Tải bản đầy đủ (.docx) (16 trang)

HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC VÀ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN CÔNG TY VẬN TẢI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (579.32 KB, 16 trang )

HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC VÀ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN
CÔNG TY VẬN TẢI
I. ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN CÔNG TÁC HOẠCH ĐỊNH CHIẾN
LƯỢC VÀ KẾ HOẠCH PHÁT TRỂN DOANH NGHIỆP
1. Môi trường kinh tế và môi trường ngành :
1.1 Môi trường kinh tế quốc dân :
1.1.1 Môi trường kinh tế :
Môi trường kinh tế là môi trường có liên quan trực tiếp đến thị trường tiêu thụ
sản phẩm của Công ty Vận tải, Xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà , nó
quyết định những đặc điểm chủ yếu của thị trường như: dung lượng, cơ cấu, sự
phát triển trong tương lai của cầu, của cung, khối lượng hàng hoá và giá trị hàng
hoá trao đổi trên thị trường .
Một số nhân tố kinh tế quan trọng ảnh hưởng đến hoạch định chiến lược của
Công ty :
+ Nguồn tài nguyên, nguyên liệu, tài chính.
+ Sự phân bổ và phát triển của lực lượng sản xuất.
+ Sự phát triển của sản xuất hàng hoá.
+ Thu nhập quốc dân.
+ Thu nhập bình quân đầu người.
1.1.2 Môi trường văn hoá xã hội, dân cư.
a. Văn hoá xã hội :
Các nhân tố văn hoá xã hội gắn liền với lịch sử phát triển của từng bộ phận dân
cư và sự giao lưu giữa các bộ phận dân cư khác nhau. Các nhân tố này ảnh hưởng
đến thị hiếu tập quán tiêu dùng của dân cư. Trong số các nhân tố văn hoá xã hội
phải kể đến :
- Phong tục tập quán, truyền thống văn hoá xã hội, tín ngưỡng .
- Các giá trị xã hội .
- Sự đầu tư của các công trình, các phương tiện thông tin văn hoá .
- Các sự kiện văn hoá, hoạt động văn hoá môi trường
b. Dân cư:
Dân cư có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành cung cầu trên thị trường,


đồng thời nó có khả năng ảnh hưởng đến sự cung ứng hàng hoá trên thị trường một
các gián tiếp thông qua sự tác động của nó.
Các nhân tố dân cư bao gồm:
- Dân số và mật độ dân số.
- Sự phân bổ của dân cư trong không gian.
- Cơ cấu dân cư ( độ tuổi , giới tính.. .).
- Sự biến động của dân cư.
- Trình độ của dân cư .
1.1.3 Môi trường pháp lý.
Môi trường pháp lý ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường thông qua việc quy
định, kiểm soát các quá trình, các hoạt động và các mối quan hệ thị trường. Đồng
thời nó còn có thể hạn chế hoặc khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển của thị trường. Cụ thể của môi trường pháp lý đó là:
- Tình hình chính trị, an ninh.
- Các quy định, tiêu chuẩn, điều lệ.
- Hệ thống thể chế pháp luật.
- Các chế độ chính sách kinh tế xã hội.
- Các nhân tố pháp lý khác.
1.1.4 Môi trường khoa học công nghệ:
Đây là môi trường có vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong cạnh
tranh của Công ty bởi nó ảnh hưởng sâu sắc và toàn diện trên các lĩnh vực hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Những ảnh hưởng của khoa học công nghệ cho ta thấy được các cơ hội
và thách thức cần phải được xem xét trong việc soạn thảo và thực thi chiến lược
sản xuất kinh doanh.
Những phát minh mới về khoa học công nghệ làm thay đổi nhiều tập quán
và tạo xu thế mới trong tiêu dùng và cho ra nhiều sản phẩm mới.
1.2 Môi trường ngành
1.2.1 Tình hình cạnh tranh trên thị trường của Công ty
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty là thị trường cạnh tranh tự do, có

rất nhiều Công ty cùng hoạt động trên thị trường và các sản phẩm trên thị trường
có sự đồng nhất, các sản phẩm do vậy ít có sự khác biệt lớn. Cho nên sự cạnh tranh
trên thị trường là rất gay gắt. Các sản phẩm của Công ty trên thị trường không chỉ
phải cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của các Công ty cạnh tranh khác mà
còn chịu sức ép rất lớn từ các sản phẩm có tính thay thế trong tiêu dùn. Các đối
thủ cạnh tranh của Công ty đối với sản phẩm sữa đậu nành là : Anh Đào, Trường
Sinh, 109, 106, Hoa Lư, Ngân Hạnh, Thiên Hương, Hưng Nguyên,... Các đối thủ
cạnh tranh của Công ty đối với bia hơi có : Bia Vi Sinh, bia hơi Hà Nội, bia Việt
Hà, bia của viện thực phẩm. Bên cạnh đó, là sự canh tranh của nhiều cơ sở sản xuất
sữa đậu nành, xưởng sản xuất bia hơi của tư nhân trên thị trường tiêu thụ. Sản
phẩm gạo các loại của Công ty cũng phải chịu sự cạnh tranh với các sản phẩm của
các Công ty kinh doanh lương thực khác và vơí các cơ sở chế biến gạo của tư nhân
hiện đang xuất hiện khá nhiều trên thị trường kinh doanh gạo. Sức ép từ các sản
phẩm có tính thay thế trong tiêu dùng trên các sản phẩm của Công ty được tiêu thụ
trên thị trường cũng rất lớn. Các sản phẩm đó như : nước ngọt, nước hoa quả, nước
khoáng nước tinh lọc, nước giải khát có ga,...đều là những sản phẩm của những
Công ty có tiềm lực về kinh tế, có uy tín nhất định trên thị trường, điều đó đã gây
cho Công ty nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ các sản phẩm của Công ty trên thị
trường.
Trước những thách thức đặt ra của thị trường đòi hỏi Công ty phải luôn tìm
cách nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm
cuẩ Công ty. Củng cố và duy trì mạng lưới phân phối và tiêu thụ sản phẩm, tiến
hành các hoạt động kích thích hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty như :
- Giảm giá bán sản phẩm
- Áp dụng các hình thức thanh toán linh hoạt cho các đại lý
- Thưởng cho các khách hàng mua với khối lượng lớn
- Chịu chi phí vận chuyển cho thị trường ở một số tỉnh...
Với mục đích là nhằm nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm của Công ty
trên thị trường so với các đối thủ khác.
1.2.2 Khách hàng

a. Khách hàng truyền thống.
Khách hàng truyền thống là những khách hàng có mối hệ tương đối lâu dài
với Công ty. Giữa Công ty và họ đã có sự hiểu biết khách hàng khá kỹ về nhau và
tin tưởng nhau ở một mức độ nhất định.
Đối với Công ty Vận tải, Xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà việc tăng
cường, củng cố quan hệ với khách hàng truyền thống luôn là mục tiêu, nhiệm vụ
của toàn Công ty trong hiện tại và trong tương lai.
b. Khách hàng mới.
Khách hàng mới là những khách hàng có sự hiểu biết ít về Công ty, về
sản phẩm của Công ty. Do vậy giữa Công ty và khách hàng mới chưa thiết lập
được mối quan hệ bền vững.
Khi nghiên cứu sự ảnh hưởng của nhân tố khách hàng đến sự phát triển thị
trường, Công ty cần phải xem xét trên các khía cạnh sau :
- Thu nhập của khách hàng.
- Giá cả hàng hoá có liên quan.
- Giá cả của hàng hoá mà Công ty đã, đang và sẽ sản xuất, tiêu thụ.
- Thị hiếu của người tiêu dùng.
- Kỳ vọng của người tiêu dùng.
Sản phẩm của Công ty Vận tải, Xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà
thuộc vào loại các sản phẩm thiết yếu phục vụ đời sống sinh hoạt của con người,
hơn nữa giá thành sản phẩm lại không cao nên phù hợp với người có thu nhập
trung bình, do đó thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty ở các tỉnh chiếm tỷ
trọng hàng hoá tiêu thụ lớn. Do các sản phẩm của Công ty đều là các mặt hàng
thông dụng cho nên thị hiếu người tiêu dùng trên thị trường là thường xuyên thay
đổi, và xu hướng chung là khách hàng đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng, mẫu
mã và sự đa dạng của các sản phẩm trên thị trường.
Hiện nay, thị trường của Công ty bao gồm các tỉnh miền Bắc và một số tỉnh ở
miền Trung, do đó Công ty có cơ cấu khách hàng đa dạng xét theo khía cạnh địa
bàn phân phối và quy mô các khách hàng
BẢNG 4 : CƠ CẤU KHÁCH HÀNG CỦA CÔNG TY

Các tiêu chí phân loại Lượng sản phẩm tiêu thụ
Sữa đậu nành Gạo các loại Bia hơi
Tuyệt
đối
(1000lít)
Tươn
g đối
(%)
Tuyệt
đối
( Tấn )
Tương
đối
(%)
Tuyệt
đối
(1000lít)
Tương
đối (%)
I. phân bố của khách hàng trên
thị trường
1.Thị trường Hà Nội
2. Thị trường các tỉnh
91
169
35
65
17.940
21.060
46

54
214,4
105,6
67
33
II. Theo quy mô khách hàng
1. Các đại lý tiêu thụ
2. Các điểm bán lẻ sản phẩm
3. Các cách tiêu thụ khác
(mua trực tiếp tại Công ty,
122,2
98,8
39
47
38
15
21.840
9.360
7.800
56
24
20
84,6
201,6
32
27
63
10
hàng đổi hàng... )
(Nguồn: báo cáo về tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty trong năm 2002 )

Do sự đa dạng về quy mô khách hàng cho nên thói quen mua sắm của từng
loại khách hàng của Công ty là không tương tự nhau. Đối với các đại lý, họ mua
hàng hoá của Công ty thông qua các Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, đây là lượng
khách hàng thường xuyên và mua hàng của Công ty với khối lượng lớn, do vậy các
sản phẩm của Công ty được tiêu thụ chủ yếu thông qua lực lượng khách hàng này.
Đối với các điểm bán lẻ sản phẩm, hàng hoá của Công ty được tiêu thụ theo các
Hợp đồng mua bán giữa Công ty và điểm bán lẻ, đây là những khách hàng có
lượng sản phẩm được tiêu thụ tiêu thụ ở mức trung bình, song khoảng thời gian
giữa các lần mua hàng của các điểm bán lẻ là không đều do họ phải phụ thuộc vào
mức độ chấp nhận của khách hàng tại địa điểm bán hàng và tốc độ hàng hoá của
Công ty được tiêu thụ.
Nhìn chung, đối với lực lượng người tiêu dùng trên thị trường do các sản
phẩm bia hơi và sữa đậu nành của Công ty là các sản phẩm nước giải khát, nước
uống bổ dưỡng cho người cho nên người tiêu dùng có thể sử dụng hàng ngày;
người tiêu dùng đối với những sản phẩm trên thường xuyên mua sản phẩm, tuy vậy
mua với số lượng sản phẩm nhỏ. Trái lại các cơ quan tổ chức lại thường mua với
khối lượng sản phẩm lớn, song mua không thường xuyên và thời gian mỗi lần mua
sản phẩm không đều và dài hơn so với cá nhân người tiêu dùng.
Các đặc điểm về khách hàng, thói quen mua sắm của khách hàng nêu trên đã
trực tiếp ảnh hưởng tới việc thiết lập các kênh phân phối sản phẩm, vận chuyển
hàng hoá và ký kết các Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với các điểm bán lẻ và các đại
lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng khi mua các sản phẩm của
Công ty.
2. Phân tích và dự báo nội bộ Công ty

×