Tải bản đầy đủ (.docx) (27 trang)

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG, DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (204.94 KB, 27 trang )

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN
DỤNG TRUNG, DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1.Ngân hàng thương mại.
1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh
tế nói chung và đối với các cộng đồng địa phương, chủ thể nói riêng. Theo các
nghiên cứu, lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát
triển của nền sản xuất hàng hóa. Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi
sự phát triển của ngân hàng; đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở
thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Kinh tế thị trường sản sinh ra các chợ
tiền trong đó, ngân hàng thương mại không phải chạy theo tiền bạc mà bắt tiền bạc
chạy theo mình, điều khiển tiền bạc chuyển hóa tinh vi từ nơi này đến nơi khác. Các
ngân hàng mạnh, nền kinh tế sẽ mạnh; các ngân hàng yếu, nền kinh tế sẽ yếu. Thậm
chí nếu các ngân hàng đổ vỡ, nền kinh tế sẽ lâm vào khủng hoảng và sụp đổ. Vì thế,
các nhà kinh tế học đã thường gọi “ngân hàng là doanh nghiệp đặt biệt”, là “hệ thần
kinh, là trái tim của nền kinh tế”.
Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ
vàng. Trong điều kiện lưu thông tiền kim loại ( bạc hoặc vàng), các chủ cửa hàng
vàng bạc vừa đổi tiền, thanh toán hộ, vừa đúc tiền và cho vay nặng lãi. Họ chính là
những người làm nghề kinh doanh tiền tệ hay còn gọi là nhà buôn tiền. Từ những
hoạt động thực tiễn họ nhận thấy rằng luôn có những người gửi tiền vào và lấy tiền
ra nhưng hai hoạt động này không đồng thời cùng một lúc đã tạo ra một số dư
thường xuyên có ở trong két và nhà buôn tiền có thể sử dụng một phần tiền gửi của
khách để cho vay. Hoạt động này đã làm thay đổi cơ bản hoạt động của nhà buôn
tiền- kẻ cho vay nặng lãi thành nhà buôn tiền- ngân hàng. Bên cạnh đó, nó còn tạo ra
một lợi nhuận lớn nên các ngân hàng tìm cách thu hút tiền gửi để cho vay bằng cách
trả lãi cho người gửi tiền.
Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai
trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Song, các yếu tố trên đang không ngừng
thay đổi. Trong thực tế hiện nay có rất nhiều những tổ chức tài chính khác ( như
công ty chứng khoán, bảo hiểm, các quỹ) đang cố gắng cung cấp các dịch vụ ngân


hàng. Và ngược lại, các ngân hàng cũng đang mở rộng phạm vi cung cấp sản phẩm,
dịch vụ về bất động sản, chứng khoán, bảo hiểm, đầu tư vào các quỹ,... Theo cách
tiếp cận trên phương diện các loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp thì ngân hàng là
các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc
biệt là tín dụng, tiết kiệm và thanh toán- và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất
so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Theo Luật các tổ chức
tín dụng của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ghi “Hoạt động ngân
hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường
xuyên là nhân tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch
vụ thanh toán”
Ở nước ta, các loại hình ngân hàng được hoạt động theo Luật các tổ chức
tín dụng là: Ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân
hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.
1.1.2. Các hoạt động của ngân hàng thương mại.
* Mua bán ngoại tệ.
Đây là một trong những dịch vụ đầu tiên của Ngân hàng. Với hoạt động này,
Ngân hàng thực hiện trao đổi, mua bán ngoại tệ: mua bán một loại tiền này lấy một
loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ.
* Nhận tiền gửi.
Để có thể cho vay, Ngân hàng cần phải huy động được nhiều tiền, một trong
những nguồn quan trọng đó là tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm. Ngân hàng
nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn. Khi nhận
tiền gửi, Ngân hàng phải trả cho người gửi tiền một khoản lãi như là phần thưởng
cho khách hàng về việc sẵn sàng hy sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép
Ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh.
* Cho vay.
- Cho vay thương mại: Cho vay là hoạt động sinh lời cao của Ngân hàng
thương mại. Ở thời kỳ đầu, các Ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực chất
là cho vay đối với những người bán. Sau đó, Ngân hàng cho vay trực tiếp đối với
các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh

doanh.
- Cho vay tiêu dùng: Trong thời kỳ đầu, các Ngân hàng không tích cực cho
vay đối với các cá nhân, các hộ gia đình vì họ nghĩ rằng những khoản cho vay với
mục đích tiêu dùng này có khả năng vỡ nợ cao. Nhưng hiện nay, với sự gia tăng của
thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã khiến cho Ngân
hàng ngày càng mở rộng hoạt động này và hướng đến người tiêu dùng như một
khách hàng tiềm năng.
- Tài trợ dự án: Đây là hoạt động tài trợ trung, dài hạn: tài trợ xây dựng, phát
triển ngành, đầu tư bất động sản,...
* Bảo quản tài sản hộ.
Ngân hàng thường giữ hộ những tài sản tài chính, giấy tờ cầm cố hay những
giấy tờ quan trọng khác của khách hàng với nguyên tắc an toàn, bí mật, thuận tiện.
Dịch vụ này phát triển cùng nhiều dịch vụ khác như mua bán hộ các giấy tờ có giá,
thanh toán lãi hoặc cổ tức hộ,...
* Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
Việc giao dịch, thanh toán qua Ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không
dùng tiền mặt. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt đã góp phần rút ngắn
thời gian kinh doanh, nâng cao thu nhập cho khách hàng. Cùng với sự phát triển của
công nghệ thông tin đã phát triển một số hình thức thanh toán mới bằng thẻ, điện,...
* Quản lý ngân quỹ.
Quản lý ngân quỹ là việc Ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một
công ty kinh doanh, tiến hành đầu tư phần tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán
sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
* Tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ.
Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách trong khi thu không đủ,
Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận đến các khoản cho vay của Ngân hàng.Các
Ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực
hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ.
* Bảo lãnh.
Bảo lãnh là một nghiệp vụ ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng

thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hóa và trang thiết bị, phát
hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác,...
* Cho thuê thiết bị trung dài hạn ( Leasing).
Ngân hàng tích cực cho khách hàng quyền lựa chọn thuê các thiết bị máy móc
cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua trong đó Ngân hàng mua thiết bị và cho
khách hàng thuê với điều kiện khách hàng phải trả tới hơn 70% hoặc 100% giá trị
của tài sản cho thuê. Cho thuê thiết bị trung dài hạn cũng được xếp vào tín dụng
trung dài hạn.
* Cung cấp dịch vụ ủy thác, tư vấn.
Nhiều khách hàng coi Ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính vì
trong lĩnh vực tài chính, các Ngân hàng có rất nhiều chuyên gia trong quản lý. Ngân
hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, quản lý tài chính, thành lập, mua bán, sáp nhập
doanh nghiệp.
* Cung cấp các dịch vụ môi giới, đầu tư chứng khoán.
* Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm.
Từ nhiều năm nay, Ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó bảo
đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng gặp những rủi ro, mất khả năng
trong thanh toán. Ngân hàng liên kết với các công ty bảo hiểm hoặc mở công ty bảo
hiểm con để cung cấp các dịch vụ bảo hiểm.
* Cung cấp các dịch vụ đại lý.aq
Nhiều ngân hàng, thường là những Ngân hàng lớn có chi nhánh rộng khắp,
cung cấp dịch vụ đại lý cho các Ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hàng hộ,
làm Ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ.
1.1.3. Chức năng và vai trò của ngân hàng thương mại.
* Trung gian tài chính.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế. Trong thực tế luôn xảy ra trường hợp có những cá nhân và tổ chức
tạm thời thâm hụt trong chi tiêu và có những cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi
tiêu. Điều tất yếu xảy ra là tiền sẽ chuyển từ nhóm thặng dư sang nhóm thâm hụt này

nếu cả hai bên cùng có lợi. Thu nhập gia tăng là động lực để tạo ra mối quan hệ giữa
hai nhóm. Nếu dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lại với một lượng lớn
hơn trong một khoảng thời gian nhất định thì đó là quan hệ tín dụng. Nếu không thì
đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn. Trung gian tài chính làm tăng thu nhập cho
người tiết kiệm, từ đó mà khuyến khích tiết kiệm, đồng thời làm giảm phí tổn tín
dụng cho người đầu tư ( tăng thu nhập cho người đầu tư) từ đó mà khuyến khích đầu
tư. Song, hoạt động của trung gian sẽ có hiệu quả khi nó gánh chịu rủi ro và sử dụng
các kĩ thuật nghiệp vụ hạn chế, phân tán rủi ro và giảm chi phí giao dịch.
Một đóng góp khác nữa của ngân hàng là họ sẵn sàng chấp nhận các khoản
cho vay nhiều rủi ro trong khi lại phát hành các chứng khoán ít rủi ro cho người gửi
tiền. Thực tế là các ngân hàng tham gia việc kinh doanh rủi ro. Ngân hàng cũng thỏa
mãn nhu cầu thanh khoản của nhiều khách hàng.
Một lý do nữa làm ngân hàng phát triển và thịnh vượng là khả năng thẩm
định thông tin. Sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin được
gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả của thị trường
nhưng tạo ra một khả năng sinh lợi cho ngân hàng, nơi có chuyên môn và kinh
nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa chọn các công cụ và có
yếu tố rủi ro- lợi nhuận hấp dẫn nhất.
* Tạo phương tiện thanh toán.
Tiền có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán. Trước
đây, các ngân hàng thợ vàng đã tạo được phương tiện thanh toán bằng cách phát
hành các giấy nhận nợ với khách hàng. Với nhiều ưu thế, giấy nhận nợ của ngân
hàng đã thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông và phương tiện cất giữ, nó
trở thành tiền giấy. Việc in tiền mang lại lợi nhuận lớn và với nhu cầu có đồng tiền
quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền lực phát hành vào một
tổ chức hoặc là Bộ Tài chính, hoặc là Ngân hàng Trung ương.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận
thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có
được hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầu. Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản
tiền gửi thanh toán của khách hành tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng

hóa và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay, ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh
toán. Bên cạnh đó, toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo ra phương tiện thanh toán
khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ
sở cho vay. Trong khi không có một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn
dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi gấp bội
thông qua hoạt động cho vay.
* Trung gian thanh toán.
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất tại các quốc gia hiện
nay. Thay mặt khách hàng của mình, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa
và dịch vụ. Một số hình thức thanh toán như: séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại
thẻ,... cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy
khi khách hàng cần. Các ngân hàng thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng
Trung ương hoặc qua các trung gian thanh toán. Nhiều hình thức thanh toán cũng
được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán, không chỉ giữa các
ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới.
Trên cơ sở các chức năng trên, ngân hàng có một số dịch vụ sau: nhận tiền
gửi, cho vay, mua bán ngoại tệ, bảo quản tài sản hộ, cung cấp các tài khoản giao
dịch và thực hiện thanh toán, quản lý ngân quỹ, tài trợ các hoạt động của Chính phủ,
bảo lãnh, cho thuê thiết bị trung và dài hạn, cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn, cung
cấp các dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm,
cung cấp các dịch vụ đại lý,...
Dựa trên những chức năng của mình, Ngân hàng thương mại có những vai trò
như:
- Ngân hàng thương mại tập trung tiền nhàn rỗi trong dân cư và cung ứng nó
cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung gian thanh toán, giúp hoatj
động sản xuất, lưu thông hàng hóa diễn ra nhanh chóng
- Ngân hàng góp phần quan trọng trong điều tiết thị trường tiền tệ, thị trường
vốn.
- Ngân hàng giúp thu hút và mở rộng đầu tư trong và ngoài nước, cung cấp

các dịch vụ ngày càng tiện ích đến khách hàng.
1.1.4. Các loại hình tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ra đời từ thế kỷ XVI, là một tất yếu khách quan, phù hợp với sự
phát triển của xã hội và ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế
toàn cầu. Theo định nghĩa: “ Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo
nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo một thời gian nhất định với một bên là ngân
hàng- một tổ chức chuyên doanh trong lĩnh vực tiền tệ với một bên là các đơn vị
kinh tế, các tổ chức xã hội và dân cư trong xã hội, trong đó ngân hàng đóng vai trò
vừa là người đi vay, vừa là người cho vay”. Có rất nhiều cách để phân chia tín dụng
ngân hàng như phân chia theo thời gian, theo hình thức tài trợ, theo hình thức đảm
bảo, theo rủi ro,....
1.1.4.1. Tín dụng chia theo thời gian.
Việc phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì
thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn, sinh lợi của tín dụng cũng như khả
năng thanh toán của khách hàng. Theo thời gian: tín dụng được chia thành 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn từ 12 tháng trở xuống, chủ yếu tài trợ cho tài
sản lưu động.
- Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm( có ngân hàng quy định là 7
năm), tài trợ cho các tài sản cố định như phương tiện vận tải, cây trồng vật nuôi,
trang thiết bị chống hao mòn.
- Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên 5 năm( có ngân hàng là 7 năm) tài trợ cho
công trình xây dựng như nhà, sân bay, cầu, đường, máy móc, thiết bị có giá trị lớn,
thường có thời hạn sử dụng lâu.
Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn trong ngân hàng thương mại thường cao hơn tỷ
trọng trung dài hạn vì tín dụng trung dài hạn có rủi ro cao hơn, nguồn vốn đắt hơn và
khan hiếm hơn.
1.1.4.2. Tín dụng chia theo hình thức tài trợ.
- Cho vay: Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết
khách hàng phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi trong khoảng thời gian xác định. Cho vay là
tài sản lớn nhất trong các khoản mục tín dụng.

- Chiết khấu thương phiếu: Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng
trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu, trừ đi phần thu
nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn hoặc một giấy nợ.
- Cho thuê: Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng
thuê theo những thỏa thuận nhất định. Sau thời gian nhất định, khách hàng phải trả
cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng.
- Bảo lãnh: Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài
chính hộ khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra nhưng ngân hàng đã
cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi.
1.1.4.3. Tín dụng chia theo hình thức đảm bảo.
Có 2 loại: tín dụng có đảm bảo và tín dụng không có đảm bảo bằng tài sản
thế chấp, cầm cố. Về nguyên tắc, mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều có đảm bảo
nhưng ngân hàng chỉ ghi vào hợp đồng tín dụng loại đảm bảo mà ngân hàng có thể
bán đi thu nợ được nếu khách hàng không trả được nợ. Tín dụng không cần tài sản
đảm bảo có thể được cấp cho các khách hàng có uy tín, thường là khách hàng làm ăn
có lãi thường xuyên, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần, dây
dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay. Các khoản cho vay theo
chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu không cần tài sản đảm bảo. Các khoản
cho vay đối với các công ty lớn, các tổ chức tài chính lớn, hoặc những khoản cho
vay trong thời gian ngắn mà ngân hàng có khả năng giám sát việc bán hàng,... cũng
có thể không cần tài sản đảm bảo.
1.1.4.4. Tín dụng phân loại theo rủi ro.
Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại khoản mục
tín dụng, dự trù quỹ cho các khoản tín dụng có rủi ro cao, đánh giá chất lượng tín
dụng.
- Tín dụng lành mạnh: là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.
- Tín dụng có vấn đề: là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh như
khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách hàng gặp thiên
tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính,...
- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: là các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn

ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn,..
- Nợ quá hạn khó đòi: là các khoản nợ quá hạn lâu, khả năng trả nợ rất kém,
tài sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì,...
1.1.4.5. Phân loại khác.
- Theo ngành kinh tế: Công nghiệp, nông nghiệp,...
- Theo đối tượng tín dụng: Tài sản lưu động, tài sản cố định.
- Theo mục đích: sản xuất, tiêu dùng,...
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hóa trong
cấp tín dụng của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ mở rộng
phạm vi tài trợ song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có lợi thế.
1.1.5. Tín dụng trung và dài hạn tại ngân hàng thương mại.
1.1.5.1. Khái niệm.
Theo định nghĩa, tín dụng trung và dài hạn là hoạt động tài chính cho khách
hàng vay vốn trung và dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển sản xuất kinh
doanh, phục vụ đời sống.
Tùy theo ở từng quốc gia, từng thời kỳ mà có những quy định khác nhau về
tín dụng trung và dài hạn. Ở Việt Nam, thời hạn cho vay được xác định phù hợp với
thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất
nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng. Hiện nay, thời hạn của tín dụng trung và dài
hạn được xác định là những khoản cho vay trên 1 năm. Chúng được trả bằng những
khoản trả vay theo thời gain trong kỳ hạn của khoản vay, được đảm bảo bằng những
tài sản thế chấp, cầm cố. Mục đích của hoạt động tín dụng trung dài hạn là để đầu tư
dự án, xây dựng mới, mua sắm tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi
mới cải tiến thiết bị công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm mục tiêu lợi
nhuận, phù hợp với chính sách phát triển kinh tế xã hội và pháp luật quy định.
1.1.5.2. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn.
1.1.5.2.1. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với doanh nghiệp.
- Tín dụng trung dài hạn là nguồn tài trợ giúp doanh nghiệp có điều kiện
mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường. Mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng
thị trường là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp ngày càng

lớn mạnh, cạnh tranh hơn trong nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp nào cũng
muốn mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường nhưng hoạt động này cần phải
có nguồn vốn lớn và trong thời gian dài, không thể một sớm một chiều được. Đây là
điều mà không phải doanh nghiệp nào cũng làm được với nguồn vốn tự có của mình.
Do vậy, nhu cầu vốn trung dài hạn để sản xuất kinh doanh là rất lớn. Có nhiều cách
để một doanh nghiệp huy động nguồn vốn trung dài hạn như: vay ngân hàng, phát
hành cổ phiếu,... Song, với những lợi thế đặc thù, tín dụng trung dài hạn ngân hàng
là hình thức được các doanh nghiệp ưu tiên chọn lựa hơn cả.
- Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới
công nghệ, thay đổi cơ cấu sản xuất. Xã hội, nền kinh tế toàn cầu đang biến đổi từng
ngày cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ. Ứng dụng khoa học công nghệ
kỹ thuật trong sản xuất giúp sản xuất ngày càng mở rộng, giảm giá thành, nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tín dụng trung dài hạn sẽ giúp các doanh
nghiệp làm được việc đó, giúp doanh nghiệp thích nghi với tình hình thị trường, với
đặc thù của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.
- Tín dụng trung và dài hạn là trợ thủ đắc lực của doanh nghiệp trong việc
thỏa mãn và chớp cơ hội kinh doanh. Cơ hội kinh doanh xuất hiện trên thị trường
nhưng không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có đủ nguồn vốn để chớp lấy được
những cơ hội ấy. Chớp lấy cơ hội kinh doanh là một việc hết sức quan trọng vì nó
giúp cho doanh nghiệp ngày càng phát triển, có được cơ hội mà các doanh nghiệp
khác không có, tạo thế dẫn đầu. Tín dụng trung dài hạn sẽ giúp doanh nghiệp thực
hiện được điều này. Khi doanh nghiệp đi vay vốn tại ngân hàng thương mại sẽ có
thể được điều chỉnh kỳ hạn nợ, tránh được các chi phí phát hành, lệ phí bảo hiểm, lệ
phí đăng ký,... Việc trả nợ cũng được xây dựng theo một sự phân chia ổn định và
hợp lý để doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các nguồn trả nợ một cách dễ
dàng.
1.1.5.2.2. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với nền kinh tế.
- Tín dụng trung dài hạn thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, điều
hòa lượng cung cầu về vốn trong nền kinh tế, giúp nền kinh tế phát triển theo chiều
sâu. Ngân hàng thương mại có chức năng chủ yếu là trung gian tài chính, tập trung

các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và cho vay đối với các đối tượng có nhu cầu.
Ngân hàng thương mại là một kênh truyền dẫn vốn hiệu quả từ nơi thừa vốn đến nơi
thiếu vốn, nó giúp các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung hoạt động
liền mạch , không đứt quãng, hiệu quả cao. Những điều này cũng được thể hiện rõ
trong hoạt động tín dụng trung, dài hạn. Thông qua cho vay trung dài hạn mà xây
dựng được cơ sở hạ tầng, đổi mới khoa học công nghệ, đấy nhanh quá trình tái sản
xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh quá
trình chu chuyển tiền tệ.
- Tín dụng trung và dài hạn có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn. Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn là chủ trương chung của Đảng
và Nhà nước ta và tín dụng trung dài hạn có vai trò quan trọng trong vấn đề này.
Đầu tư cho vay trung dài hạn góp phần phát triển khoa học công nghệ, tạo công ăn
việc làm, ổn định lạm phát, nâng cao đời sống dân cư, phát triển lực lượng lao động,
giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định.
- Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế đối
ngoại. Hiện nay trong nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế của một quốc gia không
đứng độc lập riêng rẽ mà nằm trong tổng thể của nền kinh tế thế giới và chịu sự ảnh
hưởng nhất định của nó. Tín dụng trung dài hạn đã trở thành một trong những

×