Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

Mô hình nhà nước kiến tạo phát triển và một số kinh nghiệm có thể áp dụng ở Việt Nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (843.1 KB, 86 trang )

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRN PHNG THO

MÔ HìNH NHà NƯớC KIếN TạO PHáT TRIểN Và MộT Số
KINH NGHIệM Cã THĨ ¸P DơNG ë VIƯT NAM HIƯN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2020


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRN PHNG THO

MÔ HìNH NHà NƯớC KIếN TạO PHáT TRIểN Và MộT Số
KINH NGHIệM Cã THĨ ¸P DơNG ë VIƯT NAM HIƯN NAY

Chun ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8380101.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG MINH TUẤN

HÀ NỘI - 2020



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tơi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được cơng bố trong
bất kỳ cơng trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã
hồn thành tất cả các mơn học và đã thanh tốn tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tơi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Phƣơng Thảo


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MƠ HÌNH NHÀ
NƢỚC KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN ............................................................6
1.1.
1.2.

Lịch sử ..........................................................................................................6
Khái niệm .....................................................................................................8

1.3.

1.4.

Đặc điểm .....................................................................................................11
Phân loại .....................................................................................................18

CHƢƠNG 2: MƠ HÌNH NHÀ NƢỚC KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN TẠI
MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI ...............................................22
2.1.

Nhà nƣớc kiến tạo phát triển ở một số quốc gia điển hình ...................22

2.1.1.
2.1.2.
2.1.3.

Nhật Bản ......................................................................................................22
Singapore .....................................................................................................30
Trung Quốc .................................................................................................35

2.1.4.
2.1.5.
2.2.

Các quốc gia Châu Phi – Mỹ Latinh ...........................................................38
Các quốc gia Bắc Âu ...................................................................................40
Bài học thành công và thất bại .................................................................47

CHƢƠNG 3: XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN Ở
VIỆT NAM.................................................................................................57
3.1.

Cơ sở xây dựng Nhà nƣớc kiến tạo phát triển ở Việt Nam ...................57
3.2.
3.2.1.
3.2.2.
3.2.3.

Các khó khăn, thách thức và giải pháp xây dựng Nhà nƣớc kiến
tạo phát triển ở Việt Nam .........................................................................61
Về chính trị ..................................................................................................62
Về pháp luật ................................................................................................70
Về kinh tế - xã hội .......................................................................................73

KẾT LUẬN ..............................................................................................................79
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................80


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Từ 2009, thuật ngữ “Nhà nước/Chính phủ kiến tạo phát triển” bắt đầu
được nhắc đến và bàn luận trên các phương tiện thơng tin đại chúng cũng như
trong nhiều cơng trình nghiên cứu khoa học. Trong diễn văn của Thủ tướng
Chính phủ nhiệm kỳ 2011 - 2016 đã khẳng định “Phải chuyển mạnh từ Nhà
nước điều hành nền kinh tế sang Nhà nước kiến tạo phát triển” và gần đây
nhất là tuyên bố và nỗ lực của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc về
“Xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, Chính phủ hành động, Chính phủ
phục vụ, Chính phủ liêm chính”.
Tuy nhiên, trên thực tế những sai lầm trong điều hành và quản lý của
nhà nước trong một số lĩnh vực gây nhiều hậu quả nghiêm trọng cho kinh tế,
văn hóa, xã hội của đất nước, gây mất lịng tin của nhân dân. Sự sai lầm trong
định hướng phát triển đối với nhiều lĩnh vực đã đặt ra vấn đề cần xác định lại

vai trị mơ hình kiến tạo phát triển của Nhà nước khiến cho những nghiên cứu
cũng như đưa vào áp dụng thực tế về vấn đề này càng trở nên bức thiết. Vì
những lí do trên, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “Mơ hình nhà nước kiến
tạo phát triển và một số kinh nghiệm có thể áp dụng ở Việt Nam hiện nay”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu, phân tích một số nhà nước theo mơ hình kiến tạo phát
triển, nhận xét những ưu và nhược điểm, thực tế thay đổi và hoạt động của
Nhà nước Việt Nam hiện nay theo định hướng Nhà nước kiến tạo phát triển.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Trên cơ sở những lý luận chung và thực tiễn tổ chức và hoạt động của
Nhà nước trong vai trị quản trị thành cơng theo mơ hình Nhà nước kiến tạo

1


phát triển của Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc, Phần Lan…, luận văn phân
tích bối cảnh, những mặt thuận lợi cũng như thách thức đối với Việt Nam khi
lựa chọn theo mơ hình quản trị này. Luận văn cũng đưa ra kết luận cụ thể về
tính khả thi và phù hợp của mơ hình Nhà nước kiến tạo đối với quản trị nhà
nước ở Việt Nam đồng thời đề xuất những giải pháp đảm bảo cho việc áp
dụng thành công mô hình này.
3. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn giúp góp phần làm rõ bối cảnh ra đời, q trình phát triển và
thay đổi của mơ hình nhà nước này đối với sự phát triển của kinh tế, chính trị,
xã hội; những yếu tố dẫn đến thành cơng trong việc áp dụng mơ hình nhà
nước kiến tạo phát triển; phân tích những điểm điều kiện và bối cảnh ra đời
của mơ hình này trên thế giới để đối chiếu với Việt Nam, phân tích những
điểm phù hợp, những thách thức trong việc áp dụng mơ hình Nhà nước kiến
tạo phát triển ở Việt Nam hiện nay. Qua đó, đề xuất một số phương pháp và

cách thức áp dụng mơ hình Nhà nước phát triển.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là mơ hình Nhà nước kiến tạo phát triển trên thế
giới. Luận văn nêu vấn đề cần nghiên cứu và trả lời câu hỏi: thế nào là nhà
nước kiến tạo phát triển? Bối cảnh ra đời, bản chất và đặc điểm của nhà nước
kiến tạo phát triển? Nhà nước kiến tạo phát triển phù hợp với bối cảnh, điều
kiện nào? Xu hướng thay đổi, phát triển của mơ hình này? Tại sao nhiều các
quốc gia đã từng trải nghiệm với mơ hình này đã từ bỏ, thay đổi hoặc chuyển
sang mơ hình khác? Liệu mơ hình cịn phù hợp trên thực tế? Phân tích đặc
điểm của nhà nước Việt Nam hiện nay. Việt Nam nên vận dụng những điều gì
và như thế nào? Để trả lời câu hỏi trên một cách khoa học cần sự nghiên cứu
các tài liệu, cơng trình nghiên cứu của nhiều nhà tư tưởng, học giả trên thế
giới, đồng thời nghiên cứu việc áp dụng mơ hình này trên thực tế tại một số

2


nước để rút những đánh giá, nhận xét về ưu điểm, hạn chế và việc vận dụng
đối với các nước khác, xu thế phát triển của nhà nước trong tương lai.
5. Tổng quan tài liệu
Có rất nhiều cơng trình, tài liệu cả trong nước và ngoài nước nghiên
cứu về vấn đề này. Tại nước ngoài một số tác phẩm như: The Origin of
Power, Prosperity, and Poverty: Why Nations Fails (Nguồn gốc của quyền
lực, thịnh vượng và nghèo khó: Tại sao các quốc gia thất bại), Acemoglu D. và
Robinson J, Randon House, 2012; “China As A Developmental State”, Andrzej
Bolesta (2007), Montenegrin Journal of Economics. vol. 3, no. 5, p. 105-111; The
Developmental State in History and in the Twentieth Century, Bagchi A. K
(2003), Regency Publications, New Delhi; MITI and the Japanese Miracle,
The Growth of Industrial Policy 1925-1975, Chalmers Johnson (1982),
Stanford University Press; „Political institutions and economic performance:

The government-business relationship in Japan, South Korea and Taiwan‟,
in Asian Economic Development: Present and Future, tr. 73-89; “How to „do‟
a developmental state: Political, Chang & Ha Joon (2010)… Các tài liệu này
làm rõ quá trình hình thành cũng như định nghĩa khái niệm Nhà nước kiến
tạo, một số mơ hình Nhà nước kiến tạo điển hình trên thế giới như Trung
Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…
Tại Việt Nam, rất nhiều luận văn, bài viết về vấn đề này hoặc có liên
quan như: Nhà nước kiến tạo phát triển – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn,
Nguyễn Thùy Dương (2017), Luận văn Thạc sĩ Luật học; Mơ hình Nhà nước
kiến tạo phát triển: lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam, Nguyễn Thị
Hải Hà (2017), Luận văn Thạc sĩ Luật học; Chính phủ kiến tạo – từ góc nhìn
ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nguyễn Thị Minh Hà, Tạp chí Tổ
chức nhà nước, Bộ Nội vụ, Số 7/2017, tr. 49-53; Mô hình chính phủ kiến tạo cách tiếp cận từ thế giới đến Việt Nam, Nguyễn Thị Thu Hoà và Vũ Thị Loan,

3


Tạp chí Tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ, Số 4/2018, tr. 73-78; Chính phủ kiến
tạo - từ góc nhìn đến mơ hình tiếp cận, Phạm Quỳnh Liên, Tạp chí Quản lý
nhà nước, Học viện Hành chính Quốc gia, Số 4/2018, tr. 34-38; Một số vấn
đề về mơ hình chính phủ kiến tạo phát triển, Phạm Hồng Thái,Tạp chí Tổ
chức nhà nước, Bộ Nội vụ, Số 8/2017, tr.7-12… Các tài liệu này cũng khái
quát quá trình hình thành cũng như đưa ra định nghĩa khái niệm Nhà nước
kiến tạo, đồng thời nghiên cứu vấn đề này theo các cách tiếp cận khác nhau
qua đó đưa ra một số khuyến nghị về việc áp dụng mơ hình này vào Việt
Nam hiện nay.
Đề tài “Mơ hình nhà nước kiến tạo phát triển và một số kinh nghiệm có
thể áp dụng ở Việt Nam hiện nay” là đề tài mới của người viết. Luận văn đi
theo hướng nghiên cứu thực tiễn về bản chất mơ hình Nhà nước kiến tạo phát
triển tại một số nước trên thế giới; tiếp cận tác động và u cầu để theo đuổi

mơ hình này nhằm phát huy vai trò của Nhà nước trong việc kiến tạo phát
triển xã hội và đất nước trong giai đoạn hiện nay; phân tích, nhận định điều
kiện trên thực tế ở Việt Nam hiện nay đồng thời phân tích, nhận định xu thế
phát triển của “mơ hình chính phủ kiến tạo phát triển”; đưa ra khuyến nghị
đối với Nhà nước trong việc hoạch định chính sách, đổi mới tổ chức và hoạt
động của Nhà nước Việt Nam hiện nay.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Bài tìm hiểu cách tiếp cận của một số quốc gia trong sự so sánh, đối
chiếu với cách tiếp cận về Nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam, đề xuất
những ý kiến cá nhân hoặc tham khảo kiến nghị những yêu cầu cần thiết
trong việc Nhà nước Việt Nam theo đuổi mơ hình này. Dựa trên mục tiêu
của đề tài là rút ra giải pháp, các phương pháp được sử dụng chủ yếu là tổng
hợp, so sánh, phân tích trong q trình nghiên cứu. Từ tổng hợp các nguồn
thơng tin, sau đó các tác giả tiến hành phân tích để tìm ra ngun nhân, điều

4


kiện, hồn cảnh của những nước áp dụng mơ hình này, chỉ ra những thách
thức khó khăn đối với Việt Nam và đi đến đề xuất những ý kiến đóng góp
đối với Việt Nam hiện nay.
7. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu về quá trình hình thành khái niệm trên thế giới cũng như
quá trình thâm nhập vào Việt Nam; đồng thời phân tích sự hình thành, đặc
trưng và điều kiện vận hành mơ hình nhà nước kiến tạo phát triển ở Nhật Bản,
Singapore, Trung Quốc … cũng như kinh nghiệm thực tế tại một số nước
khác có liên quan đến thực hiện một số vai trị, đặc điểm của mơ hình nhà
nước này. Đồng thời trình bày những hiểu biết, nhận định xu thế phát triển, áp
dụng của mơ hình này trên thế giới. Chỉ ra thuận lợi, khó khăn, thách thức và
khả năng áp dụng mơ hình Nhà nước kiến tạo phát triển để đưa ra những

khuyến nghị đối với Việt Nam hiện nay.

5


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH NHÀ NƢỚC
KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN
1.1. Lịch sử
“Nhà nước kiến tạo phát triển” là cụm từ được chuyển dịch ý nghĩa của
từ “developmental state” - được giới học thuật quốc tế sử dụng một cách phổ
biến trong mấy thập kỷ gần đây để chỉ một mơ hình phát triển nhà nước mang
đặc thù của một số quốc gia Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc,...). Giới học thuật
quốc tế có sự thống nhất cao khi thừa nhận “developmental state” là thuật ngữ
lần đầu tiên được nêu ra bởi Chalmers Johnson, trong cuốn “MITI và Sự thần
kỳ Nhật Bản: Chính sách tăng trưởng công nghiệp giai đoạn 1925-1975”
(MITI and the Japanese Miracle: The Growth of Industrial Policy 1925-1975),
xuất bản năm 1982. Trong cuốn sách này, Chalmers Johnson đã phân tích
những yếu tố dẫn đến “sự thần kỳ Nhật Bản” - mà đặc biệt thể hiện trong q
trình khơi phục, phát triển kinh tế rất thành công của nước này từ đống tro tàn
sau Chiến tranh thế giới thứ Hai. Ông đã sử dụng thuật ngữ “developmental
state” để chỉ mơ hình phát triển mà Nhà nước Nhật Bản đã áp dụng trong giai
đoạn đó (và xa hơn nữa là từ thời kỳ Minh trị).
Theo quan điểm của Chalmers Johnson, “developmental state” là “…
cách viết tắt của một mạng lưới liền mạch về chính trị, quan chức, và uy thế
của tiền bạc giúp tạo nên đời sống kinh tế ở các nền tư bản Đơng Bắc Á”.
Ơng thừa nhận rằng, “một trong những mục đích chính trong việc mở đầu ý
tưởng về nhà nước kiến tạo phát triển tư bản… là để vượt qua sự tương phản
giữa nền kinh tế Hoa Kỳ (điển hình của mơ hình kinh tế tư bản thị trường tự
do) và Liên bang Xơ viết (điển hình của mơ hình kinh tế kế hoạch tập trung)”.

“Developmental state” sau đó đã trở thành một thuật ngữ phổ biến
trong giới nghiên cứu khi phân tích chính sách kinh tế của các quốc gia trên

6


thế giới trong thời kỳ hiện đại. Nó cũng được sử dụng trong nhiều báo cáo,
văn kiện của các cơ quan Liên hiệp quốc (đặc biệt là UNDP) và nhiều tổ chức
quốc tế khác.
Trong thực tế, quan điểm về vai trò can thiệp và định hướng phát
triển kinh tế của nhà nước đã hình thành từ cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19,
gắn liền với các lý thuyết về chủ nghĩa trọng thương, chủ nghĩa tiền tệ và
an ninh quốc gia.
Chính phủ kiến tạo phát triển có thể được lý thuyết hóa một cách cụ
thể bằng học thuyết Keynes: nền kinh tế luôn luôn bất ổn, đầy biến động và
cung cầu có thể đạt được một trạng thái cân bằng nhưng khơng đảm bảo
tồn dụng nhân cơng. Cách giải quyết cho vấn đề này là: thay thế sự thiếu
hụt trong đầu tư tư nhân bằng đầu tư công với những thâm hụt tài chính
được cân nhắc kỹ lưỡng.
Rất nhiều minh chứng cho thấy sự can thiệp có hiệu quả của nhà nước
vào sự phát triển của kinh tế xã hội trong lịch sử:
Tại châu Âu, sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế nước Đức trong giai
đoạn từ thời kỳ đen tối năm 1947, trong vòng chưa đầy một thập niên nước
Đức đã trở thành trung tâm kinh tế của Châu Âu và khẳng định vững chắc vai
trị của mình là đầu tàu phát triển kinh tế của cả Châu Âu, dưới sự bảo hộ của
Thủ tướng Adenauer và Bộ trưởng kinh tế Erhard. Nhà nước tạo ra – và ở
mức độ nào đó là kiểm sốt – một mạng lưới các tổ chức xung quanh các đỉnh
cao chỉ huy. Nền kinh tế được điều hành theo một chế độ quản lý tay ba giữa
chính phủ, doanh nghiệp và lao động. Bản chất độc đáo của hệ thống phối hợp
này chính là Ban giám sát – gồm các đại diện từ cả ba khu vực trên. Ở Pháp

và Anh, nhà nước nắm quyền kiểm soát các ngành kinh tế quan trọng để đảm
bảo sự thịnh vượng chung
Nhìn sang châu Á, sau khi giành được độc lập tháng 8 năm 1947, Ấn

7


Độ – thuộc địa lớn nhất thế giới, vùng đất trung tâm của Đế quốc Anh – phải
đối phó với vấn đề nghèo đói, chia rẽ về tơn giáo. Với sự lãnh đạo của Nehru,
Ấn Độ lựa chọn con đường Nhà nước nắm quyền kiểm soát và lập kế hoạch
phát triển kinh tế. Khu vực cơng sẽ giữ vị trí trung tâm trong tầm nhìn tổng
thể về nền kinh tế kế hoạch theo kiểu Ấn Độ. Sự lựa chọn kinh tế của Ấn Độ
phản ánh sự tin tưởng vững chắc vào chủ nghĩa duy lý, khả năng dự đốn,
tính định lượng và tính kế hoạch. Những lựa chọn này đã thể hiện quan điểm
kinh tế thống trị thời đó với những dự định tốt đẹp nhất ban đầu, các nhà kinh
tế học và các tổ chức kinh tế đang truyền bá tư tưởng đó trên tồn thế giới.
Với một cách nhìn khác, quan điểm chủ đạo này được tóm tắt trong một điểm
duy nhất: Nhà nước sẽ phải tạo ra sự phát triển. Cách tiếp cận sẽ có ảnh
hưởng sâu rộng và lâu dài với toàn bộ các nước đang phát triển. Thời điểm
cực thịnh đạt được vào những năm 1970, khi các nước thế giới thứ Ba dường
như đang trên đường giành chiến thắng trong cuộc đối đầu với các nước giàu
trước khi những ảo mộng chiến thắng này tan vỡ.
Ở Việt Nam, trong mấy năm gần đây thuật ngữ “nhà nước kiến tạo phát
triển” được sử dụng khá phổ biến, cả trên các diễn đàn học thuật và trong các
hoạt động của Nhà nước. Thuật ngữ “nhà nước kiến tạo phát triển” được Thủ
tướng Chính phủ Việt Nam đưa ra lần đầu tiên năm 2011 và được coi là một
định hướng chiến lược trong hoàn thiện hệ thống chính trị của nước ta.
1.2. Khái niệm
Có nhiều quan niệm về nhà nước kiến tạo phát triển: tiếp cận từ chức
năng và phương thức tổ chức, nhà nước kiến tạo phát triển có bộ máy hành

chính chun nghiệp, giữ mối hợp tác chặt chẽ với khu vực tư để nhằm tới
chuyển đổi kinh tế quốc gia. Nói cách khác, đó là nhà nước có sự kết nối giữa
chính phủ và doanh nghiệp. Từ góc độ ra quyết định: nhà nước kiến tạo phát
triển là một nhà nước mạnh – cứng rắn, cơ quan nhà nước sẵn sàng áp dụng

8


các mệnh lệnh cứng rắn cho doanh nghiệp – thay vì biện pháp mềm như vận
động chính sách. Từ góc độ tài chính, đó là nhà nước có khuynh hướng tư
bản: môi trường kinh tế chủ yếu là khối tư bản giữ vai trò quan trọng trong sự
phát triển của đất nước…
Nhà nước kiến tạo phát triển không phải là một kiểu nhà nước
Một số học giả cho rằng từ góc độ quản trị quốc gia, hồn tồn có thể
coi đó là một mơ hình nhà nước, giống như mơ hình nhà nước thị trường tự
do (hay nhà nước điều tiết), nhà nước kế hoạch hoá tập trung, nhà nước phúc
lợi… Trong thực tế, để làm rõ các đặc trưng của nhà nước kiến tạo phát triển,
các nhà nghiên cứu trong và ngồi nước thường so sánh với các mơ hình nhà
nước khác như đã nêu.
Có tác giả lập luận rằng, việc đặt nhà nước kiến tạo phát triển nằm giữa
mơ hình nhà nước thị trường tự do và mơ hình nhà nước kế hoạch hố tập
trung có nghĩa là nó khơng mang tính chất của cả nhà nước TBCN và nhà
nước XHCN. Về mặt lý luận, nhận định đó là chính xác, bởi như đã đề cập,
khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển chỉ một mơ hình quản trị chứ khơng
phải là một kiểu nhà nước, vì thế nó có tính “trung lập” cả về yếu tố giai cấp
và chế độ kinh tế. Trong thực tế, quá trình chuyển đổi hậu XHCN ở một số
quốc gia Đông Âu, ví dụ như Ba Lan, cho thấy khơng cần thiết phải là thiết
lập một hệ thống kinh tế theo kiểu chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa xã hội, mà
là một hệ thống gồm có thị trường có khả năng phát triển kinh tế - xã hội
nhanh và (duy trì) ổn định phúc lợi XHCN [2].

Tuy nhiên, một số học giả khác cho rằng, xét về bản chất, nhà nước
kiến tạo phát triển là nhà nước can thiệp. Đây là mơ hình đối lập với nhà nước
thị trường tự do; trong mơ hình này, nhà nước can thiệp vào các hoạt động
kinh tế để khắc phục và hạn chế những khiếm khuyết của thị trường và thúc
đẩy sự công bằng và phúc lợi của các nhóm xã hội. Sở dĩ nhà nước kiến tạo

9


phát triển mang bản chất của nhà nước can thiệp vì nó: “…là sự biểu hiện của
một tiêu chuẩn hoặc khát vọng đạo đức sử dụng quyền lực can thiệp của nhà
nước để hướng dẫn đầu tư theo cách thúc đẩy tầm nhìn liên kết nhất định nền
kinh tế quốc gia”. Một tác giả khác lý giải, điều này đơn giản là bởi phát triển
kinh tế là cốt lõi của một nhà nước kiến tạo phát triển, và yếu tố đó “… địi
hỏi nhà nước cần tạo ra và điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế và chính trị mà
có thể hỗ trợ sự cơng nghiệp hóa liên tục”.
“Nhà nước kiến tạo” là khái niệm để chỉ một kiểu hệ thống quản trị
quốc gia mà không phải là khái niệm chỉ để nói riêng về nhà nước
Hệ thống này đặt ra yêu cầu về vai trò chủ động của chủ thể quản lý,
điều hành, hướng tới nhu cầu cải tạo môi trường quản trị, bảo đảm sự nhanh
nhạy, linh hoạt về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động và
cao hơn thế là linh hoạt cả trong việc xác định và thay đổi mục tiêu, nhiệm vụ
của chủ thể, vừa kiến tạo bên trong chính mình, vừa kiến tạo mơi trường mà
nó đang vận hành, ln địi hỏi khả năng nắm bắt kiểm soát “số phận” thực tế
của các quyết định đã được đưa ra trong quá trình quản lý, điều hành. Theo
các nhà nghiên cứu thì hệ thống quản trị kiến tạo là hệ thống có khả năng đáp
ứng đầy đủ các yêu cầu quản trị hiện đại và đặc biệt thích hợp, cần thiết đối
với các quốc gia đang phát triển khi mà môi trường quản trị, đối tượng quản
trị ở đó chưa ổn định, đang thay đổi.
Như vậy, “nhà nước kiến tạo” cần được hiểu là một kiểu tiếp cận chung

có tính phương pháp luận và định hướng cho các hệ thống quản trị quốc gia.
Tiếp cận nhà nước kiến tạo phát triển từ hai góc độ chính: “ý thức
hệ hướng tới sự phát triển” và “cấu trúc thể chế về mặt chính trị & hành
chính để hiện thực hố các chính sách phát triển của nó”
Theo UNDP, đây cũng chính là hai đặc điểm cơ bản của nhà nước kiến
tạo phát triển, đó là: “Dựa trên một tư tưởng về sự phát triển” đồng thời “có

10


những sắp xếp thể chế với các nguyên tắc và tiêu chuẩn mà có thể hỗ trợ các
q trình phát triển”. Cụ thể có ý kiến cho rằng “nhà nước kiến tạo phát triển
là một nhà nước có quyền lực và được tổ chức hợp lý để đạt được các mục
tiêu phát triển của nó”. Một ý kiến khác cũng có quan điểm tương tự, khi cho
đây là nhà nước có năng lực thiết kế và thực thi các mục tiêu phát triển của nó
theo cách thức áp đặt và chuyên chế nhằm tạo ra sự tăng trưởng kinh tế. Theo
một tác giả khác, nhà nước kiến tạo phát triển hàm ý một “nhà nước cứng
rắn” xét về phương diện can thiệp vào hoạt động kinh tế, thể hiện việc nó
khơng chỉ điều chỉnh, định hướng mà cịn giám sát và kiểm soát nền kinh tế.
Vincent Wei-cheng Wang – một nhà nghiên cứu có tên tuổi trên lĩnh vực này
– thì xác định, nhà nước kiến tạo phát triển là một nhà nước đặt ưu tiên hàng
đầu cho phát triển kinh tế; để đạt mục tiêu đó, nhà nước tích cực can thiệp vào
thị trường, thông qua việc định hướng, đặt ra quy tắc, điều phối, phân bổ
nguồn lực và sử dụng những cơng cụ chính sách đa dạng khác [15, tr.11].
Từ đó tác giả đưa ra khái niệm: “Nhà nước kiến tạo phát triển là một
kiểu hệ thống quản trị quốc gia, thông qua hoạt động quản trị, dựa vào quyền
lực của mình mà từ đó nhà nước can thiệp, định hướng, quy định, điều phối
và tổ chức thực hiện các hoạt động xã hội (tùy theo các mức độ) nhằm đạt
được các mục tiêu phát triển đã đặt ra”.
1.3. Đặc điểm

Nói đến những đặc điểm cụ thể của nhà nước kiến tạo phát triển nói
chung, Chalmers Johnson nêu ra các yếu tố sau đây:
- Tồn tại các quy tắc quản trị ổn định và vững chắc do giới tinh hoa
chính trị - quan liêu thiết lập nên, tạo ra vị thế tương đối tự chủ của nhà nước
trước các sức ép chính trị từ xã hội mà có thể gây trở ngại đến việc thực hiện
các chính sách kinh tế.
- Có sự hợp tác chặt chẽ giữa khu vực công và tư (nhà nước và doanh

11


nghiệp). Sự hợp tác đó được bảo đảm và giám sát thực hiện bởi một cơ quan
chuyên trách (ví dụ: MITI của Nhật Bản).
- Nhà nước đầu tư mạnh mẽ và liên tục vào giáo dục, y tế và thực hiện
các chính sách nhằm bảo đảm cơng bằng xã hội.
- Có một Chính phủ mạnh, thậm chí chun chế, tuy nhiên phải nắm rõ
và tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường [2].
Bên cạnh đó, theo UNDP, những đặc điểm cụ thể của nhà nước kiến
tạo phát triển bao gồm:
a) Bộ máy quan liêu mạnh, có thẩm quyền, khơng bị chính trị hố,
được tách biệt và khơng bị ảnh hưởng bởi các cuộc bầu cử và các
áp lực kinh doanh;
b) Giới lãnh đạo mạnh mẽ, có tầm nhìn xa trơng rộng, có khả năng
(khơng nhất thiết phải là độc đốn, chun chế) và có cam kết lớn;
c) Kế hoạch phát triển quốc gia hiệu quả;
d) Khả năng điều phối các hoạt động kinh tế và các nguồn lực;
e) Hỗ trợ tầng lớp doanh nhân của quốc gia, mà sẽ phát triển thành
giai cấp tư sản của quốc gia;
f) Tập trung vào nâng cao năng lực con người bằng cách đầu tư vào
các chính sách xã hội để thúc đẩy giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, nhà

ở, và các cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội khác;
g) Có niềm tin và sự tự tin vào việc xây dựng các định chế và tiêu
chuẩn như pháp quyền, công lý, ổn định chính trị, và hịa bình để
đảm bảo “sự tin tưởng thị trường”.
Các quan điểm đều cho thấy nhà nước kiến tạo phát triển các đặc điểm
khái quát đó như năng lực quản trị nhà nước tốt, hướng tới mục tiêu chung
của toàn thể dân tộc, mà biểu hiện thực tế nổi bật là sự tự chủ và độc lập đối
với mọi lợi ích nhóm, bao gồm cả các lợi ích của các chủ thể nước ngồi.

12


Theo quan điểm cá nhân, các yếu tố khái quát này được phát triển và cụ
thể hóa qua 04 luận điểm lý thuyết chính yếu.
Nhà nước kiến tạo phát triển có tầm nhìn phát triển nhất qn và
xun suốt
Nhấn mạnh về tính chính trị của nhà nước kiến tạo phát triển. Một
trong các địi hỏi quan trọng nhất chính là về lãnh đạo chính trị. Nhà nước
kiến tạo phát triển cần có một đội ngũ lãnh đạo chính trị có tầm nhìn phát
triển, vì bản thân việc “chủ động dẫn dắt” địi hỏi phải có một tầm nhìn xun
suốt, nhất quán và tập trung vào các mục tiêu phát triển của tồn bộ quốc gia,
tức là một tầm nhìn chung, được chia sẻ và ủng hộ rộng rãi của toàn đất nước.
Tầm nhìn như vậy cũng là hệ tiêu chí cho việc thảo luận và xác định các ưu
tiên chính sách, quy tụ nguồn lực tập trung cho đột phá trong các điều kiện
cạnh tranh khắc nghiệt với các nước có những lợi thế khổng lồ vì đi trước và
hiện đang chiếm lĩnh các vị trí thống trị.
Quan trọng hơn, tầm nhìn phát triển như vậy cho phép sự quy tụ, đồn
kết vì nó cung cấp nền tảng tư tưởng và hệ giá trị cho các liên minh chính trị
nhằm giữ được mơi trường chính trị ổn định cũng như khả năng tập trung
quyền lực cho các thể chế nhà nước đóng vai trị then chốt trong điều phối

chiến lược kinh tế dài hạn, điều mà vốn không dễ dàng được chấp nhận do các
lợi ích ngắn hạn ngăn cản.
Trong các nghiên cứu lý thuyết cũng như kinh nghiệm của các nhà
nước kiến tạo phát triển, đặc biệt tại các nước công nghiệp mới Đông Á, sự
xuất hiện của tầng lớp lãnh đạo chính trị như vậy thường xuất hiện do 3 yếu tố
quan trọng sau:
1- Có sự cam kết được chia sẻ giữa các nhóm có quan điểm chính trị
khác nhau;
2- Nguồn lực, tài nguyên quốc gia hạn hẹp;

13


3- Có những mối đe dọa nghiêm trọng về an ninh quốc gia và tổn vong
của dân tộc.
Cũng có những ý kiến khác về chi tiết, nhưng về căn bản đều lập luận
xoay quanh việc xuất hiện tầng lớp lãnh đạo chính trị tinh hoa, dám quyết
đốn và có sự ưu tiên rõ rệt trong chính sách đều chỉ có thể xuất hiện trong
điều kiện xã hội chưa có các sức ép dân chủ rộng tãi, tức là sức ép của rất
nhiều tầng lớp bên dưới về việc phải tính đến lợi ích ngắn hạn, ngay lập tức
của mình. Đây cũng là một đặc điểm quan trọng của cấu trúc xã hội và đặc
điểm chính trị cụ thể mang tính lịch sử.
Khi nhìn nhận tồn bộ sự phức tạp, khó lường của các tương tác chính
trị như vậy, luận điểm về tầm nhìn chính trị này thực ra chính là luận điểm về
sự tồn tại của ý chí chính trị chung, mạnh mẽ, làm nền tảng cho việc xây dựng
một nhà nước kiến tạo phát triển.
Bộ máy quản lý, hành chính hiệu quả và trung lập
Nói về tính kỹ trị của các thể chế nhà nước. Vì các cơ quan của nhà
nước với các con người cụ thể của chúng đóng vai trị lớn (có quyền lực lớn)
trong việc xác định ưu tiên chính sách cũng như trong việc thực hiện các ưu

tiên đó, bộ máy quản lý nhà nước vừa có tính chun nghiệp và năng lực phân
tích cao, vừa xuất phát từ lợi ích phát triển chung của quốc gia và khơng bị
chi phối bởi các lợi ích nhóm.
Có thể thấy nếu chức năng cốt lõi của lãnh đạo chính trị đưa ra tầm
nhìn, tư tưởng và hệ giá trị chủ đạo thì các nhà quản lý kỹ trị phải có sự tinh
thơng nghề nghiệp và sự khách quan, khơng thiên vị trong việc thực hiện tầm
nhìn và chuyển tải các giá trị chung đó.
Trong những nghiên cứu trường hợp thức tế, các nhà nước kiến tạo
phát triển thành cơng đều có đội ngũ cơng chức hành chính xuất sắc mà nổi
bật là 3 đặc điểm sau:

14


1- Hệ thống tuyển dụng dựa trên năng lực chuyên mơn (thi tuyển cơng khai);
2- Hệ thống khuyến khích sự thăng tiến nghề nghiệp (chính sách đãi
ngộ như lương, bảo hiểm,…)
3- Hệ thống đảm bảo sự tôn vinh và thẩm quyền chính đáng của các
cơng chức nhà nước.
Bộ máy quản lý hành chính như vậy mới có thể đảm nhận được 3 chức
năng cốt lõi của nhà nước kiến tạo phát triển: Có khả năng lập các kế hoạch
phát triển dài hạn và thực thi; Không bị chi phối bởi lợi ích nhóm; Có khả
năng thuyết phục, huy động khu vực tư tập trung nguồn lực, cũng như trừng
phạt các cơng ty khơng tn thủ các tiêu chí, ưu tiên chính sách mà nhà nước
chủ động đặt ra.
Cả 3 chức năng cốt lõi của bộ máy quản lý, hành chính trong nhà nước
kiến tạo phát triển như vậy là khác xa so với trong mơ hình nhà nước thị
trường tự do. Điểm khác biệt căn bản ở đây là đặt niềm tin vào vai trò chủ
động của nhà nước và hiệu quả của kế hoạch thay cho niềm tin vào sự hợp lý,
hiệu quả của thị trường cạnh tranh.

Trong cách nhìn của chủ nghĩa Tân tự do, nhà nước chỉ can thiệp vào
“các thất bại của thị trường” mà hàng hóa cơng, độc quyền, bất đối xứng
thơng tin và ngoại ứng là các trường hợp kinh điển. Tuy nhiên, cũng theo
quan điểm của chủ nghĩa này, sự bất bình đẳng sẽ là điều bình thường và
thậm chí là điều cần thiết cho “hiệu quả của thị trường” vì nó trừng phạt các
công ty yếu kém và tưởng thưởng cho các cơng ty hiệu quả, sáng tạo. Nói
cách khác, sự bất bình đẳng trong phân bổ thu nhập chính là cơ chế thúc đẩy
sáng tạo và phát triển, không phải là sự thất bại của thị trường và đương nhiên
không cần sự can thiệp của Nhà nước. Mọi sự can thiệp của Nhà nước, ngoại
trừ trong các “thất bại” mà hệ tư tưởng này định nghĩa, đều được coi là làm
méo mó và làm giảm hiệu quả các hoạt động kinh tế.

15


Ngoài ra, cần thấy rằng ngay cả khi thị trường “thất bại” thì Nhà nước
cũng chưa chắc đã làm tốt hơn, và cần phải cân nhắc việc sống chung với
“thất bại của thị trường”, vì có thể cịn tốt hơn so với “thất bại của Nhà nước”.
Như vậy, vấn đề trung tâm của nhà nước kiến tạo phát triển là cần phải tránh
các thất bại của Nhà nước, thể hiện qua các hiện tượng như tham nhũng, lãng
phí, tư lợi và duy ý chí. Nhà nước kiến tạo phát triển cần phải làm được các
chức năng trên tốt hơn và hiệu quả hơn so với thị trường.
Quan hệ hành chính – dân sự hịa hợp
Vì mọi kết quả cuối cùng đều xoay quanh các doanh nghiệp, do vậy
nhà nước kiến tạo phát triển cần có các chính sách cơng và thiết lập các hệ
thống chế định để khuyến khích các đơn vị có hiệu quả và trừng phạt những
đơn vị khơng có hiệu quả. Sự can thiệp, điều chỉnh và các chính sách pháp
luật của Nhà nước cần phải đặt lợi ích sản xuất của các doanh nghiệp làm ưu
tiên, với một nguyên tắc trung tâm là tập trung thúc đẩy hiệu quả sản xuất của
khu vực tư nhân.

Quan hệ cơng – tư hữu hảo như vậy có thể được thực hiện qua một loạt
công cụ như bảo hộ mậu dịch, chính sách miễn giảm thuế, trợ giúp vốn… một
cách chọn lọc và nhất quán với tầm nhìn chiến lược. Ở một số quốc gia, mở
rộng các công cụ này sang cả các lĩnh vực như tài trợ cho hoạt động nghiên
cứu và phát triển (R&D), đào tạo nghề bảo hiểm xã hội. Những chính sách
bảo trợ và xây dựng các thể chế phòng ngừa rủi ro cũng là những công cụ
quan trọng để đẩy mạnh các doanh nghiệp khởi nghiệp, vốn dựa trên các phát
minh, ý tưởng sáng tạo mới, tuy hàm chứa nhiều rủi ro nhưng cũng có thể
mang lại các hiệu quả kinh doanh rất lớn.
Điểm cốt lõi ở đây là mối quan hệ hữu hảo, cùng có lợi cho cả quốc gia
cũng như cho từng doanh nghiệp.

16


Quản trị hiệu quả và công bằng
Nhà nước kiến tạo phát triển trong khi tập trung vào phát triển kinh tế
đồng thời cũng khắc phục sự bất bình đẳng, tạo dựng được sự đồng thuận xã
hội và chia sẻ rộng rãi các thành quả phát triển. Các nhà nước kiến tạo phát
triển Đông Á đều đã làm tốt vấn đề này vì Chính phủ các nước này đã tính tới
vấn đề bất bình đẳng từ rất sớm và có các chính sách thích hợp để khiến sự
phát triển kinh tế đi đơi với q trình khắc phục sự bình đẳng.
Có hai yếu tố nổi bật cần nhìn nhận khi xem xét thành công của các nhà
nước kiến tạo phát triển Đông Á:
- Tầng lớp lãnh đạo, trong khi nắm giữ quyền lực tập trung, đã cam kết
mạnh mẽ về xóa đói giảm nghèo, và quan tâm đến việc này từ những giai
đoạn đầu của sự phát triển. Sự quan tâm này được tích hợp vào các chính sách
xã hội đưa đến sự phân phối tương đối bình đẳng, mức độ thất nghiệp thấp và
tốc độ giảm nghèo nhanh.
- Tầng lớp lãnh đạo cũng đưa phát triển kinh tế thành một tiêu chí cốt

lõi nhất của hiệu quả lãnh đạo và là cơ sở cho tính chính đáng chính trị của
giới cầm quyền. Đây chính là cơ sở của liên minh chính trị rộng rãi – sự liên
minh trên cơ sở tăng trưởng kinh tế và lợi ích phát triển chung. Chính cơ sở
này đã đảm bảo sự ổn định chính trị trong thời gian dài.
Johnson cho rằng, ở các nước Đơng Á, tính chính đáng chính trị khơng
dựa vào 3 dạng thức truyền thống lịch sử, hợp pháp – duy lý, và sức cuốn hút
cá nhân mà là một kiểu riêng, đó là tính chính đáng cải cách. Tính chính đáng
cải cách tức là lãnh đạo chính trị được người dân tự nguyện tuân theo do hiệu
quả của cải cách hay đổi mới. Tính chính đáng như vậy khơng dựa trên quá
trình cầm quyền mà dựa vào kết quả của sự quản trị mà hai trụ cột là tăng
trưởng kinh tế và sự bình đẳng trong thu nhập.

17


1.4. Phân loại
Mặc dù có những điểm chung, nhưng khơng có một nhà nước kiến tạo
duy nhất, mà có nhiều phiên bản nhà nước kiến tạo khác nhau. Có nhiều cách
để phân loại các phiên bản của nhà nước kiến tạo dựa trên các tiêu chí như:
mức độ can thiệp của nhà nước đối với nền kinh tế; sự hình thành và áp dụng
ở các quốc gia/khu vực; thể chế chính trị; và mức độ thành cơng thất bại của
các nhà nước kiến tạo phát triển; hay thời điểm hình thành mơ hình nhà nước
kiến tạo phát triển. Việc phân loại này để có những đánh giá khách quan dựa
trên điều kiện, hoàn cảnh, lựa chọn của từng quốc gia. Tuy nhiên, các cách
thức phân loại đều đem đến các kết quả tương đối. Có thể có những đan xen
đặc điểm trong các phiên bản nhà nước kiến tạo, điều này hoàn toàn hợp lý
với xu hướng các quốc gia hiện nay.
Nhà nước kiến tạo phát triển truyền thống là một mơ hình có nguồn gốc
từ Đơng Á vào cuối thế kỷ XX. Đặc điểm cơ bản của mơ hình nhà nước này
là vai trò can thiệp, lập kế hoạch và điều hành một cách sâu rộng nền kinh tế.

Tuy nhiên, lý thuyết này có những điều chỉnh để phù hợp với sự thay đổi của
bối cảnh chính trị, kinh tế và xã hội. Điểm mấu chốt của sự thay đổi đó chính
là xu hướng giảm dần vai trị can thiệp của nhà nước đối với nền kinh tế. Xét
dưới góc độ này, có thể phân làm 3 phiên bản chủ yếu: phiên bản can thiệp
mạnh; phiên bản can thiệp tương đối; phiên bản can thiệp hạn chế.
Phiên bản nhà nước kiến tạo phát triển can thiệp mạnh
Nhà nước kiến tạo đề cao sự can thiệp mạnh của nhà nước đối với nền
kinh tế là nhà nước kiến tạo phát triển cổ điển được xác lập ở một số quốc gia
và vùng lãnh thổ Đông Á (như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) từ những thập
kỷ sau của thế kỷ XX cho đến trước cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính diễn
ra. Trên cơ sở thực tiễn ở Nhật Bản, Chalmers Johnson (1982) lần đầu tiên
đưa ra khái niệm “nhà nước kiến tạo” (developmental state) với nghĩa là một

18


nhà nước tập trung cho phát triển kinh tế và thực hiện các biện pháp, chính
sách kinh tế cần thiết để đạt được mục tiêu đó.
Việc đề cao sự can thiệp của nhà nước kiến tạo phát triển vào nền kinh
tế cho phép phân biệt mơ hình nhà nước kiến tạo phát triển với mơ hình nhà
nước điều tiết (regulatory) - nhà nước nhấn mạnh cạnh tranh thị trường và sự
điều chỉnh, tức can thiệp khơng tồn diện, có lựa chọn của nhà nước. Nhà
nước điều tiết là nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu thông qua các cơ quan
nhà nước được trao quyền lực để thực thi các chuẩn mực của nền kinh tế
nhằm bảo vệ công chúng trước các hạn chế, tiêu cực của thị trường, như tình
trạng độc quyền, cạnh tranh khơng lành mạnh và các hình thức lạm dụng
quyền lực thị trường khác, cũng như bằng cách cung cấp các dịch vụ công
cộng (như an ninh quốc gia, giáo dục, ý tế công cộng) mà thị trường khơng
thể làm được. Trong khi đó, nhà nước kiến tạo phát triển lại can thiệp trực
tiếp và sâu hơn vào nền kinh tế thông qua các biện pháp nhằm thúc đẩy sự

phát triển của các ngành công nghiệp mới, giảm sự xáo trộn do sự thay đổi
đầu tư và lợi ích từ các nền cơng nghiệp cũ sang các nền cơng nghiệp mới.
Vai trị can thiệp của nhà nước bao gồm cả định hướng mục tiêu phát
triển như cơng nghiệp hóa, định hướng xuất khẩu... và kết nối các cơ quan nhà
nước lẫn các doanh nghiệp tư nhân để đạt được các mục tiêu đó, chính vì thế
đây được coi như là phiên bản mạnh của nhà nước kiến tạo phát triển. Mặc dù
đề cao sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, nhà nước kiến tạo phát triển
cổ điển can thiệp hạn chế hơn so nhà nước theo chủ nghĩa phát triển cổ điển
(classic developmentalism) và đặc biệt so với nhà nước kế hoạch hóa tập
trung theo mơ hình xã hội chủ nghĩa. Một điểm khác nữa của nhà nước kiến
tạo phát triển với hai mơ hình nhà nước trên cịn ở chỗ, nhà nước này vẫn đề
cao tự do hóa và mở cửa thị trường nội địa với nền kinh tế thế giới.

19


Phiên bản nhà nước kiến tạo phát triển can thiệp tương đối (can
thiệp mềm dẻo)
Các lý thuyết mới về kinh tế sau này đã điều chỉnh nhà nước kiến tạo
phát triển theo hướng giảm dần mức độ can thiệp của nhà nước đối với nền
kinh tế ở những mức độ khác nhau, từ can thiệp mềm dẻo cho tới can thiệp
hạn chế. Các nhà nước kiến tạo phát triển sau này không can thiệp sâu rộng
vào nền kinh tế như nhà nước kiến tạo phát triển cổ điển, thay vào đó nhà
nước thực thi các chính sách mang tính định hướng nền kinh tế, bao gồm: dựa
cơ bản vào nền kinh tế tư nhân như là nhà đầu tư thay vì sở hữu nhà nước;
chấp nhận vai trị cơ bản của nhà nước trong việc chỉ đạo đầu tư, phối hợp các
dự án và cung cấp thông tin đặc biệt trong các dự án có nhiều đầu vào và lợi
nhuận dài hạn; sự hợp tác và trao đổi sâu rộng giữa lĩnh vực công và tư; đẩy
mạnh xuất khẩu và mở cửa tương đối cho nhập khẩu; quan tâm trực tiếp đến
các doanh nghiệp, sự đổi mới và sự phát triển các sản phẩm mới thay vì phụ

thuộc vào cơng nghệ và bí quyết nhập khẩu; thúc đẩy sản xuất nội địa thay vì
đầu tư trực tiếp nước ngồi; chú trọng nâng cao khả năng cạnh tranh thay vì
bảo trợ, hỗ trợ cho các doanh nghiệp tư nhân; tư nhân hóa hoặc hợp tác cơng
tư trong việc cung cấp các dịch vụ công; thúc đẩy các thị trường vốn và tài
chính trong nước để thu hút và phân bổ nguồn lực; chú trọng các bảo đảm xã
hội bao gồm các nỗ lực giảm bất bình đẳng, duy trì tinh thần đồn kết và bảo
vệ chống lại một số chi phí tái cấu trúc; các chương trình phúc lợi kèm điều
kiện làm việc của người thụ hưởng hoặc đầu tư vào nguồn nhân lực.
Phiên bản nhà nước kiến tạo phát triển can thiệp hạn chế
Theo cách tiếp cận của lý thuyết kinh tế học thể chế mới và lý thuyết
phát triển năng lực, vai trò can thiệp của nhà nước chỉ chủ yếu tập trung vào
việc nâng cao năng lực của nhà nước để thúc đẩy các hoạt động của thị trường
thông qua các biện pháp bảo đảm trật tự xã hội, giảm tính bất định trong nền

20


kinh tế, giảm bất đối xứng thông tin, giảm chi phí giao dịch... cho thị trường.
Điểm căn bản của các lý thuyết này là hạn chế sự can thiệp của nhà nước vào
nền kinh tế. Có thể thấy rằng, mơ hình nhà nước kiến tạo phát triển đang dần
chuyển dịch theo hướng mơ hình nhà nước điều tiết. Sự thay đồi nhận thức về
vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế phần nào có nguyên nhân từ cuộc
khủng hoảng kinh tế ở châu Á năm 1997. Tuy nhiên, có nhiều sự thay đổi
khác liên quan ảnh hưởng tới quan điểm này như sự thay đổi về bối cảnh dân
chủ chuyển đổi thiết lập nhà nước pháp quyền cũng như q trình tồn cầu
hóa và hội nhập quốc tế. Dưới góc độ kinh tế, có nhiều vấn đề mới nảy sinh
dẫn đến cần phải xem xét lại vai trò can thiệp của nhà nước như: các thị
trường khơng hồn hảo; sự thất bại của thị trường; vai trò xây dựng các chiến
lược phát triển; tạo dựng các mạng lưới kết nối (đặc biệt trong bối cảnh tồn
cầu hóa và hội nhập quốc tế); sáng kiến phát triển nền kinh tế.


21


×