Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

Tiểu luận đề tài "Chiến dịch Tây Nguyên"

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1011.42 KB, 21 trang )

Tiểu luận
Chiến dịch Tây Nguyên

1


MỤC LỤCC LỤC LỤCC
Tiểu luậnu luậnn.....................................................................................................................1
Chiến dịch Tây Nguyênn dịch Tây Nguyênch Tây Nguyên..................................................................................................1
MỤC LỤCC LỤC LỤCC...................................................................................................................2
A – PHẦN MỞ ĐẦUN MỞ ĐẦU ĐẦN MỞ ĐẦUU..................................................................................................3
1. Lý do chọn đề tàin đề tài tài.......................................................................................................3
2. Mục đích yêu cầuc đích yêu cầuích yêu cầuu.....................................................................................................3
3. Nội dung đề tàii dung đích yêu cầuề tài tài.........................................................................................................4
B – NỘI DUNGI DUNG...........................................................................................................4
1. Hoàn cảnh lịch sửnh lịch Tây Nguyênch sử.....................................................................................................4
2. Diễn biếnn biến dịch Tây Nguyênn.................................................................................................................5
2.1. So sánh lực lượng trên chiến trường Tây Nguyênc lượng trên chiến trường Tây Nguyênng trên chiến dịch Tây Nguyênn trường Tây Nguyênng Tây Nguyên..................................................5
2.1.1. Lực lượng trên chiến trường Tây Nguyênc lượng trên chiến trường Tây Nguyênng trên chiến dịch Tây Nguyênn trường Tây Nguyênng :.........................................................................5
2.1.2. Bố trí lực lượng trên chiến trường trí lực lượng trên chiến trường Tây Nguyênc lượng trên chiến trường Tây Nguyênng trên chiến dịch Tây Nguyênn trường Tây Nguyênng.................................................................6
2.2.1. Đánh chiến dịch Tây Nguyênm thịch Tây Nguyên xã Buôn Mê Thuội dung đề tàit, đích u cần đích u cầuiểu luậnm trúng huyệt làm đảo lộn thế t làm đích yêu cầuảnh lịch sửo lội dung đề tàin thến dịch Tây Nguyên
trậnn...............................................................................................................................7
2.2.2. Đậnp tan cuội dung đề tàic phảnh lịch sửn kích tiêu diệt làm đảo lộn thế t sư đích u cầuồn 23 ngục đích u cầuy.........................................8
2.2.3. Chặn đánh địch tháo chạy trên đường số 7.n đích yêu cầuánh đích yêu cầuịch Tây Nguyênch tháo chạy trên đường số 7.y trên đích yêu cầuường Tây Nguyênng số trí lực lượng trên chiến trường 7......................................................9
2.3. Bước ngoặc phản chiến 1975.c ngoặn đánh địch tháo chạy trên đường số 7.c phảnh lịch sửn chiến dịch Tây Nguyênn 1975...........................................................................10
3.2. Nguyên nhân thắng lợing lợng trên chiến trường Tây Nguyêni..........................................................................................12
3.3.Ý nghĩa lịch sửa lịch Tây Nguyênch sử......................................................................................................14
C – KẾT LUẬNT LUẬNN.........................................................................................................14
1. Kến dịch Tây Nguyênt quảnh lịch sử nghiên cứu :u :.............................................................................................14
2. Đề tài xuất và kiến nghịt và kiến dịch Tây Nguyênn nghịch Tây Nguyên............................................................................................15
PHỤC LỤC LỤC LỤCC :................................................................................................................16



2


Ph l c 1: Bảo vệ vùng giải phóng Nam Tây Nguyên( )o vệ vùng giải phóng Nam Tây Nguyên( ) vùng giảo vệ vùng giải phóng Nam Tây Nguyên( )i phóng Nam Tây Nguyên( ) .............16
Nguồn : n : ...........................................................................19
TÀI LIỆU THAM KHẢO:U THAM KHẢO:O:...........................................................................................20

A – PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Để có được cuộc sống độc lập, ấm no, hạnh phúc như ngày hôm nay
nhân dân ta đã trải qua biết bao nhiêu thăng trầm, biến cố, đã hi sinh biết
bao xương máu…Chính vì thế là người dân nước Việt chúng tôi tự hào về
những trang sử vàng của dân tộc ta. Khao khát tìm hiểu về lịch sử dân tộc
đã dẫn đưa chúng tôi đến với chiến dịch Tây Nguyên một trong những
bước ngoặt lớn trong lịch sử đấu tranh giữ nước của Việt Nam chúng ta.
2. Mục đích u cầu
Hịa cùng khơng khí chào mừng 33 năm ngày Miền Nam hồn tồn giải
phóng thống nhất đất nước, chúng tôi, những sinh viên trường ĐH Cơng
Nghiệp dưới sự chỉ dẫn nhiệt tình của thầy Nguyễn Minh Tiến Khoa Mác
Lênin đã nghiên cứu đề tài này nhằm trang bị cho chúng tôi vốn kiến thức
về lịch sử dân tộc và phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết của nhân
dân ta.
3. Nội dung đề tài
Tây Nguyên là một địa bàn chiến lược hết quan trọng, mà cả ta và địch đều
cố gắng nắm giữ. Nhưng do nhận định sai lầm hướng tiến công của quân ta,
địch chốt giữ ở đây một lực lượng mỏng, bố phòng có nhiều cơ sở. Căn cứ
vào đó, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10-1974, quyết định

chọn Tây


Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu trong năm 1975, mở chiến dịch quy
mô lớn ở Tây Nguyên với trận then chốt mở màn Buôn Mê Thuột.Quân
3


địch tập trung lực lượng mở cuộc phản công nhằm chiếm lại Buôn Mê
Thuột.Nhưng các cuộc phản công của chúng đều bị đnh1 tan. Sau hai địn
đau ở Bn Mê Thuột, quân địch mất tinh thần, hàng ngũ chúng rối loạn, từ
đó làm nảy sinh nhưg4 sai lầm lớn về chiến lược.Ngày 16.3, quân ta được
lệnh đánh chặn và truy kích địch trên đường chúng rút khỏi Tây
Nguyên.Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi đã chuyển cuộc chiến chống Mĩ
cứu nước sang giai đoạn mới :từ cuộc tiến công chiến lược phát triển thành
cuộc tổng tiến cơng chiến lược trên tồn chiến trường Miền Nam.
B – NỘI DUNG
1. Hoàn cảnh lịch sử
Sau hiệp định pari 1973, trong hoàn cảnh Miền Bắc trở lại hồ bình, bọn
xâm lược buộc phải rút khỏi nước ta làm cho so sánh lực lượng ở Miền
Nam thay đổi có lợi cho cách mạng, Miền Bắc có thêm những diều kiện
thuận lợi để khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh sản xuất và ra sức
chi viện cho tiền tuyến. Với Hiệp định Pari về Việt Nam, ta đã “đánh cho
Mĩ cút” mà vẫn chưa “đánh cho ngụy nhào”. Mĩ cịn duy trì được chính
quyền tay sai ở Miền Nam, chúng lập ra bộ chỉ huy quân sự trá hình , tiếp
tục viện trợ quân sự, kinh tế cho ngụy. Chúng huy động lực lượng tiếp tục
chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” chống lại cách mạng. Mặc dù chúng
ta thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định, nhưng do phía địch phá hoại trắng
trợn, có hệ thống, chúng ta buộc phải đấu tranh kiên quyết để bảo vệ hiệp
định, bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được, tiếp tục đưa sự nghiệp
chống Mĩ cứu nước đến thắng lợi.
2. Diễn biến

2.1. So sánh lực lượng trên chiến trường Tây Nguyên
2.1.1. Lực lượng trên chiến trường :

4


Phương án tiến công chiến dịch Tây Nguyên của Quân ủy Trung ương Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) chỉ rõ: lấynam Tây Nguyên làm trận
đột phá, và thị xã Ban Mê Thuột là trận then chốt. Để thực hiện chiến dịch,
bên cạnhcác sư đoàn 320, 10, và 968 hiện đóng sẵn ở Tây Nguyên, cuối
tháng 12 năm 1974, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam điều
thêm 316 lên Tây Nguyên, đưa lực lượng của họ tại đây lên bốn sư đoàn, và
các lữ đoàn, trung đoàn độc lập của bộ binh, pháo binh, thiết giáp, đặc
công, phịng khơng, cơng binh ... Và chưa kể sư đồn 3 của quân khu 5 tại
Bình Địnhđánh chia cắt đường 19 và tấn cơng sư đồn 22 Qn lực Việt
Nam Cộng hịa (QLVNCH) khơng cho ứng cứu để phục vụ trực tiếp chiến
dịch này.Tại Tây Nguyên, lực lượng phòng thủ của VNCH gồm có Sư đồn
23 Bộ binh Việt Nam Cộng hịa (gồm 3 trung đồn 44, 45, 53), bảy liên
đoàn biệt động quân (tương đương 10 trung đoàn), 4 thiết đồn, 1 sư đồn
khơng qn số 6, ngồi ra cịn các tiểu đồn bảo an đồn trú. Do phán đoán
sai, cho rằng vùng Bắc Tây Nguyên là nơi sẽ bị đánh đầu tiên, nên hầu hết
lực lượng của họ bố trí tại bắc phần Tây Nguyên để bảo vệ các thị xã Pleiku
và Kon Tum trong khi Nam phần với thị xã Ban Mê Thuột có vai trị trụ cột
phịng thủ Tây Ngun lại chỉ có sở chỉ huy Sư đoàn 23, một trung đoàn số
53, 3 liên đoàn bảo an, và một liên đoàn biệt động quân số 21.ính trên tồn
mặt trận Tây Ngun, so với lực lượng QLVNCH, lực lượng bộ binh
QĐNDVN không hơn nhiều. Nhưng do phần lớn qn phịng thủ chốt tại
phía Bắc trong khi qn tấn cơng tập trung ở phía Nam, nên tại điểm quyết
chiến Ban Mê Thuột, ưu thế của quân tấn cơng so với qn phịng thủ có tỉ
lệ áp đảo: bộ binh 5:1, thiết giáp 2:1, pháo lớn 2:1 [2], cho họ khả năng thắng

lợi chớp nhống khơng cho phép địch cầm cự lâu dài chờ quân phản kích
ứng cứu. Và thực tế đã diễn ra như vậy.
2.1.2. Bố trí lực lượng trên chiến trường
Kể đến là kế hoạch chuẩn bị trực-tiếp được tiến hàng vào ngày 21 tháng 1
năm 1975. Trong phần này, Bộ Tư Lệnh Chiến Dịch hoàn chỉnh thêm vài
5


bước khác như tiếp tục các hoạt động nghi binh và tái phối trí các đơn vị
theo từng vùng cho mỗi nhiệm vụ. Tại vùng hoạt động gần Ban Mê Thuột
gồm có các thành phần sau đây:
Sư Đồn 316 , Trung Đoàn 95B , Trung Đoàn 24 (thiếu một tiểu đoàn) ,
Tiểu Đoàn 21 (thuộc Đoàn 559) Trung Đoàn Đặc Cơng 198 , Tiểu Đồn
Đặc Cơng 27 , Trung Đồn Thiết Giáp 273 (thiếu một tiểu đoàn) Trung
Đoàn Pháo Binh 40 và 675 ,Trung Đồn Phịng Khơng 232 và 234 Trung
Đồn Cơng Binh 7 và 575,Lực lượng vũ trang tỉnh Darlac.Tại vùng hoạt
động gần Đức Lập, Quảng Đức, gồm có:
Sư Ðoàn 10 (thiếu Trung Đoàn 24) , Trung Đoàn 271 , Một tiểu đoàn pháo
binh thuộc Trung Đoàn Pháo 40 , Tiểu Đồn Đặc Cơng 14. Thêm vào đó,
các vùng hoạt động chế ngự những quốc lộ trên vùng Tây Nguyên bao gồm
các lực lượng như sau: Sư Đoàn 320 phụ trách mặt trận đường 14, Sư
Đoàn 3 (thiếu một trung đồn) ở Bình Khê và Trung Đồn 95A ở Lay Pon
phụ trách mặt trận đường 19, Sư Đoàn 968 phụ trách mặt trận tấn công từ
hướng Kontum và Pleiku (cộng với lực lượng nhân dân vũ-trang trong hai
tỉnh này) ,Trung Đoàn 25 phụ trách mặt trận đường 21.Ngày 23 tháng 2
năm 1975 Đại Tướng Văn Tiến Dũng, nguyên đại diện cho Bộ Tổng Tư
Lệnh, đã chánh thức phê chuẩn kế hoạch của Bộ Tư Lệnh Chiến Dịch Tây
Nguyên. Đến đây, mọi công tác đã được chuẩn bị kỹ càng. Ngày 4 tháng 3,
chiến dịch Tây Nguyên chính thức bắt đầu. Từ ngày 4 đến ngày 9 tháng 3,
quân đội tổ chức cuộc nghi binh, khai triển đội hình, tạo điều kiện đánh

Ban Mê Thuột.
2.2.Tiến công Buôn Ma Thuột
2.2.1. Đánh chiếm thị xã Bn Mê Thuột, địn điểm trúng huyệt làm
đảo lộn thế trận
Từ ngày 5 đến 8-3, sau khi qn giải phóng bǎm nát các tuyến đường giao
thơng qn sự 19, 14, 21, thì các cǎn cứ địch ở Tây Nguyên lâm vào thế bị

6


bao vây chia cắt. Báo Mỹ tuần tin tức 7-4-1975 nhận xét:" Trong cuộc
chiến đấu này, chính bằng cách cắt đường sá mà Việt cộng đã gây ra nhiều
tác hại nhất cho quân đội Nam Việt Nam" (quân nguỵ). Sau trận diệt chi
khu quân sự và quận lỵ Thuần Mẫn thuộc Phú Bổn (ngày 8-3) nằm trên
đường 14 ở quãng giữa Plây Cu và Bn Mê Thuột, địch phán đốn rằng
đối phương sẽ đánh Plây Cu. Những ngày này các chiến sĩ pháo binh tới tấp
giội bão lửa xuống sân bay Cù Hanh nằm trong thị xã Plây Cu. Địch vội
vàng điều phần lớn sư đồn 23 từ Bn Mê Thuột lên, cùng các liên đoàn
quân biệt động, các trung đồn thiết giáp hình thành một vành đai bảo vệ
quanh Plây Cu, nơi đặt sở chỉ huy của quân đoàn 2.Trong lúc địch đang tập
trung quân bảo vệ Plây Cu thì sáng ngày 10-3, quân và dân Tây Nguyên bất
thần tiến công và nổi dậy ở thị xã Buôn Mê Thuột. Sau hai ngày chiến đấu,
đã nhanh chóng tiêu diệt các cǎn cứ quân sự địch và làm chủ hoàn tồn thị
xã Bn Mê Thuột.Chiến thắng Bn Mê Thuột thể hiện sự chỉ đạo tác
chiến rất tài giỏi. Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng đã
buộc địch phải tập trung lực lượng về để bảo vệ khu vực Plây Cu, điều sư
đoàn 23 là sư đoàn chủ lực duy nhất ở Tây Nguyên rời khỏi Buôn Mê
Thuột, tạo nên sơ hở lớn ở đây.
Trận thắng tiêu diệt địch giải phóng Bn Mê Thuột là địn hiểm đúng
huyệt, làm rung chuyển tồn bộ hệ thống phịng thủ Tây Nguyên, khiến cho

quân địch hết sức bất ngờ choáng váng, thế trận bị đảo lộn dẫn đến sụp đổ
nhanh chóng.
2.2.2. Đập tan cuộc phản kích tiêu diệt sư đồn 23 ngụy.
Mất Bn Mê Thuột. Địch hoang mang hoảng hốt. Mỹ - Thiệu lệnh cho
Phạm Vǎn Phú phải lấy lại Bn Mê Thuột. Chúng cấp tốc đẩy sư đồn 23
từ Plây Cu xuống Đắc Lắc, tǎng cường thêm trung đoàn thiết giáp số 8, liên
đoàn biệt động số 22. liên đoàn bảo an số 926 cùng nhiều tiểu đoàn bảo an
khác. Chúng chọn Phước An trên đường 21 cách Buôn Mê Thuột 40km về

7


phía đơng làm bàn đạp phản kích. Bn Mê Thuột đã về tay cách mạng mà
đài Sài Gòn vẫn ra rả :" Cuộc chiến đấu còn tiếp diễn trên đường phố". Đây
vừa là đòn tâm lý vừa là mưu đồ tái chiếm Buôn Mê Thuột của Mỹ Thiệu.Bộ chỉ huy mặt trận Tây Nguyên hạ quyết tâm đập tan cuộc phản
kích tiêu diệt tồn bộ qn địch ở đây. Mệnh lệnh vừa truyền xuống, lập tức
các đơn vị Quân giải phóng, áp sát địch nhanh chóng đánh chiếm cǎn cứ
trung đoàn 45 chi khu quân sự và quận lỵ Phước An, khống chế các điểm
mà quân địch có thể làm bàn đạp phản kích.Với tinh thần kiên quyết tiến
cơng, bộ đội giải phóng Tây Nguyên đã hạ quyết tâm nhanh, kịp thời cơ
động lực lượng nhanh chóng đánh địch khi chúng dừng chân chưa vững.
Các chiến sĩ giải phóng đã hình thành nhiều mũi, nhiều hướng áp đảo địch
ngay từ lúc đầu, hình thành thế bao vây, chia cắt địch, vừa đánh qn địch
ở ngồi cơng sự, vừa tiến cơng địch ở cǎn cứ. Do vậy, đã bẻ gẫy hoàn tồn
kế hoạch phản kích của chúng. Từ 13 đến 16-3-1975, các chiến sĩ giải
phóng đã chiến đấu rất dũng cảm, mưu trí, tiêu diệt sư đồn 23 và tồn bộ
qn địch ở Phước An, đập tan cuộc phản kích của chúng.
Hãng Ap phải đưa tin: "Thất bại đầu tiên ở Tây Ngun làm cho sư đồn 23
bị diệt chỉ cịn 37 tên sống sót trong số 13.000 qn lính của sư đoàn này.
Một liên đoàn biệt động quân gồm 1.600 người cũng chỉ cịn lại 35 người

sống sót". Chiến thắng ở Phước An đã khiến cho bọn địch còn lại ở Tây
Nguyên hoảng hốt khiếp đảm, buộc chúng phải đi đến một quyết định bi
đát là rút chạy khỏi toàn bộ các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Phú Bổn. (Phụ lục
1)
2.2.3. Chặn đánh địch tháo chạy trên đường số 7.
Trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, ngày 27-3 bọn dịch cịn Tây Ngun
hoảng hốt rút chạy khỏi Cơng Tum, Play Cu, theo đường số 7 qua Hậu Bổn
về Tuy Hoà (Phú Yên). Bọn tháo chạy bao gồm 5 liên đoàn quân biệt
động. Hai trung đoàn thiết giáp một số tiểu đoàn bộ binh, pháo binh cùng

8


toàn bộ lực lượng đia phương quân. Tên đại tá Phạm Duy Tất được Mỹ Thiệu nhấc lên chuẩn tướng để chỉ huy việc rút chạy này. Các hãng thông
tin và báo chí phương tây đã mơ tả :" Cuộc kéo chạy của quân Sài Gòn kéo
dài tới 300 km", "Đây là cuộc tháo chạy lớn nhất, hoảng hốt nhất trong suốt
cuộc chiến tranh Việt Nam", " Sự kiện rút chạy này chắc chắn sẽ ảnh hưởng
sâu sắc đến tinh thần vốn đã thấp kém của quân (nguỵ) Nam Việt
Nam".Một lần nữa, bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng đã nắm
chắc ý đồ địch "bỏ Tây Nguyên". Một số đơn vị đã được lệnh gấp rút hành
quân chặn đánh địch. Thế là cuộc chiến đấu đánh địch tháo chạy trên đường
số 7 đã diễn ra quyết liệt, liên tục trong 7 ngày từ 17 đến 23-3-1975, từ Hậu
Bổn đến Phú Túc. Các lượng vũ trang nhân dân giải phóng diệt và làm tan
rã hơn 7.000 tên, thu 740 xe quân sự và gần 100 đại bác.Đây là một trận
đánh tiêu diệt địch trên đường giao thông quy mô lớn, phạm vi rộng, Các
đơn vị lực lượng vũ trang giải phóng nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh
của Bộ chỉ huy, nhanh chóng vận động chặn đánh địch rút chạy. Các đơn vị
đã xé đội hình chúng ra thành từng mảng để tiêu diệt. Thừa thắng, các
chiến sĩ giải phóng diệt cả bọn địch ở thị xã Hậu Bổn, hỗ trợ nhân dân nổi
dậy giải phóng tồn bộ tỉnh Phú Bổn.Địch hy vọng tháo chạy để bảo toàn

lực lượng nhưng khơng thốt. Kế hoạch rút qn Tây Ngun về co cụm ở
ven biển miền Trung bị đập vỡ. Cuộc rút lui chiến lược mà Nguyễn Vǎn
Thiệu gọi là "di tản chiến thuật" đã biến thành một cuộc tháo chạy hoảng
loạn, dẫn tới một kết quả bi thảm là toàn bộ lực lượng quân nguỵ ở Tây
Nguyên bị tiêu diệt và tan rã.Quân và dân Tây Nguyên đã phát huy truyền
thống cách mạng kiên cường, bất khuất, đồng loạt tiến cơng và nổi dậy
mạnh mẽ, đã qt sạch tồn bộ lực lượng quân sự, đập tan bộ máy kìm kẹp
của địch giải phóng hồn tồn 4 tỉnh Cơng Tum, Plây Cu, Đắc Lắc, Phú
Bổn với hơn 60 vạn đồng bào các dân tộc. Quân và dân Tây Nguyên đã loại
khỏi vòng chiến đấu gần 12 vạn tên địch, tiêu diệt sư đoàn bộ binh số 23, 5
liên đoàn quân biệt động, 4 trung đoàn thiết giáp, 8 tiểu đoàn pháo; diệt và
làm tan rã 3 liên đoàn, 24 tiểu đoàn bảo an, 485 trung đội dân vệ, thu 1.250
9


xe quân sự, 110 đại bác, hàng vạn tấn vũ khí, đạn được và phương tiện
chiến tranh.
2.3. Bước ngoặc phản chiến 1975.
Buôn Ma Thuột, ngày 11/3/1975. Trận đánh mở màn cho cú điểm "tử
huyệt" Tây Nguyên, là kết quả tính toán thận trọng và táo báo của những
nhà lãnh đạo Việt NamMất căn cứ cơ bản trụ cột phòng thủ cao ngun mà
trong tay khơng cịn lực lượng dự bị cơ động nào khả dĩ nào để có thể xoay
chuyển tình thế. Hai sư đồn dự bị chiến lược là sư đồn Dù và Thuỷ qn
lục chiến là q ít và chính họ cũng đang bị uy hiếp dính chặt ở quân khu 1
như các đơn vị đồn trú. Đến ngay như việc trước đó khoảng 2 tháng mất
tỉnh Phước Long cách Sài Gòn chỉ khoảng 100 km mà quân Ngụy qn
cũng khơng cịn lực lượng để tái chiếm. Qn đội Ngụy qn khơng cịn
lực lượng để chiến đấu dài hơi được nữa. Điều đó cho thấy tình thế rất bị bó
buộc của qn đội Việt Nam Cộng hồ. Thêm nữa các lực lượng tại bắc
Tây Nguyên đang chịu nguy cơ bị tấn công tiêu diệt, Tổng thống Ngụy

quyền quyết định bỏ Tây Nguyên rút các lực lượng còn lại về cố thủ dải
đồng bằng ven biển miền Trung. Tuyến hành quân sẽ là theo đường 14 từ
Pleiku đi xuống phía nam sau đó rẽ vào đường 7 đã bỏ từ lâu và xi về thị
xã Tuy Hồ tỉnh Phú Yên. Mệnh lệnh này được ban ra bằng lời sau cuộc
họp của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tại Nha Trang với Tổng Tham mưu
trưởng và Tư lệnh quân khu 2. Đây sẽ là thảm hoạ chết người cho quân
Ngụy. Quyết định này có lẽ là hệ quả tất nhiên của tình trạng suy kiệt lực
lượng của Ngụy qn lúc đó.(Phụ lục 2)
Qn phịng thủ Bắc Tây Ngun chỉ có 2-3 ngày để chuẩn bị cuộc
hành quân. Thực tế cuộc hành qn này khơng có kế hoạch, khơng có yểm
trợ và phó mặc tất cả vào sự may rủi của số phận. Một lực lượng quân hàng
vạn người chuẩn bị trong 2-3 ngày, đi hàng trăm km khơng có yểm trợ với
tinh thần chiến đấu xuống rất thấp sau khi Ban Mê Thuột thất thủ, và đặc

10


biệt họ đi cùng gia đình và dân chạy nạn tất cả đã làm cho cuộc hành quân
thành đoàn xe cộ khổng lồ ùn tắc khơng đội hình, khơng tổ chức, không thể
chỉ huy và chiến đấu được.Khi được tin quân Ngụy quân bỏ Tây Nguyên
Bộ chỉ huy quân Quân Giải phóng tại Tây Ngun ra lệnh cho sư đồn 320
đang phong toả đường 14 đuổi theo. Bộ phận đi đầu của đơn vị này chạy
đua, tắt núi đón đầu và kịp chặn đường tại bên ngoài thị xã Cheo Reo tỉnh
Phú Bổn. Chỉ một lực lượng rất nhỏ quân Ngụy qn đi thốt cịn tồn bộ
đồn qn và dân chạy nạn đã bị tan rã không tổ chức lại được nữa.Kế
hoạch di tản của Ngụy quân đã không cứu được lực lượng quân bố phòng
Tây Nguyên, Tây Nguyên mất vào tay quân GPMN mà đặc biệt nó làm
thành làn sóng hoảng loạn lan khắp mọi nơi làm tan rã tinh thần các binh sĩ
trên toàn quốc. Quân đội Ngụy quân bắt đầu tan rã nhanh chóng và sụp đổ.
Tóm lại, chiến dịch Tây Nguyên kết thúc thắng lợi tạo điều kiện cho

quân và dân ta thừa thắng xông lên, chiến dịch nối tiếp chiến dịch. Sau
chiến dịch Tây Nguyên là đến chiến dịch huế - Đà Nẵng và cuối cùng là
chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nh6n dân ta quyết tâm giải phóng miền
Nam thồng nhất đất nước trong mùa xuân này ( mùa Xuân năm 1975).
3.Kết quả và ý nghĩa lịch sử
3.1.Kết quả:
Kết quả, ta đã gây thiệt hại và làm tan rã Quân Ðoàn 2/Quân Khu 2 của
Việt Nam Cộng Hòa cùng một bộ phận cơ-động chiến lược của họ. Ta tiêu
diệt Sư Ðoàn 22 và 23, Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù, 8 liên đoàn Biệt Ðộng Qn,
một liên đồn cơng binh, 4 thiết đồn thiết giáp, 10 tiểu đoàn pháo binh,
đánh thiệt hại nặng Sư Ðồn 6 Khơng Qn, gây thiệt hại và làm tan rã 7
tiểu khu, 26 chi khu, 50 tiểu đoàn và 51 đại đội Bảo An cùng toàn bộ lực
lượng cảnh sát, dân vệ và phòng vệ dân sự trong 7 tỉnh. Loại khỏi vịng
chiến đấu hơn 20,000 lính VNCH, thu và phá hủy 154 máy bay, 1,096 xe,
17,188 khẩu súng cùng toàn bộ các cơ sở hậu cần kỹ thuật của địch ở Tây
11


Nguyên. Ta chiếm được 5 tỉnh: Kontum, Gia Lai, Darlac, Phú Bổn, và
Quảng Đức.
3.2. Nguyên nhân thắng lợi


Chiến thắng Tây Nguyên - Sức mạnh của tinh thần đoàn kết quân dân
đoàn kết dân tộc:
Các dân tộc Việt Nam rất tự hào với truyền thống văn hóa và đấu tranh

chống xâm lược rất lâu đời trong lịch sử của dân tộc.Trong suốt thời kì đấu
tranh giải phóng dân tộc,Nhân dân Tây Nguyên đã kiên cường bất khuất
cầm vũ khí phối hợp cùng với bộ đội đánh giặc giữ buôn làng và chính họ

cũng là hậu phương vững chắc, tích cực sản xuất lương thực,đi dân công,
làm đường, gùi đạn, đào hầm; cung cấp tình hình địch và dẫn đường cho bộ
đội… Sự gắn bó với cách mạng, tình đồn kết qn dân ở Tây Nguyên đã
thấm sâu và trở thành niềm tự hào và nghĩa vụ của mỗi người dân không
phân biệt già trẻ, gái trai. Tình cảm quân dân gắn bó đó đã trở thành một
sức mạnh vơ cùng to lớn để quân và dân Tây Nguyên vượt qua muôn vàn
khó khăn, từng bước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.Ba mươi năm
kháng chiến cho ngày chiến thắng 30/4/1975, là thời kỳ quân và dân cả
nước cũng như quân dân Tây Nguyên chiến đấu rất oanh liệt, thắng lợi rất
vẻ vang, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu. Đó là những bài học
lịch sử về đường lối kháng chiến đúng đắn ‘toàn dân, toàn diện, lâu dài” do
Đảng và Hồ Chủ Tịch đã đề ra; về phương hướng, phát triển đấu tranh từng
bước từ thấp đến cao, từ đấu tranh chính trị đến đấu tranh vũ trang; chăm lo
xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng các đoàn thể nhân dân; phát
động cuộc chiến tranh nhân dân 3 thứ quân; xây dựng hậu phương trực tiếp
cho mỗi cấp, mỗi vùng; xây dựng căn cứ địa nhất là về chính trị, nâng cao
giác ngộ quần chúng, đào tạo cán bộ địa phương và xây dựng Đảng bộ địa
phương vững mạnh là vấn đề mấu chốt biến đường lối, chủ trương của
Đảng thành hiện thực thắng lợi. Những bài học lịch sử về đoàn kết và phát

12


huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc trong kháng chiến vẫn còn nguyên
giá trị thực tiễn to lớn trong sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ
quốcMối quan hệ gắn bó nhân dân ba nước Việt Nam ,Lào ,Campuchia đã
có từ lâu tong lịch sử và được thử thách trong ngọn lửa cách mạng chống ẻ
thù chung. Tinh thần đoàn kết và liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc đã tạo
ra sức mạnh to lớn cho các lực lượng cách mạng chung Đông Dương và
cho lực lượng cách mạng từng nước ở Đông Dương.



Cuộc kháng chiến của nhân dân ta được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn,
có hiệu quả của Liên Xơ, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa
khác, lại được sự đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ của phong trào giải
phóng dân tộc.



Sự lãnh đạo tài tình của Đảng và nhà nước .Kết hợp với cách đánh
phối hợp trong lẫn ngồi của qn ta .



Đó là tồn bộ những nhân tố tạo sức mạnh, bảo đảm cho cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

3.3.Ý nghĩa lịch sử
Thắng lợi rất to lớn của Tây Nguyên là thắng lợi của sự chỉ đạo chiến lược,
chiến dịch rất tài tình sáng tạo; thể hiện chất lượng chiến đấu cao, sức mạnh
chiến đấu lớn của các lực lượng vũ trang giải phóng; là thắng lợi của cả 3
mũi tiến công quân sự, nổi dậy của quần chúng và vận động binh sĩ địch; là
kết quả của sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các hướng trong chiến dịch. Chiến
thắng Tây Nguyên mở ra một cục diện hết sức tốt đẹp tạo nên thời cơ mới
vô cùng thuận lợi cho quân và dân miền Nam xốc tới tiến công và nổi dậy
thần tốc, mãnh liệt liên tiếp tiêu diệt các lực lượng sừng sỏ của địch, giải
phóng tồn bộ vùng đồng bằng ven biển chiến lược miền Trung, lập nên
thắng lợi cực kỳ to lớn của miền Nam anh hùng.
C – KẾT LUẬN
13



1. Kết quả nghiên cứu :


Hiểu được quá trình đấu tranh giành chính quyền của nhân dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn qua đó ra được nguyên
nhân thắng lợi,bài học kinh nghiệm cho Đảng từng bước lớn
mạnh đồng thời cũng rút ra được kinh nghiệm ,bài học của bản
thân trong thời kì mới .



Thấy được sự gian nan vất vả ,sự hi sinh to lớn của ông ta cha để
làm nên những trang sử hào hùng cho tổ quốc ,làm cho bản thân
càng thêm tự hào khi mang trong mình dịng máu lạc hồng .



Mỗi bản thân tự nhủ ,tự phấn đấu trong thời kì mới để tiếp bước
cha ông trên con đường xây dựng Việt Nam xã hội chủ nghĩa .



Ngoài ra làm tiểu luận theo nhóm làm cho từng thành viên trong
nhóm có cơ hội tiếp xúc, hiểu nhau,đoàn kết , giúp đơ nhau trong
học tập cũng như trong đời sống

2. Đề xuất và kiến nghị



Là sinh viên học sinh đang ngồi dưới giảng đường Đại học,chúng
tơi có những kiến nghị nhỏ muốn góp phần thêm về việc gìn giữ
đất nước ta trong giai đoạn hiện nay bằng cách :



Các trường học phải thường xuyên tổ chức cho học sinh sinh viên
có những buổi học hay những buổi ngoại khóa tìm hiểu về lịch sử
đất nước để có thể hiểu một cách rõ ràng và sâu sắc phong trào
giải phóng dân tộc của nhân dân ta .



Cho học sinh sinh viên tham gia các hoạt động đi thăm các viện
bảo tàng hay các di tích lịch sử năm xưa mà đất nước đã diễn ra
cuộc đấu tranh oanh liệt và hào hùng .Nhằm giúp cho họ có kiến
thức cơ bản về lịch sử Việt Nam, tránh tình trạng xuyên tạc lịch

14


sử khi khơng nắm những thơng tin chính xác và đặc biệt là tránh
âm mưu chiến tranh của kẻ thù .


Đồng thời khi làm bài tiểu luận thì chúng tơi muốn đưa ra ý kiến
của nhóm đó là : Về lý thuyết chúng ta cũng làm trong một giai
đoạn lịch sử nào đó . Về thực hành chúng ta tiến hành “mơ hình
hóa” về giai đoạn lịch sử mà chúng ta đảm nhận. Có như vậy mới

kích thích được sự tò mò ,ham học của sinh viên , giúp sinh viên
học tốt hơn .

15


PHỤ LỤC :
Phụ lục 1: Bảo vệ vùng giải phóng Nam Tây Nguyên( )

Phụ lục 2 : Bước ngoặc phản chiến 1975 ()

Phụ lục 3: Trực thăng vũ trang với hỏa tiễn TOW ở Pleiku năm 1972
()
16


Phụ lục 4: xe quân đội và xe thường dân chen chúc di tản từ Tây Nguyên về Tuy Hòa
ở vùng duyên hải. ()

Phụ lục 5 : Xe địch bị ta tiêu diệt ở Thạnh Hội (Sơn Hòa), tháng 3/1975 – Ảnh: TƯ
LIỆU ()

17


Phụ lục 6: Binh sĩ sư đoàn 18 bắn cháy xe tăng của quân giải phóng ngày 11/4 giai
đoạn đầu trận Xuân Lộc năm 1975 ()

Phụ Lục 7: Du kích miền Nam diệt địch,thu xe bọc thép ()


18


Phụ lục 8: phản lực cơ F-100 Supersabre trên vùng trời Tuy Hòa

Nguồn :

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO:


Lịch sử Đảng công sản Việt Nam – Bộ Giáo Dục và Đào Tạo –
NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2005.



Võ Nguyên Giáp . Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước . Nhà xuất bản quân đội nhân dân



Thông tin, tranh ảnh qua mạng Internet:










/>


20



×