Tải bản đầy đủ (.docx) (30 trang)

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KIỂM TOÁN CHU TRÌNH BÁN HÀNG THU TIỀN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (230.81 KB, 30 trang )


CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KIỂM TOÁN CHU TRÌNH BÁN HÀNG THU
TIỀN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
I. CHU TRÌNH BÁN HÀNG - THU TIỀN TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH CỦA DOANH NGHIỆP.
1. Đặc điểm của chu trình bán hàng - thu tiền.
Trong doanh nghiệp sản xuất, để tồn tại và duy trì các hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình thì quá trình kinh doanh của doanh nghiệp phải nối tiếp liên tục và
lặp đi lặp lại tạo thành những chu kỳ sản xuất. Thực tế chu kỳ sản xuất bao gồm
các chuỗi nghiệp vụ có liên quan chặt chẽ với nhau toạ thành chu kỳ nghiệp vụ cơ
bản. chu kỳ kinh doanh tại một doanh nghiệp thường bắt đầu từ khi doanh nghiệp
tạo vốn có thể bằng vốn tự có hoặc nguồn vốn vay mượn để phục vụ cho sản xuất,
kết thúc giai đoạn sản xuất thì công đoạn cuối cùng của chu kỳ kinh doanh là việc
tiêu thụ sản phẩm đồng thời là quá trình thu tiền từ hoạt động bán hàng để thu hồi
lại vốn kinh doanh. Chu trình hoạt động bán hàng - thu tiền chấm dứt một quá trình
kinh doanh để bắt đầu quá trình kinh doanh tiếp theo . Như vậy, quá trình kinh
doanh bao gồm các chu kỳ diễn ra liên tục, đều đặn và mỗi chu kỳ đều là mắt xích
quan trọng không thể thiếu được. Trong đó kết quả của chu trình bán hàng - thu
tiền không chỉ phản ánh riêng kết quả của chu trình mà còn phản ánh toàn bộ kết
quả quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Bán hàng và thu tiền là quá trình chuyển đổi quyền sở hữu của hàng hoá qua
quá trình trao đổi hàng tiền. Với ý nghĩa như vậy, quá trình này bắt đầu từ yêu cầu
mua của khách hàng và kết thúc bằng việc chuyển đổi hàng hoá thành tiền. Trong
trường hợp này, hàng hoá và tiền tệ được xác định theo bản chất kinh tế của chúng.
Hàng hoá là những tài sản hay dịch vụ chứa đựng giá trị và có thể bán được : tiền
tệ là phương tiện thanh toán nhờ đó mọi người quan hệ giao dịch được giải quyết
tức thời. Tuy nhiên ranh giới của bán hàng - thu tiền được thể chế hoá trong từng
thời kỳ và từng đối tượng cụ thể khác nhau.
Theo chế độ kế toán hiện hành của Việt Nam, quá trình tiêu thụ được thực
hiện khi hàng hoá, dịch vụ đã được chuyển giao cho người mua và người mua trả
tiền hoặc chấp nhận thanh toán. về bản chất, bán hàng - thu tiền là quá trình thực


hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đồng thời tạo vốn để
tái sản xuất mở rông. Thực hiện tốt quá trình nay, doanh nghiệp mới có thể thu hồi
vốn và có lãi -một nguồn thu quan trọng để tích luỹ và ngân sách và các quỹ của
doanh nghiệp nhằm mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao đời sống người lao
động.
Dưới góc độ kiểm toán, chu trình bán hàng - thu tiền liên quan đến nhiều chỉ
tiêu trong bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh. Đây là những chỉ
tiêu cơ bản mà những người quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
dùng để phân tích khả năng thanh toán, hiệu quả kinh doanh , triển vọng phát triển
cũng như rủi ro tiềm tàng trong tương lai, vì thế các chỉ tiêu này thường bị phản
ánh sai lệch. Để có thể có được những hiểu biết sâu sắc về chu trình thì trước hết
phải nắm được các đặc điểm của chu trình.
Các đặc điểm của chu trình bán hàng - thu tiền gồm có :
- Mật độ phát sinh của các nghiệp vụ là tương đối lớn.
- Có liên quan đến các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp.
- Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quy luật cung - cầu.
- Các chỉ tiêu dễ bị phản ánh sai lệch.
- Các quan hệ thanh toán trong mua bán rất phức tạp, chiếm dụng vốn của
nhau công nợ dây dưa khó đòi. Tuy nhiên, việc lập dự phòng khó đòi lại mang tính
chủ quan và thường dựa vào ước đoán của ban giám đốc nên rất khó kiểm tra và
thường bị lợi dụng để ghi tăng chi phí.
- Rủi ro đối với các khoản mục trong chu kỳ xảy ra theo nhiều chiều hướng
khác nhau có thể ghi tăng , ghi giảm hoặc vừa ghi tăng vừa ghi giảm theo ý đồ của
doanh nghiệp hoặc một số cá nhân. Vì thế việc kiểm toán chu trình bán hàng - thu
tiền tương đối tốn kém và mất thời gian. Với chức năng xác minh và các thông tin
về chu trình nói riêng thì kiểm toan viên không thể không xem xét những đặc điểm
của chu trình và ảnh hưởng của nó tới phương pháp kiểm toán.
2. Chức năng của chu trình bán hàng - thu tiền.
Để thực hiện tốt chu trình bán hàng - thu tiền , trong doanh nghiệp có các bộ
phận chức năng khác nhau thực hiện các công việc khác nhau. Quá trình được bắt

đầu từ việc phát sinh nhu cầu mua hàng từ giá khách hàng đến khâu tiếp theo như
việc phê chuẩn các phương thức bán hàng , cách thức thanh toán và việc tiêu thụ
hàng hoá sản phẩm. Thông thường chu trình bán hàng - thu tiền thực hiện các chức
năng cơ bản sau:
Xử lý đơn đặt hàng của khách hàng: khi nhận được đơn đặt hàng của khách
hàng gửi đến thì doanh nghiệp phải thực xem xét có nhất trí việc cung cấp hàng
hoá, dịch vụ cho khách hàng không. Việc chấp nhận hay không là tuỳ thuộc vào
nhu cầu hàng hoá của khách hàng và khả năng cung cấp của doanh nghiệp và các
yếu tố khác như giá cả, phương thức thanh toán.
Xét duyệt bán chịu : Đối với phương thức bán chịu cho khách, hàng sẽ được
chuyển đi sau khi có sự phê chuẩn của người có thẩm quyền trong doanh nghiệp .
Việc phê chuẩn phương thức bán chịu được thực hiện tốt sẽ giúp cho doanh
nghiệp quản lý tốt các khoản nợ phải thu.
Chuyển giao hàng : Khi hàng hoá được chuyển đi thì chứng từ vận chuyển sẽ
được lập, đấy là điều cần thiết cho việc tính tiền đúng số hàng chuyển giao.
Gửi hoá đơn cho khách hàng và ghi rõ nghiệp vụ bán hàng: Hoá đơn phải
được lập ngay sau khi giao hàng, hoá đơn là phương thức chỉ rõ cho khách hàng số
Nhu cầu bán hàng
Lưu trữ
Bộ phận cung ứng Thủ trưởng, KTT Bộ phận quản lý hàng Kế toán thanh toán
Lập chứng từ bán hàng Ký duyệt hoá đơn Giao nhận hàngGhi sổ và theo dõi thanh toán
Nhu cầu giao hàng
Lưu trữ
Bộ phận kinh doanh KTT Thủ quỹ Bộ phận cung cấp
Lập hoạt động C2 d vụ Ký duyệt hoá đơn Thu tiền Cung cấp dịch vụ
Kế toán bán hàng
Ghi sổ doanh thu
tiền và thời hạn thanh toán đồng thời là căn cứ ghi sổ nhật ký bán hàng và theo dõi
các khoản phải thu.
Xử lý và ghi số các khoản thu tiền : Sau khi thực hiện các chức năng về bán

hàng cùng ghi sổ kế toán các khoản này cần phải thực hiện các chức năng thu tiền
cả trong điều kiện bình thường và không bình thường. Trong mọi trường hợp đều
cần xử lý và ghi sổ các khoản thông thường về thu tiền bán hàng.
Xử lý và ghi sổ các khoản hàng bán bị trả lại và bớt giá : Tất cả các khoản này
phải trả được phê chuẩn đúng đắn bởi những người có trách nhiệm và phải được
ghi số kế toán một cachs chính xác và nhanh chóng.
Dự phòng nợ khó đòi và xoá sổ các khoản phải thu không thu hồi được: Trước
khi khoá sổ các tài khoản và chuẩn bị lập BCTC phải tiến hành đánh giá phí tồn
kho cho các khoản phải thu không có khả năng thu hồi được qua đó tiến hành lập
dự phòng cho các khoản đó. Còn những khoản không thể thu hồi được thì phải xoá
sổ kế toán cho các khoản này.
3. Tổ chức kế toán bán hàng - thu tiền
Bán hàng - thu tiền là một giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Là
giai đoạn thứ hai sau quá trình mua hàng và thanh toán đối với doanh nghiệp
thương mại và là giai đoạn tiếp theo giai đoạn sản xuất đối vơi các doanh nghiệp
sản xuất. Do vậy, cũng giống như các giai đoạn khác, tổ chức kế toán bán hàng -
thu tiền gồm các nội dung sau :
(1) Tổ chức chứng từ kế toán : Đó là quá trình thiết kế khối lượng chứng từ và
quy trình hạch toán trên chứng từ theo chỉ tiêu hạch tán và đơn vị hạch toán cơ sở.
Tổ chức chứng từ kế toán cho chu trình bán hàng - thu tiền được chia làm hai
trường hợp :
Trường hợp 1 : Hàng hoá bán ra là sản phẩm vật chất
* Trường hợp 2 : Hàng hoá bán ra là sản phẩm phi vật chất
(2) Các tài khoản sử dụng
Bộ tài khoản đó bao gồm các tài khoản sau :
TK511 : Doanh thu bán hàng
TK512 : Doanh thu bán hàng nội bộ
TK531 : Hàng bán bị trả lại
TK532 : Giảm giá hàng bán
TK131 : Phải thu khách hàng

TK3387 : Doanh thu nhận trước
TK139 : Dự phòng phải thu khó đòi
TK641 : Chi phí bán hàng
TK642 : Chi phí quản lý doanh nghiệp
TK3331 : Thuế VAT đầu ra
TK111 : Tiền mặt tại quỹ
TK112 : Tiền gửi ngân hàng
TK004 : Nợ khó đòi đã xử lý
(3) Hệ thống sổ sách sử dụng
Trong trường hợp doanh nghiệp áp dụng hình thức sổ nhật ký chung thì hệ
thống sổ sách gồm có
- Sổ nhật ký chung
- Sổ nhật ký thu tiền
- Sổ các khoản phải thu
- Sổ chi tiết khách hàng nợ
- Sổ chi tiết doanh thu bán hàng
(4) Quy trình hạch toán kế toán chu trình bán hàng -thu tiền
TK333 TK511,512 TK111,112,131
Thuế XK, tiêu thụ Doanh thu áp dụng phương pháp
tính thuế VAT trực tiếp
(tổng giá thanh toán)
Đvị áp dụng pp
VAT khấu trừ
TK3331
VAT đầu ra
TK531,532
TK3387
Dthu hàng bán Cuối kỳ K/c Doanh thu Doanh thu ghi
bị trả lại DT Dthu hàng bán Kỳ này nhận trước
giảm giá bị trả lại hoặc

giảm giá phát sinh
trong kỳ
TK131,136 TK642
Doanh thu chưa Xoá nợ phải thu
TK911 thu tiền khó đòi
Dthu
bán
hàng
phát
sinh
4. Hệ thống kiểm toán nội bộ với chu trình bán hàng - Thu tiền
Trong mỗi doanh nghiệp, hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ là khác
nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm và quy mô của doanh nghiệp đó. Với mục đích
chung của các doanh nghiệp khi tổ chức, xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm
để phục vụ cho công tác kiểm toán kiểm soát và qua đó có thể cung cấp những
nguồn thông tin nhanh chóng và đáng tin cậy, giúp cho các nhà quản lý có thể chỉ
đạo tốt hoạt động của đơn vị mình đem lại thành công trong công việc.
Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách, các thủ tục kiểm soát
do đơn vị lập nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đề ra của đơn vị.
- Bảo vệ tài sản của đơn vị
- Bảo đảm độ tin cậy các thông tin
- Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý
- Bảo đảm hiệu quả hoạt động và năng lực quản lý
Hệ thống kiểm soát nội bộ có vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động của
Công ty. Cũng như vậy đối với chu trình bán hàng và thu tiền, hệ thống kiểm soát
nội bộ giúp cho việc đềiu hành giám sát và hoàn thiện các hoạt động của chu trình.
Hệ thống kiểm soát nội bộ gồm 4 yếu tố cấu thành chính :
- Môi trường kiểm soát
- Hệ thống kế toán
- Các thủ tục kiểm soát

- Kiểm toán nội bộ
Chính vì vậy, việc xây dựng và điều hành tốt hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ
giúp cho nhà lãnh đạo thành công trong việc điều hành các hoạt động của đơn vị
mình.
II. KIỂM TOÁN CHU TRÌNH BÁN HÀNG - THU TIỀN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO
TÀI CHÍNH
1.Mục tiêu kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền :
Trong việc thực hiện kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền của kiểm toán
báo cáo tai chính phải xác định rõ phạm vi công việc và mục tiêu của cuộc kiểm
toán. Với chu trình bán hàng - thu tiền cũng vậy, phải xác định rõ mục tiêu và
phạm vi công việc để làm cơ sở cho việc thu thập bằng chứng kiểm toán để làm cơ
sở đưa ra ý kiến của mình về báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo
chuẩn mực kiểm toán số 200 thì “mục tiêu kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho
kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận nhận rằng báo cáo tài
chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được
chấp nhạan có tuân thủ pháp luật và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía
cạnh trọng yếu hay không ?
Các mục tiêu của kiểm toán có mối quan hệ với những xác nhận của ban quản
trị. Do đó, để thực hiện tốt cuộc kiểm toán cần phải hiểu được những xác nhận đó.
Năm loại xác nhận của kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền gồm :
- Xác nhận về sự hiện hữu : Doanh thu trên báo cáo tài chính phản ánh quá
trình trao đổi về hàng hoá và dịch vụ thực tế đã xảy ra các khoản phải thu trong
bảng cân đối là có thực vào ngày lập các cân đối kế toán.
- Xác nhận về tính đầy đủ : Tất cả doanh thu về dịch vụ, hàng hoá, các khoản
thu và đã thu đều được ghi sổ và đưa vào báo cáo tài chính.
- Xác nhận về quyền sở hữu : Hàng hoá và các khoản phải thu của doanh
nghiệp vào ngày lập bảng cân đối tài sản đều thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp.
- Xác nhận về sự đánh giá và phân loại : Các khoản phải thu khoản doanh thu
được phân loại đúng bản chất và được tính đúng đắn.

- Xác nhận về sự trình bày : Doanh thu và các khoản phải thu được trình bày
trung thực và đúng đắn trên bảng cân đối tài sản hay trên báo cáo tài chính theo
đúng hệ thống kế toán của doanh nghiệp và theo các quy định kế toán hiện hành.
Bên cạnh các xác nhận của ban quản trị của doanh nghiệp thì các mục tiêu
chung và mục tiêu đặc thù của kiểm toán cần phải được xem xét.
Mục tiêu chung gồm:
- Mục tiêu hợp lý chung : Mục tiêu này giúp kiểm toán viên đánh giá số liệu
trên các số dư trên tài khoản phải thu khách hàng… có hợp lý hay không xét theo
tất cả các thông tin mà kiểm toán viên có được về công việc kinh doanh khách
hàng.
- Các mục tiêu chung khác bao gồm :
+ Có căn cứ hợp lý : Số tiền ghi sổ và ghi trên báo cáo tài chính thực sự là số
tiền phát sinh trong quá trình xảy ra nghiệp vụ bán hàng và các nghiệp vụ có liên
quan.
+ Tính đầy đủ : Tất cả các nghiệp vụ phát sinh đều được ghi sổ
+ Quyền sở hữu : Số tiền hoặc tài sản được ghi thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp tại ngày lập báo cáo tài chính.
+ Sự đánh giá : Tiền và tài sản của doanh nghiệp phải được đánh giá đúng đắn
phù hợp với giá trị hiện tại trên thị trường và được ghi trên hoá đơn và trên sổ sách
chính xác hợp lý theo từng kỳ.
+ Sự phân loại : Số tiền được ghi trên sổ phải được phản ánh đúng đắn ghi
đúng nội dung tài khoản và các tài khoản phải được trình bày đúng đắn trên báo
cáo tài chính.
+ Ghi chép đúng kỳ: Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được ghi chép đúng
thời gian phát sinh nghiệp vụ, tránh mọi hiện tượng báo cáo thừa hoặc thiếu.
Mục tiêu đặc thù của chu trình bán hàng -thu tiền bao gồm :
+ Có căn cứ hợp lý: Doanh thu tiền mặt và các khoản phải thu đều phải hiện
hữu vào ngày lập báo cáo tài chính.
- Tính đầy đủ : Các khoản doanh thu và các khoản phải thu hiện có được tính
và ghi vào tài khoản có liên quan.

+ Quyền sở hữu : Doanh nghiệp có quyền sở hữu đối với các khoản doanh
thu, thu nhập khác và các khoản phải thu phát sinh trong kỳ.
+ Sự đánh giá: Tính giữa đơn giá và số lượng hàng hoá phải được tính đúng
và số liệu trên các sổ chi tiết phải được cộng dồn chính xác.
+ Chính sách chiết khấu phù hợp : Doanh thu và các khoản phải thu thực tế
phát sinh phù hợp với các chính sách chiết khấu của đơn vị đề ra.
+ Sự phân loại : Doanh thu phải được phân loại đúng đắn thành các loại
doanh thu bán ra và doanh thu nội bộ, doanh thu hàng bán bị trả lại doanh thu nhận
trước. Các khoản phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác…
+ Tính đúng kỳ : Doanh thu và các khoản phải thu được ghi chép đúng kỳ,
không có hiện tượng ghi giảm doanh thu và ghi tăng các khoản phải thu và ngược
lại.
+ Trình bày và thể hiện : Doanh thu tiền mặt và các khoản phải thu được trình
bày chính xác và hợp lý trên các báo cáo tài chính theo đúng chế độ.
2. Quy trình kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền trong kiểm toán báo
cáo tài chính
Sau khi kiểm toán viên đã hoàn thành việc xác định các mục tiêu kiểm toán
đặc thù cho chu trình bán hàng thu tiền, yếu tố cấu thành của báo cáo tài chính thì
kiểm toán viên bắt đầu các giai đoạn kiểm toán cụ thể. Do chu trình bán hàng - thu
tiền có những khoản mục là yếu tố cấu thành báo cáo tài chính nên khi tiến hành
kiểm toán cũng phải tuân thủ theo quy trình kiểm toán chung của một cuộc kiểm
toán để đảm bảo tính thống nhất.
Quy trình kiểm toán là một hệ thống phương pháp rõ ràng của tổ chức một
cuộc kiểm toán nhằm giúp cho kiểm toán viên hoàn thành công việc của mình theo
đúng các mục tiêu đề ra.
Quy trình kiểm toán gồm 3 giai đoạn :
Giai đoạn 1
Giai đoạn 3Giai đoạn 2
Hoàn tất công tác kiểm toán và công bố
báo cáo kiểm toán

Thực hiện kiểm toán chu trình bán hàng -
thu tiền
Lập kế hoạch thiết kế phương pháp kiểm
toán của chu trình bán hàng - thu tiền

Giai đoạn 1: Lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế phương pháp kiểm toán
(1) Lập kế hoạch kiểm toán : Kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền là một
chu trình của kiểm toán tài chính. Vì vậy, nhiệm vụ chung của kiểm toán chu trình
là triển khai các chức năng kiểm toán thông qua việc vận dụng các phương pháp
kiểm toán thích hợp với đặc thù của phần hành này thông qua các bước trong quy
trình kiểm toán. Để cso kế hoạch kiểm toán cụ thể cho một khách hàng nói chung
và kế hoạch kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền nói riêng, kiểm toán viên
thường thực hiện các bước sau :
Bước 1 : Chuẩn bị kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền:
Trong bước này phải thực hiện các công việc sau:
- Thứ nhất, phải xác định mục tiêu và phạm vi kiểm toán. Mục tiêu và phạm
vi kiểm toán cần phải xác định cụ thể đối với từng mục kiểm toán . Mục tiêu kiểm
toán là cái đích cần đạt tới đồng thời là thước đo kết quả kiểm toán cho mỗi chu
trình kiểm toán cụ thể. Mục tiêu chung phải gắn với mục tiêu riêng yêu cầu của
quản lý. Do vậy, mục tiêu của kiểm toán phải tuỳ thuộc vào quan hệ giữa chủ thể
và khách thể kiểm toán, tuỳ thuộc vào loại hình cụ thể. Phạm vi kiểm toán là sự
giới hạn về không gian và thời gian của đối tượng kiểm toán, thường được xác
định đồng thời với mục tiêu kiểm toán và là một hướng cụ thể xác định mục tiêu
này với một khách thể kiểm toán cần xác định rõ đối tượng cụ thể của kiểm toán :
Bảng cân đối tài sản hay toàn bộ các bảng khai tài chính…
- Thứ hai, chỉ định người phụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị các điều
kiện vật chất cơ bản. Để thực hiện tốt và có hiệu quả cuộc kiểm toán báo cáo tài
chính thì lãnh đạo công ty kiểm toán cần bố trí đội ngũ nhân viên có trình độ nghề
nghiệp tuỳ thuộc vào nhu cầu của cuộc kiểm toán, hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của
cuộc kiểm toán đó.

- Thứ ba, lập hợp đồng kiểm toán. Sau khi thực hiện xong các bước công việc
trên thì Công ty kiểm toán và khách hàng sẽ lập hợp đồng kiểm toán. Hợp đồng
kiểm toán là tài liệu nêu rõ trách nhiệm của Công ty kiểm toán, trách nhiệm của
Công ty khách hàng, thời gian tiến hành cuộc kiểm toán , giá phí kiểm toán hay
phạm vi cuộc kiểm toán.
- Thứ tư, thu thập những thông tin phục vụ cho việc kiểm toán: Để thực hiện
tốt công việc kiểm toán nói chung và kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền nói
riêng thì kiểm toán viên cần phải có những hiểu biết về công việc kinh doanh của
khách hàng và kiến thức về lĩnh vực kinh doanh của Công ty khách hàng. Khi tiến
hành kiểm toán có rất nhiều cách khác nhau để thu thập thông tin cơ sở. Thông
thường thông tin cơ sở được thu thập dưới các hình thức sau :
 Qua tìm hiểu về doanh nghiệp: kiểm toán viên tiến hành tìm hiểu về doanh
nghiệp để thu thập những thông tin về cơ cấu tổ chức, loại hình kinh doanh hat
phương pháp kế toán áp dụng tại doanh nghiệp.
 Qua tham quan nhà xưởng: Tất cả những thông tin thu thập được qua tìm hiểu
doanh nghiệp chủ yếu trên giấy tờ, tài liệu ở văn phòng của Công ty. Do đó, tham
quan nhà xưởng sẽ giúp cho kiểm toán viên có cách nhìn thực tế hơn về các
phương tiện vật chất, giúp cho việc hiểu biết được công tác bảo vệ tài sản và giúp
cho việc thuyết minh số liệu kế toán bằng cách đưa ra một khung tham gia qua đó
hình dung ra những tài sản này như: sản phẩm đang chế tạo và máy móc thiết bị,
phân xưởng để chế tạo ra hàng hoá .
 Xem xét qua các chính sách của Công ty: Nhiều chính sách của Công ty được
phản ánh trên báo cáo tài chính là một phần của cơ cấu kiểm soát nội bộ.
 Qua phỏng vấn : Kiểm toán viên có thể thu được những thông tin cơ sở qua việc
phỏng vấn trong nôi bộ Công ty hoặc bên ngoài.
Thu thập những thông tin về trách nhiệm pháp lý của khách hàng để làm cơ
sở phục vụ cho kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền.

×