Tải bản đầy đủ (.docx) (11 trang)

Đánh giá khái quát và nhận xét chung về kế toán nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần dược phẩm trung ương 2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (127.11 KB, 11 trang )

Đánh giá khái quát và nhận xét chung về kế toán nguyên vật
liệu tại Công ty cổ phần dược phẩm trung ương 2.
I. Đánh giá khái quát về công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty cổ
phần Dược phẩm Trung ương 2.
1. Đánh giá chung.
1.1. Về bộ máy quản lý.
NVL có vai trò quan trọng và quyết định sự tồn tại và phát triển của bất kỳ
một doanh nghiệp sản xuất nào. Việc quản lý NVL đã được đặt ra như một tất yếu
khách quan không thể thiếu được của sản xuất xã hội. Bởi vì, nếu không quản lý
tốt vật liệu doanh nghiệp sẽ không thể kiểm soát được lượng vật liệu cần dùng là
bao nhiêu để vừa đáp ứng được quá trình sản xuất ra. Đồng thời công tác quản lý
vật liệu cũng được xem như là một công cụ quan trọng dể dựa vào đó doanh
nghiệp có thể xác định được chi phí cần thiết cho việc bảo quản và sử dụng NVL,
từ đó tiến hành hạch toán và xác định kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Do đặc điểm NVL tại Công ty đa dạng về chủng loại và chiếm phần lớn trong
tổng giá thành sản phẩm nên công tác tổ chức quản lý và hạch toán NVL luôn được
Công ty coi trọng từ khâu thu mua đến khâu đưa vào sử dụng, hệ thống kho tàng
được bố trí đầy đủ, phương án bảo quản an toàn cùng với việc dự trữ NVL hợp lý.
Thông qua quản lý tay ba, tự điều chỉnh giám sát lẫn nhau trong công tác quản lý
công ty đã phát huy một cách có hiệu quả công tác quản lý vật liệu và hoạt đốngản
xuất kinh doanh của mình.
1.2. Về tổ chức hoạt động kinh doanh.
Cơ cấu tổ chức hoạt động kinh doanh của Công ty khá hiệu quả, Công ty tổ
chức thành các phân xưởng, các tổ sản xuất và áp dụng hình thức khoán sản phẩm
đến từng tổ công nhân. Căn cứ vào khối lượng sản phẩm, năng lực, điều kiện thực
tế của từng tổ, từng phân xưởng nên sản phẩm sản xuất ngày càng tăng mà đảm
bảo chất lượng và ngày càng có uy tín đối với người tiêu dùng.
1.3. Về tổ chức bộ máy kế toán.
Bộ máy của Công ty gồm 11 người đều là những cán bộ có trình độ đại học và
nhiều năm kinh nghiệm được phân công phân nhiệm rõ ràng nên công việc được


giải quyết một cách nhanh chóng và khoa học, cùng với hệ thống máy tính và phần
mềm kế toán công việc tính toán và luân chuyển các chứng từ một cách kịp thời để
cung cấp thông tin cho việc quản lý, sản xuất cũng như việc đơn giản các khâu tính
toán của các cán bộ trong phòng kế toán.
2. Những thành tựu đã đạt được trong công tác kế toán nguyên vật liệu tại
Công ty cổ phần Dược phẩm Trung ương 2.
Công ty cổ phần trung ương 2, thành lập hoưn 60 năm cùng với sự vươn lên
không ngừng và ngày càng lớn mạnh. Là một Công ty sản xuất thuốc với số lượng
sản phẩm đa dạng, phong phú... đặc biệt là chất lượng sản phẩm của Công ty đã
chiếm được lòng tin của người tiêu dùng và Công ty đã gây dựng được thương
hiệu của mình trên thị trường Việt Nam. Đặc biệt những năm gần đây sản phẩm
của Công ty ngày càng có chất lượng cao và liên tục giành được danh hiệu : “Hàng
Việt Nam chất lượng cao” tại các hội chợ triển lãm. Nhờ bộ máy điều hành hiệu
quả của Công ty cũng như sự ủng hộ của công nhân viên trong Công ty nên Công
ty đã chiếm được nhiều cảm tình của người tiêu dùng. Đó là những thành công lớn
của Công ty và không thể không kể đến sự đóng góp đáng kể của bộ máy kế toán.
Cụ thể :
- Công ty tổ chức hệ thống chứng từ, vận dụng hệ thống tài khoản kế toán
đúng với chế độ và biểu mẫu do Bộ tài chính ban hành. Hệ thống tài khoản của
Công ty phản ánh đầy đủ mọi hoạt động kinh tế phát sinh. Việc sắp xếp, phân loại
các tài khoản trong hệ thống tài khoản của Công ty là phù hợp với tình hình sản
xuất kinhdoanh.
- Về công tác quản lý : Nhìn chung công tác quản lý cũng như công tác kế
toán ở Công ty đã không ngừng phát triển và củng cố, hoàn thiện trở thành công cụ
quản lý đắc lực trong việc điều hành, quản lý và ra quyết định sản xuất kinh doanh,
đồng thời đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của công tác hạch toán của Công ty.
- Về tổ chức công tác NVL : Nhìn chung kế toán NVL ở Công ty được tổ
chức khá chặt chẽ, phù hợp với yêu cầu quản lý và chỉ đạo tập trung của Công ty.
+Công tác xây dựng kế hoạch thu mua NVL hàng tháng được các phòng, ban
của Công ty thực hiện khá tốt. Với khối lượng NVL sử dụng lớn, nhiều chủng loại

mà bộ phận cung ứng thu mua vẫn cung cấp một cách kịp thời, đầy đủ cho nhu cầu
sản xuất. Phòng kế hoạch cung ứng là nơi tổ chức trực tiếp việc thu mua và nhập
kho NVL, các cán bộ phòng luôn làm tốt nhiệm vụ của mình từ việc tìm nguồn
hàng đến cung ứng kịp thời đầy đủ NVL cho sản xuất.
+ Hệ thống kho tàng được Công ty tổ chức sắp xếp hợp lý nên thuận tiện cho
việc nhập, xuất kho và đảm bảo NVL đượcquản lý tốt. Các cán bộ công nhân viên
ở kho có tinh thần trách nhiệm trong việc bảo quản và tổ chức giao nhận NVL.
- Nhân viên kinh tế phân xưởng : Thực hiện tốt việc theo dõi tình hình lĩnh và
sử dụng NVL ở phân xưởng mình, ghi chép phản ánh tình hình xuất dùng kịp thời,
cung cấp đầy đủ chứng từ, tài liệu cho kế toán NVL và kế toán giá thành.
- Kế toán chi tiết NVL : Công ty áp dụng phương pháp thẻ song song cũng
phù hợp với quy mô đặc điểm sản xuất của Công ty. Vì vậy, tổ chức kế toán đảm
bảo thống nhất về phạm vi và phương pháp tính toán. Số liệu kế toán chi chép rõ
ràng, phản ánh trung thực chính xác tình hình hiện có, tăng giảm NVL trong kỳ. Kế
toán NVL đã thực hiện việc đối chiếu chặt chẽ giữa sổ kế toán với kho NVL, đảm
bảo tính cân đối giữa chỉ tiêu số lượng và giá trị. Giữa kế toán tổng hợp và kế toán
chi tiết cũng thường xuyên đối chiếu đảm bảo các thông tin về tình hình biến động
NVL được chính xác.
- Việc xây dựng định mức tiêu hao NVL tương đối ổn định, giúp cho quá trình
thu mua, bảo quản, dự trữ sử dụng hợp lý, nâng cao hiệu quả trong công tác quản
lý.
- Việc đánh giá NVL : Công ty đánh giá NVL theo giá thực tế. Giá xuất là giá
bình quân cả kỳ dự trữ, phương pháp này đã phản ánh chính xác sổ NVL dùng
trong tháng.
- Về công tác kiểm tra NVL nhập kho :Do tính chất đặc biệt của sản phẩm mà
Công ty làm ra là nhằm chăm sóc sức khoẻ cộng đồng nên NVL trước khi đưa vào
nhập kho phải qua khâu kiểm tra chất lượng rất nghiêm ngặt. Việc kiểm tra này
đượcCong ty tiến hành xem xét trên cả 2 mặt số lượng. Quá trình kiểm tra này do
các chuyên viên kỹ thuật phòng KCS thực hiện. Nhờ đó, NVL nhập kho Công ty
luôn đam bảo chất lượng, góp phần hạn chế những hư hỏng trong quá trình lưu trữ

và bảo quản.
- Về việc áp dụng phần mềm kế toán : Hiện nay phòng kế toán đã được trang
bị máy tính đầy đủ, đặc biệt từ đầu tháng 3/2006. Công ty thực hiện nối mạng nội
bộ nhằm giúp cho việc quản lý trực tuyến một cách chính xác, kịp thời. Phần mềm
kế toán Fast Accouting với phiên bản mới nhất đã giúp cho việc lưu trữ, kết xuất
thông tin một cách nhanh chóng, góp phần giảm nhẹ khối lượng ghi chép của các
cán bộ nhân viên kế toán.
- Về hạch toán tổng hợp : Việc hạch toán tổng hợp NVL theo phương pháp kê
khai thường xuyên phù hợp với tình hình biến động thường xuyên của NVL trong
kỳ. Quá trình hạch toán được thực hiện đầy đủ, chính xác nhờ việc áp dụng kế toán
máy.
3. Những tồn tại trong công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty cổ
phần Dược phẩm trung ương 2.
Bên cạnh những cố gắng và những thành tựu đã đạt được thì công tác kế toán
NVL của Công ty vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục :
- Về công tác kiểm kê NVL : ở đơn vị công tác kiểm kê chỉ được thực hiện
mỗi năm một lần, với số lượng và chủng loại NVL đa dạng và có giá trị lớn như
vậy thì công tác kiểm kê là chưa được thoả đáng. Kiểm kê là việc làm rất cần thiết
trong công tác quản lý vì nó giúp người quản lý thấy được vật liệu, tài sản thừa,
thiếu, hư hỏng để kịp thời tìm giải pháp giải quyết.
- Về tính giá NVL : Kế toán sử dụng giá ghi trên hóa đơn là giá của mỗi lần
nhập, còn khi xuất dùng thì theo giá bình quân cả kỳ dự trữ. Việc tính giá NVL
xuất kho phải đợi hết tháng do đó công tác kế toán NVL thường dồn đến cuối
tháng mà các nghiệp vụ nhập, xuất kho diễn ra thường xuyên nên gây ảnh hưởng
đến tìnhhình hạch toán, xác định đơn giá bán cũng như việc cung cấp thông tin kịp
thời cho quản trị.
- Về hạch toán chi tiết NVL : Công ty sử dụng phương pháp thẻ song song để
hạch toán chi tiết NVL, việc ghi theo phương pháp này đơn giản, dễ kiểm tra, đối
chiếu nhưng do việc ghi chép cộng việc tại Công ty phức tạp hơn cả phương pháp
thẻ song song nên có sự trùng lặp về chỉ tiêu số lượng, trong khi đó quá trình hạch

toán theo phương pháp thẻ song song kế toán lại mở sổ số dư các tài khoản NVL là
không hợp lý.
- Về hạch toán tổng hợp NVL :
+ Công ty đang áp dụng hệ thống sổ sách kế toán tổng hợp theo hình thức
nhật ký chứng từ, là hình thức sổ kế toán đang dùng phổ biến và có nhiều ưu điểm,
phù hựp với điều kiện và yêu cầu kế toán của Công ty nói chung và kế toán NVL
nói riêng. Tuy nhiên, tất cả các bảng biểu của kế toán tổng hợp theo hình thức sổ
này gồm nhiều bảng biểu. Mặc dù, đã có sự hỗ trợ của máy tính nhưng công việc
hạch toán vẫn rất phức tạp và mất nhiều thời gian. Kế toán tổng hợp xuất NVL ở
Công ty dùng sổ số dư dạng chữ T để phản ánh tổng hợp NVL xuất dùng cho các
đối tượng sử dụng và được mở chi tiết cho từng loại NVL (vật liệu chính, vật liệu

×