận xét của luận văn.
5. Những đóng góp của luận văn
Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Ông là một trong những
cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Mặc dù được
đánh giá là nhà văn có tài nhưng những cơng trình nghiên cứu về truyện

ngắn của ơng cịn khá ít. Luận văn của chúng tôi sẽ đi vào các vấn đề: cảm
hứng chủ đạo, phương thức trần thuật và cấu trúc trần thuật. Dù các vấn
đề đặt ra trong luận văn chưa là tổng quát nhưng chúng tôi hi vọng sẽ góp
thêm hiểu biết về phong cách nghệ thuật của Kim Lân. Từ đó, góp phần
khẳng định vị trí của Kim Lân trong nền văn xi Việt Nam hiện đại và
đóng góp một phần nhỏ vào việc học tập, giảng dạy truyện ngắn Kim Lân ở
nhà trường phổ thông.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo luận văn
gồm có ba chương:
Chương 1. Cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn của Kim Lân.
Chương 2. Các phương thức trần thuật trong truyện ngắn của Kim
Lân.
Chương 3. Cấu trúc trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân.

16


Chương 1
CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA KIM LÂN
1.1. Về khái niệm cảm hứng
Phương diện chủ quan của nội dung tư tưởng tác phẩm là lý giải chủ
đề, cảm hứng tư tưởng, tình điệu thẩm mỹ. Tư tưởng của tác phẩm bao
gồm khuynh hướng triết học, chính trị, đạo đức, khuynh hướng nhận thức,
khuynh hướng tình cảm, thẩm mỹ thể hiện trong tác phẩm. Tư tưởng của
tác phẩm có quan hệ chặt chẽ với quan niệm về thế giới, với quan niệm về
nhân sinh, với tình cảm và thái độ của nhà văn. Tư tưởng của nhà văn sẽ
chi phối sự đánh giá các hiện tượng đời sống trong tác phẩm. Xuất phát từ
đặc điểm này, nghiên cứu văn học đã hình thành khái niệm cảm hứng chủ

đạo với tư cách là nhân tố tư tưởng trong sáng tạo nghệ thuật.
Cảm hứng thường được hiểu là trạng thái tâm lý đặc biệt khi sức chú ý
được tập trung cao độ, kết hợp với cảm xúc mãnh liệt, tạo điều kiện để óc
tưởng tượng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả. Cảm hứng là hứng thú sáng
tạo nói chung và sáng tạo văn học nói riêng. Hê Ghen và Bêlinxki đều dùng
từ “cảm hứng” “để chỉ trạng thái hưng phấn cao độ của nhà văn do việc
chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả. Sự chiếm lĩnh ấy
bao giờ cũng bắt nguồn từ lý tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và
cải tạo thực tại” [dẫn theo 74, tr.141]. Theo Pơxpêlốp thì cảm hứng là “sự
lý giải, đánh giá sâu sắc và chân thực - lịch sử đối với tính cách được miêu
tả vốn nảy sinh từ ý nghĩa dân tộc khách quan của các tính cách ấy là cảm
hứng tư tưởng sáng tạo của nhà văn và của tác phẩm của nhà văn” [74,
tr.141]. Cảm hứng là một phương diện chủ quan thuộc về nội dung tư
tưởng tác phẩm. Lênin từng viết trong bút ký triết học: “Tư tưởng - đó là

17


nhận thức và khát vọng (mong muốn) của con người” [dẫn theo 57, tr.265].
Cùng quan điểm với Lênin, Pôxpêlốp khẳng định:
Tư tưởng của tác phẩm văn học là sự thống nhất tất cả các mặt nội
dung của nó như hệ đề tài, hệ vấn đề và sự đánh giá tư tưởng - cảm xúc đối
với cuộc sống, đó là tư tưởng khái quát, tư tưởng bằng hình tượng, bằng
cảm xúc của nhà văn. Tư tưởng đó thể hiện cả ở sự lựa chọn, cả ở sự lý
giải và cả ở sự đánh giá các tính cách [74, tr.124].
Nội dung tư tưởng tác phẩm văn học luôn gắn liền với cảm xúc mãnh
liệt. Nhà phê bình Bêlinxki nói: “Tư tưởng thơ, đó khơng phải là phép tam
đoạn thức, khơng phải là giáo điều, không phải là qui tắc, mà là một ham
mê sống động, đó là cảm hứng” [dẫn theo 57, tr.268]. Bêlinxki giải thích rõ
hơn: “Trong cảm hứng nhà thơ là người yêu tư tưởng như yêu cái đẹp, yêu

một sinh thể sống, thấm nhuần tư tưởng một cách nhiệt tình” [dẫn theo 57,
tr.268]. Cụ thể các quan điểm của Bêlinxki, Trần Đình Sử đưa ra quan
điểm về cảm hứng:
Cảm hứng là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư tưởng, là một ham
muốn tích cực đưa đến hành động. Điều quan trọng là cần nhận ra cảm
hứng như một lớp nội dung đặc thù của tác phẩm văn học .
Cảm hứng trong tác phẩm trước hết là niềm say mê khẳng định chân
lý, lý tưởng, phủ định sự giả dối mà mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực là thái
độ ngợi ca, đồng tình với nhân vật chính diện, là sự phê phán tố cáo các
thế lực đen tối, các hiện tượng tầm thường [57, tr.268].
Với tính chất là một trong những yếu tố hợp thành tư tưởng tác phẩm,
Hêghen xem cảm hứng chủ đạo như là “ trung tâm điểm ”, “ vương quốc sự
thật” của nghệ thuật. Ông cho rằng:
Cảm hứng chủ đạo là biểu hiện của tâm hồn người nghệ sĩ say mê
thâm nhập vào bản chất của đối tượng, trở thành tương ứng với nó, gần

18


như là xun suốt vào nó. Theo ơng, cảm hứng chủ đạo cần được xem như
là một sản phẩm của “một tinh thần phong phú và hoàn thiện, một cá tính
mà trong đó tất cả những lực lượng bản thể phổ quát đều được thực hiện”
[dẫn theo 20, tr.208].
Về khái niệm cảm hứng chủ đạo, Bêlinxki quan niệm cụ thể hơn:
Trong những tác phẩm thi ca (hiểu theo nghĩa rộng: tác phẩm nghệ
thuật - người soạn) đích thực, tư tưởng không phải là một khái niệm trừu
tượng, được diễn tả một cách giáo điều, mà nó tạo thành linh hồn toả vào
trong tác phẩm, giống như ánh sáng chiếu vào pha lê. Tư tưởng trong sáng
tạo thi ca - đó chính là cảm hứng… Cảm hứng là sự thiết tha và nhiệt tình
nồng cháy gợi nên bởi một tư tưởng nào đó [dẫn theo 20, tr.208].

Cũng với quan điểm trên, Bêlinxki viết:
Nghệ thuật khơng cho phép thâm nhập vào nó những tư tưởng triết
học trừu tượng, những tư tưởng lý tính; tư tưởng thi ca - đó khơng phải là
một thứ tam đoạn luận, không phải là giáo điều, không phải là qui luật; đó
là nhiệt tình sinh động. Cảm hứng biến sự nhận thức của trí tuệ về một tư
tưởng nào đó trở thành niềm say mê đối với tư tưởng đó, trở thành năng
lượng và thành khát vọng nồng nhiệt [dẫn theo 20, tr.209].
Từ những quan điểm trên, Bêlinxki đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu
cảm hứng chủ đạo của nhà văn trong tác phẩm để tìm hiểu đặc điểm sáng
tác của nhà văn ấy: “Công việc đầu tiên, nhiệm vụ đầu tiên của người phê
bình là giải đoán cảm hứng chủ đạo của tác phẩm” [dẫn theo 20, tr.209].
Về khái niệm cảm hứng chủ đạo, Huỳnh Như Phương đưa ra quan
điểm:
Cảm hứng chủ đạo thấm nhuần vào tồn bộ cấu trúc của tác phẩm,
vào thế giới hình tượng, bao gồm khơng gian, thời gian, tính cách nhân vật,

19


vào xung đột và cốt truyện, vào ngôn từ và giọng điệu của một bài thơ, một
truyện ngắn, một thiên tuỳ bút hay một cuốn tiểu thuyết [20, tr.210] .
Từ quan điểm này, tác giả khẳng định: “Việc tìm hiểu cảm hứng chủ
đạo không phải chỉ căn cứ trên một bộ phận, một thành tố nào, mà phải
căn cứ trên tồn bộ lơ gích nghệ thuật của tác phẩm” [20, tr.210].
Như vậy, cảm hứng là một trong những yếu tố chính hợp thành tư
tưởng của tác phẩm. Cảm hứng chủ đạo được xem là “trung tâm điểm”, là
“vương quốc sự thật” của nghệ thuật. Cảm hứng chủ đạo không chỉ tốt ra
từ tác phẩm mà cịn xun suốt tồn bộ sáng tác của một tác giả.
1.2. Cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn của Kim Lân
1.2.1. Động lực thúc đẩy sáng tác và ngọn nguồn, đối tượng tạo

nên cảm hứng trong truyện ngắn của Kim Lân
Nhà văn Kim Lân từng kể về đời mình:
Tơi khơng được học đến nơi đến chốn. Đang học lớp nhất ở trường
huyện thì bố tơi mất, tơi bỏ nhà xuống Hải Phịng tìm việc làm, không
được, lại quay về làng. Tôi đi học nghề sơn guốc của một ông hoạ sĩ làng
bên. Trong sự rẻ rúng của gia đình (ơng là con trai người vợ ba cụ thân
sinh), nhiều bạn bè đồng học vẫn đi, đèn sách nhởn nhơ, tôi buồn bực vô
cùng. Đúng ra là tự ái. Tự nhiên tơi nhìn xung quanh thấy nhiều sự nhăng
nhít, vơ lý và nhất là lịng ham viết, thích viết của tơi lại càng nung nấu
[54, tr.14 - 15].
Theo cách nói của Lữ Huy Nguyên “cái ý nghĩ cương quyết, ngây thơ:
ta chẳng kém gì các người” của anh thợ sơn guốc đã đưa Kim Lân đến với
nghề văn. Như vậy, Kim Lân viết văn trước hết có hai động lực khởi
nguồn: lịng “ham viết, thích viết” và “nhiều sự nhăng nhít, vơ lý” của cuộc
sống xung quanh nhà văn lúc ấy. Mặc nhiên, việc cầm bút viết văn của
người thợ sơn guốc đó có ý nghĩa lớn lao, mang tính nhân đạo và nhân văn

20


là “địi cho mình một thân phận, một nhân phẩm, một chỗ đứng trong cuộc
sống nhỏ bé quẩn quanh của quê hương” [54, tr.15]. Và “người thợ sơn
guốc” ấy đã có truyện ngắn đầu tay đăng trên báo Trung Bắc chủ nhật số
120 ra ngày 26-7-1942. Đó là truyện Đứa con người vợ lẽ thấm đẫm tính
chất tự truyện. Cái “nhăng nhít, vơ lý ” từ cảnh ngộ của bản thân mình đến
cái “nhăng nhít, vơ lý” ở xung quanh dần dần được Kim Lân đưa vào các
truyện của mình (Nỗi này ai có biết - 1943, Cơm con - 1943,…). Những
trang viết theo cuộc đời, càng ngày nhà văn càng mở rộng không gian nghệ
thuật trong các truyện của mình, từ một số mặt của cuộc sống ở vùng quê
quen thuộc của những lớp người “đầu thừa đuôi thẹo” (chữ của Vương Trí

Nhàn) trước năm 1945, đến những con người đói nghèo lam lũ vì miếng
cơm tấm áo đổi đời, đi theo cách mạng và kháng chiến sau năm 1945. Theo
trình tự những trang viết của Kim Lân, người đọc có thể thấy nội dung và
chất lượng các truyện ngắn cứ mở dần mở dần, cứ cao dần cao dần…
1.2.2. Về cảm hứng phê phán trong truyện ngắn của Kim Lân
Kim Lân cho rằng “điều quan trọng là văn chương phải thật, phải
giản dị” [16, tr.39]. Nhà văn không bằng lịng với thứ văn chương “kêu
q, bóng bẩy q, cứ như là đánh bóng mạ kền …” [16, tr.39]. Tất nhiên,
cái mà Kim Lân gọi là thật là cái thật của văn chương, theo cách văn
chương. Và cái giản dị cũng vậy, nó là cái giản dị nghệ thuật. Bởi vậy,
nhìn vào các truyện của Kim Lân viết, người đọc bắt gặp hầu hết là những
cảnh những người mà nhà văn đã từng sống, từng quen biết, từng gần gũi
và hiểu biết một cách cặn kẽ, sâu sắc. Đó là những làng quê xung quanh
quê nhà văn, những con người sinh sống ở các làng quê ấy mà mỗi lần
bước chân ra ngõ xóm đường làng là Kim Lân đã gặp.
Một vấn đề khác trong sáng tác truyện mà Kim Lân coi trong đó là vấn
đề khắc hoạ nhân vật. Nhà văn nói: “Tơi quan niệm: truyện ngắn cũng là

21


tiểu thuyết và điều quan trọng là nhân vật. Nhân vật phải có tính cách và
phải hành động theo tính cách nhân vật một cách tự nhiên, không giả tạo
sáo rỗng” [16, tr.38 - 39]. Tính cách ở đây là một khái niệm thuộc phạm
trù mỹ học của chủ nghĩa hiện thực, nó vạch ra đường biên khu biệt những
nét riêng biệt của một (hay một nhóm) đối tượng này so với một (hay một
nhóm) đối tượng khác. Ở một mức nào đó, có thể phân ra làm hai loại nhân
vật: loại nhân vật “đầu thừa đuôi thẹo” và loại nhân vật là hình tượng của
quần chúng bình thường. Nhiều nhân vật trong các truyện của Kim Lân,
đặc biệt là các truyện viết trước năm 1945, đã có dấu ấn chung về tính cách

của lớp người mà nhà văn quen thuộc ở cả một vùng q ơng lúc đó. Có
nhà nghiên cứu nhận thấy nhân vật trong nhiều truyện của Kim Lân là
những người “đầu thừa đuôi thẹo”, ông chẳng ra ơng, thằng chẳng ra thằng
(Vương Trí Nhàn). Cũng có nhà nghiên cứu phát hiện ở một tầng sâu khác:
“Ông còn là đại diện văn học sáng giá của những lớp người tài hoa bặt
thiệp, phong lưu riêng thú… chọi gà, thả chim, đấu võ, đánh vật …” [54,
tr.16]. Đúng là có điều này, nhiều nhân vật trong nhiều truyện viết trước
năm 1945 của Kim Lân thuộc lớp người “đầu thừa đi thẹo” ấy là những
nhân vật có những nét tài hoa riêng, bặt thiệp riêng (Cả Chuẩn trong Con
Mã Mái, Trưởng Thuận trong Đơi chim thành …). Hình như ở vùng đất
quê Kim Lân, những người như vậy có nhiều và họ đã tạo nên cái nét đặc
sắc riêng, khơi gợi sự chú ý của nhà văn. Kim Lân đã viết về họ, về những
cái mà họ vốn có và đã có, về cuộc sống mà họ đã sống. Những điều ấy có
khi “nhăng nhít, vơ lý” nhưng đều là hiện thực đáng kính, đáng yêu, như là
dấu vết riêng biệt của một thời đã qua khơng cịn lặp lại.
Hầu hết những truyện ngắn viết sau năm 1945, “Kim Lân vẫn tiếp tục
viết về làng quê Việt Nam. Ông thường viết về những cảnh tội nghiệp, cuộc
sống khốn khó đến cùng cực của người nông dân dưới chế độ cũ và sự đổi

22


×