Tải bản đầy đủ (.docx) (57 trang)

Lý luận chung về kế toán thành phẩm,tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quảtiêu thụ trong doanh Nghiệp sản xuất

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (254.13 KB, 57 trang )

Lý luận chung về kế toán thành phẩm,tiêu thụ
thành phẩm và xác định kết quảtiêu thụ
trong doanh Nghiệp sản xuất
I. ý nghĩa và sự cần thiết của kế toán thành phẩm, tiêu thụ
thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ trong doanh
nghiệp sản xuất.
1. Thành phẩm và yêu cầu quản lý thành phẩm.
Theo quy luật tái sản xuất quá trình hoạt động trong doanh nghiệp sản
xuất bao gồm: cung ứng, sản xuất, tiêu thụ, các giai đoạn này diễn ra một cách
thờng xuyên liên tục. Sản phẩm của giai đoạn sản xuất đó chính là thành phẩm
và nửa thành phẩm, trong đó thành phẩm chiếm đại bộ phận. Thành phẩm trong
doanh nghiệp là những sản phẩm đợc gia công chế biến xong ở bớc công nghệ
cuối cùng của quy trình công nghệ sản xuất, sản phẩm đợc kiểm tra kỹ thuật
đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật quy định, đợc nhập kho hoặc tiêu thụ ngay.
Còn nửa thành phẩm là những sản phẩm mới kết thúc một hoặc một số công
đoạn trong quy trình công nghệ sản xuất (trừ công đoạn cuối cùng) đợc nhập
kho hoặc chuyển giao để tiếp tục chế biến hoặc có thể bán ra ngoài. Khi đó nó
cũng có ý nghĩa nh thành phẩm. Vì vậy khái niệm giữa nửa thành phẩm và
thành phẩm là những khái niệm chỉ xét trong phạm vi một doanh nghiệp bởi
thành phẩm của doanh nghiệp này có thể là nửa thành phẩm của doanh nghiệp
khác và ngợc lại. Do đó việc xác định đúng đắn thành phẩm trong từng doanh
nghiệp là vấn đề hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Nó phản ánh toàn
bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp về quy mô, trình độ
tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý.
Bất kỳ loại thành phẩm nào cũng biểu hiện trên hai mặt: số lợng và chất
lựơng. Mặt số lợng phản ánh quy mô, thành phần mà đơn vị tạo ra nó và đợc đo
bằng đơn vị kg, mét...Chất lợng của thành phẩm phản ánh giá trị sử dụng của
thành phẩm và đợc xác định bằng tỷ lệ tốt, xấu hoặc phẩm cấp của sản phẩm. Đây
là hai mặt độc lập của một thể thống nhất và có quan hệ biện chứng với nhau. Đó
là nguyên nhân giải thích tại sao khi nghiên cứu, quản lý và hạch toán thành phẩm
ta luôn phải đề cập tới hai mặt này.


Quản lý chặt chẽ thành phẩm là việc làm cần thiết bởi ý nghĩa quan trọng
của thành phẩm đối với nền kinh tế nói chung và bản thân doanh nghiệp nói riêng.
Thành phẩm là thành quả lao động sáng tạo của toàn bộ công nhân viên trong
doanh nghiệp, mọi tổn thất của thành phẩm đều ảnh hởng đến thu nhập của đơn
vị nói riêng và của toàn xã hội nói chung. Hơn nữa khi sự phân công lao động
ngày càng phát triển thì các ngành sản xuất, các đơn vị có liên quan chặt chẽ, bổ
xung hỗ trợ cho nhau, thành phẩm của đơn vị này, ngành này lại là điều kiện sản
xuất, là nguyên liệu cho đơn vị khác. Việc hoàn thành và hoàn thành vợt mức kế
hoạch sản xuất thành phẩm của đơn vị cả về số lợng, chất lợng, thời gian sẽ ảnh h-
ởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị khác, đến việc đảm
bảo đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của xã hội.
Để quản lý về số lợng thành phẩm đòi hỏi phải thờng xuyên phản ánh, giám
đốc tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất, tình hình nhập, xuất, tồn kho thành
phẩm. Về mặt chất lợng phải làm tốt công tác kiểm tra, phân cấp và có chế độ bảo
quản riêng đối với từng loại quý hiếm, dễ hỏng hóc, kịp thời phát hiện các mặt
hàng kém phẩm chất để có biện pháp xử lý thích hợp. Phải thờng xuyên cải tiến
mẫu mã sản phẩm, không ngừng nâng cao chất lợng kích thích nhu cầu tiêu dùng
của xã hội tránh tình trạng ứ đọng sản phẩm vì hàng kém phẩm chất, lỗi thời, lạc
mốt.
2. Tiêu thụ và yêu cầu của việc tiêu thụ thành phẩm.
Sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra muốn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
của xã hội phải thông qua khâu tiêu thụ. Do đó các doanh nghiệp không những có
nhiệm vụ sản xuất sản phẩm mà còn có nhiệm vụ tổ chức tiêu thụ sản phẩm đó.
Trong nền kinh tế thị trờng, công tác tiêu thụ thành phẩm và tổ chức tiêu
thụ thành phẩm đã đợc nâng lên thành vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Cơ chế
thị trờng đã tạo ra một nền kinh tế tự do cạnh tranh, giá cả do quan hệ cung cầu
quyết định nên mỗi doanh nghiệp phải tự chủ trong việc tổ chức tiêu thụ thành
phẩm bao gồm các khâu từ nghiên cứu thị trờng, xây dựng chiến lợc, kế hoạch
tiêu thụ, thực hiện nguyên tắc tự chịu trách nhiệm nhằm mục tiêu hoạt động sản
xuất kinh doanh có hiệu quả.

Tiêu thụ thành phẩm là giai đoạn tiếp theo của quá trình sản xuất và là giai
đoạn cuối cùng của vòng tuần hoàn vốn trong doanh nghiệp. Đây chính là quá
trình thực hiện quan hệ trao đổi thông qua các phơng tiện thanh toán để thực hiện
giá trị của sản phẩm, hàng hoá trong đó doanh nghiệp chuyển giao sản phẩm,
hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng, đợc khách hàng trả tiền hoặc chấp nhận trả.
Quá trình tiêu thụ kết thúc khi cả hai điều kiện sau đợc bảo đảm:
- Doanh nghiệp chuyển giao sản phẩm cho ngời mua.
- Đơn vị mua trả tiền hoặc chấp nhận trả.
Điều đó có nghĩa là trong quá trình tiêu thụ phải có sự thoả thuận giữa hai
ngời mua và bán, phải có sự thay đổi quyền sở hữu về sản phẩm và cả hai bên đều
thực hiện quá trình chuyển đổi giữa hàng và tiền.
Qua tiêu thụ, sản phẩm chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ
và kết thúc một vòng luân chuyển vốn. Có tiêu thụ đợc sản phẩm mới có vốn để
tái sản xuất mở rộng, tăng nhanh vòng quay của vốn nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn đồng thời góp phần thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
Trong nền kinh tế thị trờng, điều quan trọng và là sự quan tâm hàng đầu của
các doanh nghiệp là làm thế nào để sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của mình tiêu thụ
trên thị trờng, đợc thị trờng chấp nhận về các phơng diện chất lợng, giá cả, mẫu
mã... Đó là vấn đề sống còn quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các doanh
nghiệp. Sau quá trình tiêu thụ, doanh nghiệp không những bù đắp đợc chi phí liên
quan đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm mà còn thực hiện đợc giá trị thặng d. Đây
là tiền đề quan trọng mở rộng quy mô sản xuất, tăng thu nhập cho doanh nghiệp,
nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên và tăng ngân sách nhà nớc.
Với các doanh nghiệp bạn có quan hệ sản xuất trực tiếp với doanh nghiệp,
việc cung cấp sản phẩm kịp thời, đúng hạn, đúng quy cách phẩm chất, đúng yêu
cầu số lợng sẽ giúp doanh nghiệp hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất đề ra trên cơ
sở đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Nh vậy, xét trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thực hiện tốt khâu tiêu thụ
thành phẩm là cơ sở cho sự cân đối giữa sản phẩm và tiêu dùng, tiền và hàng đồng
thời cũng đảm bảo sự cân đối sản xuất trong từng ngành. Mặt khác, trong điều

kiện hiện nay khi quan hệ kinh tế đối ngoại đang phát triển mạnh mẽ thì việc tiêu
thụ thành phẩm của mỗi doanh nghiệp có thể tạo nên uy tín của đất nớc trên thị tr-
ờng quốc tế, góp phần tạo nên sự cân đối của cán cân thanh toán quốc tế.
Chính vì tiêu thụ có ý nghĩa quan trọng nh vậy nên đòi hỏi doanh nghiệp
phải quản lý chặt chẽ quá trình này, cụ thể:
-Quản lý quá trình tiêu thụ là quản lý về kế hoạch và mức độ hoàn thành kế
hoạch tiêu thụ cả về số lợng, chất lợng, giá trị sản phẩm... trong quá trình vận
động từ khâu xuất bán cho đến khi thu đợc tiền bán hàng. Công tác quản lý đòi
hỏi phải thờng xuyên theo dõi, chỉ đạo quá trình bán hàng theo kế hoạch đã định,
kịp thời phát hiện những biến động của thị trờng để điều chỉnh kinh doanh sao cho
mang lại hiệu quả cao nhất.
- Quản lý về giá cả từ khâu xây dựng giá đến khâu thực hiện giá, doanh
nghiệp phải xây dựng một biểu giá hợp lý cho từng mặt hàng, từng phơng thức
bán hàng, từng địa điểm kinh doanh.
-Theo dõi chặt chẽ từng phơng thức bán hàng, từng thể thức thanh toán,
từng khách hàng, đôn đốc thanh toán, thu hồi đầy đủ và kịp thời tiền vốn, tính
toán xác định đúng kết quả tiêu thụ của từng loại thành phẩm.
Thực tế ở nớc ta hiện nay, các doanh nghiệp không những phải cạnh tranh
với các sản phẩm trong nớc mà cả với những sản phẩm, hàng hoá của nớc ngoài
nhập về. Thị trờng Việt Nam đã đợc các hãng sản xuất trên thế giới tìm đến và
xâm nhập một cách mạnh mẽ. Do vậy, các doanh nghiệp để tồn tại và phát triển
trong nền kinh tế mở này thì đều phải tìm hiểu khách hàng và nhu cầu của họ, có
biện pháp kích thích họ mua hàng đồng thời phải tìm kiếm những thị trờng có
tiềm năng lớn để tiêu thụ thành phẩm của mình, có khả năng dự báo tình hình thị
trờng trong tơng lai. Có nh vậy các doanh nghiệp mới có thể chiếm lĩnh đợc thị tr-
ờng cũ và xâm nhập, mở rộng thị trờng mới ở trong nớc và nớc ngoài.
3. Xác định kết quả tiêu thụ.
Các doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh đều nhằm đạt đợc mục
tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Quá trình tiêu thụ là một quá trình kinh doanh chủ
yếu của doanh nghiệp, nó trực tiếp mang lại thu nhập cho doanh nghiệp và thoả

mẵn nhu cầu của ngời tiêu dùng. Thu nhập từ tiêu thụ thành phẩm trang trải các
chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để thực hiện tái sản xuất giản đơn
và tái sản xuất mở rộng. Một doanh nghiệp có các kênh tiêu thụ phong phú với
các chính sách khuyến khích việc tiêu thụ thành phẩm, hàng hoá tốt sẽ giúp doanh
nghiệp tiêu thụ đợc nhiều, thu hồi vốn nhanh, tăng nhanh tốc độ vòng quay của
vốn, tiết kiệm vốn lu động, hiện đại hoá sản xuất cả về tốc độ lẫn trình độ kỹ
thuật... từ đó giúp doanh nghiệp dễ dàng thực hiện đợc các mục tiêu tối thiểu hoá
chi phí và tối đa hoá lợi nhuận.
Để biết đợc trong kỳ kinh doanh của mình có đạt đợc các mục tiêu đó
không doanh nghiệp cần phải có những thống kê về các khoản doanh thu, các
khoản chi phí và tính toán kết quả của các hoạt động kinh doanh trong kỳ. Kết
quả của quá trình tiêu thụ đánh giá một cách chính xác hiệu quả của toàn bộ quá
trình sản xuất kinh doanh, có vai trò quyết định đến sự tồn tại, phát triển hay suy
thoái của đơn vị. Dựa vào kết quả tiêu thụ doanh nghiệp có thể phân tích đợc mặt
hàng nào, sản phẩm nào có kết quả cao và xu hớng nh thế nào để từ đó có thể đầu
t mở rộng sản xuất kinh doanh chúng hoặc chuyển hớng sang sản xuất kinh doanh
mặt hàng khác.
Nh vậy xác định kết quả tiêu thụ của doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng
quan trọng. Nó giúp cho chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, các
cơ quan chủ quản, quản lý tài chính, thuế... nắm bắt đợc tình hình sản xuất kinh
doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp để từ đó lựa chọn phơng án kinh
doanh có hiệu quả, giám sát việc chấp hành chính sách, chế độ kinh tế tài chính.
Xuất phát từ vai trò và ý nghĩa của nó, việc xác định kết quả tiêu thụ phải
thực hiện yêu cầu sau:
- Thờng xuyên kiểm tra công việc và tình hình thực hiện hợp đồng bán
hàng, tính toán xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phân tích những nguyên nhân, xác định mức độ ảnh hởng của các nhân tố
đến tình hình biến động lợi nhuận.
-Tổ chức phân tích báo cáo kết quả kinh doanh, t vấn cho chủ doanh nghiệp
và giám đốc lựa chọn phơng án kinh doanh có hiệu quả.

4. Sự cần thiết phải hoàn thiện quá trình hạch toán nghiệp vụ thành phẩm,
tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ trong doanh nghiệp sản
xuất.
Đối với doanh nghiệp, tổ chức tốt công tác kế toán thành phẩm sẽ tạo điều
kiện để sản xuất phát triển, từng bớc hạn chế sự thất thoát của thành phẩm, phát
hiện ra những thành phẩm chậm luân chuyển để có biện pháp xử lý thích hợp,
thúc đẩy quá trình luân chuyển vốn.
Từ số liệu của kế toán thành phẩm và tiêu thụ cung cấp, chủ doanh nghiệp
có thể đánh giá đợc mức độ hoàn thành kế hoạch về sản xuất, giá tiêu thụ và lợi
nhuận. Dựa vào đó, chủ doanh nghiệp có thể đa ra các biện pháp tối u đảm bảo
duy trì sự cân đối thờng xuyên giữa các yếu tố đầu vào-sản xuất- đầu ra. Cũng dựa
vào đó nhà nớc có thể nắm bắt đợc tình hình tài chính, kết quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp từ đó thực hiện chức năng quản lý và kiểm soát vĩ mô
nền kinh tế, đồng thời nhà nớc có thể kiểm soát việc chấp hành luật pháp về kinh
tế tài chính nói chung và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với ngân sách nhà nớc,
nghĩa vụ tài chính với các bên có quan hệ kinh tế nói riêng.
Trong nền kinh tế mở, các doanh nghiệp ngoài mối quan hệ với nhà nớc
còn có thể liên doanh liên kết với đơn vị bạn hoặc các công ty nớc ngoài để thu
hút vốn đầu t, cải tiến quy trình công nghệ... Khi đó kế toán không chỉ là công cụ
điều hành và quản lý sản xuất kinh doanh mà còn là phơng tiện để kiểm tra, giám
sát những ngời chủ sở hữu doanh nghiệp, những ngời có quan hệ kinh tế và lợi ích
với doanh nghiệp nh các nhà đầu t, những ngời cho vay, các bạn hàng... Với
những số liệu của kế toán thành phẩm và tiêu thụ, họ có thể biết đợc khả năng sản
xuất và tiêu thụ các mặt hàng của doanh nghiệp để từ đó ra các quyết định đầu t,
cho vay hoặc có quan hệ làm ăn với doanh nghiệp.
Vì sản xuất là cơ sở của tiêu thụ nên có thể nói rằng kế toán thành phẩm và
tiêu thụ có mối quan hệ mật thiết với nhau và bổ sung cho nhau. Kế toán thành
phẩm có chính xác, đầy đủ và kịp thời, phản ánh rõ tình hình nhập, xuất thì kế
toán tiêu thụ mới phản ánh và giám đốc kịp thời kế hoạch, thực hiện tiêu thụ về số
lợng, doanh thu tiêu thụ, tình hình thanh toán tiền hàng, thanh toán với ngân sách

nhà nớc và xác định đợc chính xác kết quả tiêu thụ. Ngợc lại tổ chức tốt kế toán
tiêu thụ sẽ tạo điều kiện cho kế toán thành phẩm thực hiện tốt nhiệm vụ của
mình. Do vậy hoàn thiện quá trình hạch toán nghiệp vụ thành phẩm, tiêu thụ
thành phẩm và xác định kết quả tiệu thụ là một vấn đề rất cần thiết và có ý nghĩa
quan trọng. Để làm tốt nghiệp vụ này, kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm
cần thực hịên các yêu cầu sau:
-Tổ chức theo dõi, phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời, giám sát chặt chẽ
về tình hình hiện có và sự biến động của từng loại thành phẩm trên cả hai mặt số
lợng và giá trị.
-Theo dõi, phản ánh và giám đốc chặt chẽ quá trình tiêu thụ, ghi chép kịp
thời, đầy đủ chi phí liên quan đến việc bán hàng, thu nhập bán hàng.
- Xác định chính xác kết quả của từng loại hoạt động trong doanh nghiệp,
phản ánh và giám đốc tình hình phân phối kết quả, đôn đốc thực hiện nghĩa vụ với
nhà nớc.
Thực hiện tốt các yêu cầu trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc quản
lý chặt chẽ thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ. Tuy
nhiên để phát huy đợc vai trò và thực hiện tốt các yêu cầu đó đòi hỏi phải tổ chức
kế toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ thật khoa
học hợp lý, đồng thời cán bộ kế toán phải nắm vững nội dung của việc tổ chức
công tác kế toán đó.
II.nội dung Kế toán thành phẩm.
1. Yêu cầu của công tác kế toán thành phẩm:
Thành phẩm của các doanh nghiệp thờng rất đa dạng và phong phú về
chủng loại, mẫu mã, việc tổ chức một cách khoa học công tác kế toán thành phẩm
là việc làm rất cần thiết và không thể thiếu đợc đối với một doanh nghiệp sản
xuất. Để đảm bảo đợc điều đó kế toán cần phải thực hiện các yêu cầu sau:
- Tổ chức kế toán thành phẩm theo từng loại, từng thứ thành phẩm, theo
từng đơn vị sản xuất theo đúng số lợng và chất lợng thành phẩm.Từ đó làm cơ sở
để xác định kết quả kinh doanh của từng đơn vị, từng phân xởng...và có số liệu để
so sánh với các chỉ tiêu kế hoạch.

- Phải có sự phân công và kết hợp trong việc ghi chép thành phẩm giữa
phòng kế toán và nhân viên hạch toán phân xởng, giữa kế toán với thủ kho thành
phẩm đảm bảo cho số liệu kế toán thành phẩm đợc chính xác kịp thời.
- Kế toán nhập, xuất, tồn kho thành phẩm có thể đợc đánh giá tuỳ theo đặc
điểm của từng doanh nghiệp. Thành phẩm trong kho thờng luôn biến động, do đó
cần tổ chức công tác ghi chép ban đầu thật khoa học hợp lý.
2. Tính giá thành phẩm:
Tính giá thành phẩm là biểu hiện bằng tiền của giá trị thành phẩm theo
nguyên tắc nhất định.Trong kế toán có thể sử dụng một trong hai cách đánh giá
thành phẩm:
2.1. Giá thực tế
Thành phẩm nhập kho:
Đối với thành phẩm do các bộ phận sản xuất kinh doanh chính và phụ hoàn
thành nhập kho, giá thành thực tế chính là giá thành công xởng thực tế (bao gồm
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất
chung).
Trờng hợp thành phẩm thuê ngoài gia công, giá thành thực tế bao gồm toàn
bộ các chi phí liên quan đến việc gia công (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi
phí thuê gia công và các chi phí khác: vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt...)
Thành phẩm xuất kho:
Đối với thành phẩm xuất kho tuỳ từng điều kiện cụ thể doanh nghiệp có thể
sử dụng một trong các phơng pháp sau:
2.1.1. Giá đơn vị bình quân
Theo phơng pháp này giá thực tế thành phẩm xuất kho đợc tính theo giá trị
bình quân (bình quân cả kỳ dự trữ, bình quân cuối kỳ trớc hoặc bình quân sau
mỗi lần nhập).
Trị giá thực tế thành Số lợng thành phẩm Giá đơn vị
phẩm xuất kho xuất kho bình quân
Trong đó:
Giá đơn vị bình Trị giá thực tế TP tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ

quân cả kỳ dự trữ Số lợng thực tế TP tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Phơng pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ tuy đơn giản, dễ làm nhng độ
chính xác không cao. Hơn nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng gây ảnh h-
ởng đến công tác quyết toán nói chung.
Giá đơn vị bình Trị giá thực tế TP tồn kho đầu kỳ ( hoặc cuối kỳ trớc)
quân cuối kỳ trớc Số lợng thực tế TP tồn kho đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trớc)
Giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập
=
Trị giá thực tế
TP nhập
Số lợng
nhập
=
x=
=
Trị giá thực tế TP tồn trớc khi nhập
Số lợng TP tồn trớc khi nhập
+
+
Phơng pháp này mặc dầu khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến
động thành phẩm trong kỳ nhng không chính xác vì không tính đến sự biến động
của giá thành phẩm nhập kho.
Phơng pháp giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập khắc phục đợc nhợc
điểm của cả hai phơng pháp trên: vừa chính xác, vừa cập nhật. Nhng nó có nhợc
điểm là tốn nhiều công sức, tính toán nhiều lần thờng chỉ áp dụng ở doanh nghiệp
số lần nhập kho trong tháng ít, số lợng nhập lớn.
2.1.2. Giá thực tế nhập trớc xuất trớc (FIFO).
Theo phơng pháp này doanh nghiệp giả định rằng số thành phẩm nào nhập
trớc thì xuất trớc, xuất hết số nhập trớc mới đến số nhập sau theo giá thành thực tế
của từng số hàng xuất. Nói cách khác, cơ sở của phơng pháp này là giá thực tế

của thành phẩm nhập trớc sẽ đợc dùng làm giá để tính giá thực tế thành phẩm xuất
trớc và do vậy giá trị thành phẩm tồn kho sẽ là giá thực tế của số thành phẩm
nhập vào sau cùng. Phơng pháp này thích hợp trong trờng hợp giá cả ổn định
hoặc có xu hớng giảm.
2.1.3. Giá thực tế nhập sau xuất trớc (LIFO)
Phơng pháp này giả định những thành phẩm nào nhập kho sau cùng sẽ đợc
xuất trớc tiên, ngợc lại với phơng pháp nhập trớc xuất trớc ở trên. Giả thuyết nhập
sau xuất trớc là tính tới thời điểm xuất kho thành phẩm chứ không phải cuối kỳ
hạch toán mới xác định. Phơng pháp nhập sau xuất trớc thích hợp trong trờng hợp
lạm phát.
2.1.4. Giá thực tế đích danh:
Theo phơng pháp này thành phẩm nhập kho theo giá nào thì xuất kho theo
giá đó và không quan tâm đến thời gian nhập xuất. Phơng pháp này thờng sử dụng
đối với những thành phẩm có giá trị cao và có tính tách biệt.
2.1.5.Xác định trị giá thành phẩm tồn cuối kỳ để tính trị giá thành phẩm xuất
trong kỳ.
Giá trị thành phẩm xuất kho
Giá trị thành phẩm tồn đầu kỳ
Giá trị thành phẩm nhập trong kỳ
Giá trị thành phẩm tồn cuối kỳ
=
+
-
ở những doanh nghiệp có thành phẩm cồng kềnh, điều kiện cân, đong, đo,
đếm, nhập, xuất không chính xác, hạch toán thành phẩm theo phơng pháp kiểm kê
định kỳ thì cuối mỗi kỳ hạch toán tiến hành kiểm kê để xác định trị giá thực tế
thành phẩm tồn kho. Căn cứ vào trị giá thành phẩm tồn kho đầu kỳ, cuối kỳ và trị
giá thành phẩm nhập trong kỳ để xác định trị giá thành phẩm xuất trong kỳ:
Phơng pháp này có u điểm là tính toán nhanh chóng, đơn giản nhng lại
không chính xác vì khó phát hiện phần mất mát thiếu hụt.

2.2. Giá hạch toán:
Giá hạch toán là giá do doanh nghiệp quy định, nó có tính chất ổn định và
lâu dài. Giá hạch toán chỉ dùng để ghi sổ kế toán thành phẩm hàng ngày chứ
không có tác dụng giao dịch với bên ngoài, có thể lấy giá kế hoạch hoặc một loại
giá ổn định trong kỳ và nó quy định cụ thể cho từng loại thành phẩm. Mục đích
của việc sử dụng giá hạch toán là nhằm làm đơn giản cho công tác kế toán trong
doanh nghiệp có các nghiệp vụ nhập, xuất kho thành phẩm nhiều, thờng xuyên,
giá thành thực tế biến động lớn.
Theo phơng pháp này thành phẩm nhập kho đợc ghi theo giá hạch toán
và thực tế, thành phẩm xuất kho trong kỳ ghi theo giá hạch toán cuối kỳ tiến
hành điều chỉnh từ giá hạch toán về giá thực tế thông qua hệ số giá thành phẩm.
Hệ số này đợc tính cho từng loại hoặc từng nhóm TP.
Giá hạch toán Số lợng thành phẩm Đơn giá
thành phẩm xuất kho xuất kho hạch toán
Trị giá thực tế thành phẩm xuất trong kỳ
Trị giá hạch toán thành phẩm xuất kho
Hệ số giá
=====
x
Hệ số giá
=
Trị giá thực tế TP tồn đầu kỳ
Trị giá thực
tế TP nhập trong kỳ
Trị giá hạch toán TP nhập trong kỳ
Trị giá hạch toán TP tồn đầu kỳ
+
+
Khi dùng phơng pháp giá hạch toán việc hạch toán chi tiết thành phẩm trên
các chứng từ nhập, xuất, các sổ (thẻ) kế toán chi tiết thành phẩm đợc ghi theo giá

= x
hạch toán, còn việc hạch toán tổng hợp thành phẩm nhất thiết phải ghi theo giá
thực tế.
3. Chứng từ kế toán sử dụng:
Việc nhập và xuất kho thành phẩm diễn ra thờng xuyên liên tục do vậy mà
thành phẩm trong doanh nghiệp luôn luôn biến động. Để quản lý chặt chẽ thành
phẩm, các nghiệp vụ nhập, xuất kho thành phẩm phải đợc lập chứng từ kế toán
một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác theo quy định cụ thể trong chế độ ghi chép
ban đầu. Bởi vì những chứng từ kế toán này là cơ sở pháp lý để tiến hành hạch
toán nhập - xuất kho thành phẩm, là căn cứ để kiểm tra tính chính xác trong quá
trình ghi sổ, đảm bảo ghi chép các nội dung cần thiết. Căn cứ vào nội dung các
nghiệp vụ phát sinh liên quan đến thành phẩm để xác định các chứng từ kế toán
cần sử dụng ở các doanh nghiệp. Hiện nay các doanh nghiệp vận dụng chế độ
chứng từ kế toán theo quyết định 1141 -TC- QĐ- CĐKT ngày 1/11/1995 phải sử
dụng các chứng từ bắt buộc sau:
Phiếu nhập kho: Mẫu số 01 -VT
Phiếu xuất kho: Mẫu số 02-VT
Thẻ kho: Mẫu số 06- VT
Biên bản kiểm kê vật t, sản phẩm, hàng hoá: Mẫu số 08-VT
Ngoài ra tuỳ từng doanh nghiệp có thể có các nghiệp vụ phát sinh riêng nh điều
chuyển thành phẩm nội bộ thì sử dụng thêm" Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội
bộ: Mẫu số 03- VT". Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng thêm một số chứng từ có
tính hớng dẫn nh "Biên bản kiểm nghiệm": Mẫu số 05- VT
4. Hạch toán chi tiết thành phẩm
Hạch toán chi tiết thành phẩm là việc ghi chép kịp thời, chính xác tình hình
biến động nhập, xuất, tồn cả về hiện vật và giá trị cho từng loại thành phẩm.
Hạch toán chi tiết thành phẩm đợc thực hiện ở cả kho và ở phòng kế toán,
thờng là công việc ghi chép tốn nhiều thời gian và công sức. Trong thực tế hiện
nay có ba phơng pháp hạch toán chi tiết thành phẩm sau:
4.1.Phơng pháp thẻ song song:

+ Nguyên tắc:
-ở kho: Thủ kho ghi chép sự biến động nhập, xuất, tồn của thành phẩm về
hiện vật trên thẻ kho.
-ở phòng kế toán: Kế toán thành phẩm ghi chép sự biến động nhập, xuất,
tồn của thành phẩm cả về hiện vật và giá trị trên sổ chi tiết thành phẩm.
+ Trình tự ghi sổ(Sơ đồ số 1)
-ở kho: Căn cứ vào chứng từ phiếu nhập hoặc xuất kho thành phẩm thủ kho
thực hiện nhập và xuất thành phẩm sau đó vào thẻ kho ở cột nhập và xuất tơng
ứng. Mỗi chứng từ ghi một dòng vào thẻ kho, thẻ kho đợc mở cho từng loại thành
phẩm. Cuối tháng thủ kho phải tiến hành tổng cộng số nhập, xuất, tính ra số tồn
kho về mặt lợng theo từng loại, thờng xuyên kiểm tra đối chiếu giữa số tồn thực
tế với số tồn trên thẻ kho.
Hàng ngày hoặc định kỳ sau khi ghi song thẻ kho, thủ kho chuyển chứng từ
phiếu nhập, xuất cho kế toán thành phẩm.
-Tại phòng kế toán: Định kỳ sau khi nhận đợc chứng từ do thủ kho chuyển
đến kế toán thành phẩm ghi đơn giá tính bằng tiền cho từng phiếu nhập và xuất.
Kế toán thành phẩm mở sổ chi tiết thành phẩm cho từng loại thành phẩm t-
ơng ứng với thẻ kho đợc mở ở kho, sổ này có nội dung tơng tự nh thẻ kho chỉ khác
là theo dõi cả về mặt giá trị, vào sổ chi tiết thành phẩm cho từng loại thành phẩm
cả về hiện vật và giá trị.
Cuối tháng kế toán thành phẩm tính ra số tồn cả về hiện vật và giá trị cho
từng loại thành phẩm trên sổ chi tiết, lập kế hoạch đối chiếu với thủ kho về hiện
vật, nếu có chênh lệch phải tìm nguyên nhân và điều chỉnh kịp thời. Kế toán
thành phẩm đối chiếu với kế toán tổng hợp về giá trị, sau đó lập bảng tổng hợp
nhập- xuất - tồn trên cơ sở số liệu của sổ chi tiết là mỗi loại thành phẩm ghi
một dòng.
* Ưu, nhợc điểm của phơng pháp ghi thẻ song song.
+ Ưu điểm:
- Đơn giản, dễ làm, dễ hiểu, dễ đối chiếu.
- Cung cấp thông tin thờng xuyên, kịp thời cho ngời quản lý

- Dễ dàng vận dụng máy vi tính vào việc hạch toán chi tiết thành phẩm.
+ Nhợc điểm:
-Ghi chép trùng lặp giữa kho và phòng kế toán.
-Không thích hợp với doanh nghiệp có quá nhiều thành phẩm.
-Không nên ghi chép bằng tay mà ghi bằng máy.
Sơ đồ 1: Sơ đồ hạch toán chi tiết thành phẩm
theo phơng pháp thẻ song song.
Thẻ kho
Sổ
(thẻ)
chi
tiết thành phẩm
Bảng tổng hợp NXT kho thành phẩm
Kế toán tổng hợp
Phiếu nhập kho
Phiếu xuất
kho
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu kiểm tra
4.2. Phơng pháp ghi sổ đối chiếu luân chuyển:
+ Nguyên tắc hạch toán:
- ở kho: Thủ kho ghi chép sự biến động Nhập- Xuất- Tồn của thành phẩm
về hiện vật trên thẻ kho (giống phơng pháp thẻ song song).
- ở phòng kế toán: Kế toán thành phẩm ghi chép sự biến động nhập -xuất -
tồn cả về hiện vật và giá trị trên sổ đối chiếu luân chuyển. Sổ này sử dụng cho cả
năm, mỗi loại thành phẩm ghi một dòng.
+ Trình tự ghi sổ(Sơ đồ số 2).
- ở kho: Giống nh phơng pháp thẻ song song.
- ở phòng kế toán: Hằng ngày hoặc định kỳ sau khi nhận đợc chứng từ do

thủ kho chuyển đến kế toán thành phẩm ghi đơn giá tính thành tiền, phân loại
chứng từ là phiếu nhập thành phẩm và phiếu xuất thành phẩm. Dựa trên cơ sở
phiếu nhập thành phẩm lập bảng kê nhập thành phẩm cả về hiện vật và giá trị, dựa
trên cơ sở phiếu xuất thành phẩm lập bảng kê xuất thành phẩm cả về hiện vật và
giá trị.
Cuối tháng kế toán thành phẩm lấy số liệu trên bảng kê nhập và bảng kê
xuất vào sổ đối chiếu luân chuyển cột nhập và xuất cho từng loại thành phẩm tơng
ứng đồng thời tính ra số tồn về hiện vật và giá trị cho từng loại thành phẩm trên sổ
đối chiếu luân chuyển. Số tồn cuối tháng này là số tồn của đầu tháng tiếp theo.
Cuối tháng kế toán thành phẩm lập kế hoạch đối chiếu với thủ kho về
hiện vật, đối chiếu với kế toán tổng hợp về giá trị. Nếu có chênh lệch phải tìm
nguyên nhân và điều chỉnh.
* Ưu, nhợc điểm của phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển:
+ Ưu điểm:
-Tránh đợc việc ghi chép trùng lặp giữa kho và phòng kế toán
-Cung cấp đợc thông tin cả về hiện vật và giá trị cho ngời quản lý.
+ Nhợc điểm:
-Công việc kế toán dồn vào cuối tháng do đó thờng lập báo cáo kế toán
chậm.
Sơ đồ 2: Sơ đồ hạch toán chi tiết thành phẩm theo
phơng pháp ghi sổ đối chiếu luân chuyển
Phiếu nhập kho
Bảng kê
nhập
Thẻ kho
Phiếu xuất
kho
Sổ đối chiếu luân chuyển
Kế toán
tổng hợp

Bảng kê
xuất
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu
4.3. Phơng pháp sổ số d.
+ Nguyên tắc hạch toán.
- ở kho: Thủ kho chỉ theo dõi biến động Nhập - Xuất - Tồn của thành phẩm
về hiện vật. Cuối tháng trên cơ sở số liệu tồn kho của thẻ kho vào " Sổ số d" ở cột
số lợng.
- ở phòng kế toán: Kế toán thành phẩm chỉ theo dõi sự biến động Nhập -
Xuất - Tồn về giá trị trên bảng kê luỹ kế Nhập - Xuất - Tồn
+ Trình tự ghi sổ(Sơ đồ số 3).
- ở kho: Thủ kho ghi chép sự biến động Nhập -Xuất -Tồn của từng loại
thành phẩm về hiện vật trên thẻ kho giống nh phơng pháp thẻ song song nhng
cuối tháng thủ kho lập sổ số d, trên cơ sở số liệu số tồn thành phẩm trên thẻ kho
sau đó chuyển sổ này cho kế toán thành phẩm.
-Tại phòng kế toán: Hằng ngày hoặc định kỳ sau khi nhận đợc chứng từ do
thủ kho chuyển đến kế toán thành phẩm ghi đơn giá tính thành tiền.
Định kỳ 5 hoặc 10 ngày kế toán thành phẩm tổng hợp giá trị thành phẩm
nhập - xuất -tồn vào bảng kê luỹ kế Nhập - Xuất -Tồn cho kỳ tơng ứng trên cơ sở
các phiếu giao nhận chứng từ nhập -xuất.
Cuối tháng kế toán thành phẩm tính ra số tồn về giá trị cho từng loại thành
phẩm trên bảng kê luỹ kế Nhập -Xuất - Tồn. Đồng thời sau khi nhận đợc sổ số d
do thủ kho chuyển đến kế toán tính thành tiền cho từng loại thành phẩm tồn kho
và ghi vào sổ số d ở cột giá trị.
Cuối tháng kế toán thành phẩm tự tiến hành đối chiếu số liệu về giá trị
giữa sổ số d và bảng kê luỹ kế Nhập - Xuất - Tồn. Nếu có chênh lệch phải tìm
nguyên nhân và điều chỉnh.
Sơ đồ 3:Sơ đồ hạch toán chi tiết thành phẩm

theo phơng pháp sổ số d
Phiếu nhập kho
Phiếu giao nhận
chứng từ nhập
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Phiếu giao nhận
chứng từ xuất
Bảng kê luỹ kế NXT kho TP
Kế toán tổng hợp
Sổ số
d
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu
* Ưu, nhợc điểm của phơng pháp:
+ Ưu điểm:
-Tránh đợc việc ghi trùng lặp giữa kho và phòng kế toán.
-Cung cấp thông tin tổng giá trị nhập - xuất - tồn theo định kỳ.
+ Nhợc điểm:
- Nếu có nhầm lẫm sai sót thì khó phát hiện, khó kiểm tra do đó chỉ thích
hợp ở doanh nghiệp nhân viên kế toán và thủ kho có trình độ và tay nghề thành
thạo.
5. Hạch toán tổng hợp thành phẩm:
5.1. Hạch toán tổng hợp thành phẩm theo phơng pháp kê khai thờng xuyên:
Phơng pháp kê khai thờng xuyên là phơng pháp theo dõi tình hình hiện
có,biến động tăng, giảm thành phẩm một cách thờng xuyên liên tục. Giá trị thành
phẩm tồn kho có thể xác định ở bất cứ thời điểm nào.
Tài khoản sử dụng:
- TK 155- Thành phẩm: TK này phản ánh sự biến động nhập - xuất -tồn kho

thành phẩm theo giá thực tế.
Bên nợ: Giá thực tế thành phẩm nhập kho.
Bên có: Giá thực tế thành phẩm xuất kho.
D nợ: Giá thực tế thành phẩm tồn kho cuối kỳ.
Tuỳ theo yêu cầu quản lý TK 155 có thể đợc mở chi tiết theo từng kho, từng
loại thành phẩm. TK này chỉ sử dụng ở những doanh nghiệp thành phẩm có thể
nhập kho đợc.
- Các tài khoản khác có liên quan nh TK 154, TK 157...
Trình tự hạch toán nhập- xuất thành phẩm (Sơ đồ số 4).
5.2. Hạch toán tổng hợp thành phẩm theo phơng pháp kiểm kê định kỳ.
Phơng pháp kiểm kê định kỳ là phơng pháp không theo dõi một cách thờng xuyên
liên tục tình hình biến động của các loại thành phẩm mà chỉ phản ánh trị giá tồn kho
đầu kỳ và cuối kỳ của chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ, xác định lợng thành phẩm
tồn kho thực tế từ đó tính ra giá trị thành phẩm xuất trong kỳ.
Tài khoản sử dụng:
- TK 155 "Thành phẩm": TK này chỉ phản ánh giá thực tế thành phẩm tồn kho.
Bên nợ: Kết chuyển giá thực tế thành phẩm tồn kho cuối kỳ.
Bên có: Kết chuyển giá thực tế thành phẩm tồn kho đầu kỳ.
D nợ: Giá thực tế thành phẩm tồn kho cuối kỳ.
Tài khoản này mở chi tiết cho từng loại thành phẩm.
- TK 157 " Hàng gửi bán": TK này chỉ phản ánh giá thực tế hàng gửi bán tồn
cuối kỳ.
Bên nợ: Kết chuyển giá thực tế thành phẩm gửi bán tồn cuối kỳ.
Bên có: Kết chuyển giá thực tế thành phẩm gửi bán tồn đầu kỳ.
D nợ: Giá thực tế thành phẩm gửi bán tồn cuối kỳ.
- TK 632 " Giá vốn hàng bán": TK này phản ánh giá thực tế thành phẩm nhập -
xuất kho trong kỳ.
Bên nợ: Kết chuyển giá thực tế thành phẩm tồn kho và gửi bán tồn đầu
kỳ.
Giá thực tế thành phẩm hoàn thành trong kỳ.

Bên có: Kết chuyển giá thực tế thành phẩm tồn kho cuối kỳ.
Kết chuyển giá thực tế thành phẩm gửi bán tồn cuối kỳ.
Giá thực tế thành phẩm xuất tiêu thụ trong kỳ.
Tài khoản này cuối kỳ không có số d.
Trình tự hạch toán(Sơ đồ số 5)
III. nội dụng kế toán tiêu thụ thành phẩm.
1. Các khái niệm liên quan đến tiêu thụ thành phẩm:
Tuỳ thuộc vào phơng pháp tính thuế GTGT, nội dung của các chỉ tiêu liên quan
đến chi phí, doanh thu và kết quả có sự khác nhau. Đối với các doanh nghiệp tính
thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ trong chi phí không bao gồm số thuế GTGT
đầu vào. Tơng tự chỉ tiêu doanh thu bán hàng, chiết khấu, giảm giá, doanh thu
hàng bán bị trả lại là giá bán hoặc thu nhập cha có thuế GTGT(kể cả các khoản
phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán- nếu có). Ngợc lại đối với các cơ sở tính
thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp hoặc đối với các đối tợng không chịu thuế
GTGT, trong chi phí bao gồm cả thuế GTGT đầu vào và trong doanh thu bao gồm
cả thuế GTGT, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt đầu ra (kể cả các khoản phụ
thu, phí thu thêm- nếu có). Vì thế các chỉ tiêu về doanh thu bán hàng, chiết khấu,
giảm giá, doanh thu hàng bán bị trả lại... đều bao gồm cả thuế GTGT đầu ra.
Sơ đồ 4: Trình tự hạch toán thành phẩm theo
phơng pháp kê khai thờng xuyên.
TK 154 TK 155 TK 632
Sx hoặc thuê ngoài gia Xuất bán, trả lơng, thởng
công, chế biến nhập kho biếu tặng
TK 157,632 TK 157
Thành phẩm gửi bán, ký gửi Xuất gửi bán,ký gửi
hoặc hàng đã bán bị trả lại
TK 642,3381 TK 642,1381
Thành phẩm thừa khi Thành phẩm thiếu khi
kiểm kê kiểm kê
TK 412 TK128,222

Đánh giá tăng Xuất thành phẩm đi góp vốn LD
Chênh (trị giá vốn góp) Chênh
Đánh giá giảm lệch TK 412 lệch
giảm tăng

Sơ đồ 5: Hạch toán thành phẩm theo phơng pháp kiểm kê định kỳ
TK 155 TK632 TK 155
Kết chuyển giá thực tế TP Kết chuyển giá thực tế
tồn kho đầu kỳ TP tồn kho cuối kỳ
TK 157 TK 157
Kết chuyển giá thực tế TP Kết chuyển giá thực tế TP
gửi bán tồn đầu kỳ gửi bán tồn cuối kỳ
TK 631 TK 911
Giá thực tế TP hoàn thành Giá thực tế TP xuất tiêu
nhập kho thụ trong kỳ
Nội dung các chỉ tiêu liên quan đến tiêu thụ thành phẩm đợc xác định nh
sau:
- Doanh thu bán hàng: là tổng giá trị đợc thực hiện do việc bán hàng hoá,
sản phẩm, cung cấp lao vụ dịch vụ cho khách hàng. Tổng số doanh thu là số tiền
ghi trên hoá đơn bán hàng, trên hợp đồng cung cấp lao vụ, dịch vụ. Doanh thu bán
hàng sẽ đợc ghi tại thời điểm sản phẩm, hàng hoá đợc xác định là đã tiêu thụ, tức
là tại thời điểm chuyển quyền sở hữu về sản phẩm, hàng hoá. Hay nói cách khác
thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm ngời mua trả tiền hay chấp nhận trả tiền
về lợng hàng hoá, sản phẩm đã đợc ngời bán chuyển giao. Theo chuẩn mực kế
toán quốc tế (IAS18) doanh thu bán hàng đợc công nhận khi:
+ Rủi ro và lợi ích quan trọng của việc sở hữu hàng hóa đợc chuyển sang cho ngời
mua.
+ Doanh nghiệp không tiếp tục tham gia quản lý quyền sở hữu cũng không giám
sát hiệu quả hàng đã bán ra.
+ Số doanh thu có thể tính toán một cách chắc chắn.

+ Doanh nghiệp có khả năng là sẽ thu đợc lợi ích kinh tế từ giao dịch.
+ Chi phí giao dịch có thể đợc tính toán một cách chắc chắn.
- Chiết khấu bán hàng: là số tiền tính trên tổng số doanh thu trả cho khách
hàng do đã thanh toán tiền hàng trớc thời hạn qui định (chiết khấu thanh toán).
- Giảm giá hàng bán: là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hoá đơn hay
hợp đồng cung cấp lao vụ dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt nh hàng kém phẩm
chất, không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời hạn, địa điểm trong hợp
đồng...(do chủ quan của doanh nghiệp). Ngoài ra, tính vào các khoản giảm giá
hàng bán còn bao gồm khoản thởng cho khách hàng do trong một khoảng thời
gian nhất định đã tiến hành mua một khối lợng lớn hàng hoá (hồi khấu) và khoản
giảm trừ trên giá bán thông thờng vì mua khối lợng lớn hàng hoá trong một đợt
(bớt giá)- chiết khấu thơng mại.
- Hàng bán bị trả lại: số hàng đã đợc coi là tiêu thụ (đã chuyển giao quyền
sở hữu, đã thu tiền hay đợc ngời mua chấp nhận) nhng bị ngời mua từ chối trả lại
do ngời bán không tôn trọng hợp đồng kinh tế đã ký kết nh không phù hợp yêu
cầu, tiêu chuẩn, quy cách kỹ thuật, hàng kém phẩm chất, không đúng chủng loại...
Tơng ứng với hàng bán bị trả lại là giá vốn của hàng bán bị trả lại, doanh thu của
hàng bán bị trả lại và thuế GTGT đầu ra phải nộp của hàng bán bị trả lại (nếu có)
và đều đợc tính theo giá vốn, doanh thu, thuế khi bán.
- Doanh thu thuần: là khoản doanh thu còn lại của doanh thu bán hàng sau
khi đã trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu (giảm giá hàng bán, doanh thu hàng
bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu).
- Giá vốn hàng bán: là trị giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ
đã tiêu thụ trong kỳ. Đối với thành phẩm đó là giá thành sản xuất (giá thành công
xởng) hay chi phí sản xuất thực tế.
- Lợi nhuân gộp: là số chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá vốn hàng
bán. Lợi nhuận gộp còn gọi là lãi thơng mại hay lợi tức gộp hoặc lãi gộp.
- Chi phí bán hàng: là toàn bộ các khoản chi phí phát sinh có liên quan đến
hoạt động tiêu thụ bao gồm chi phí nhân viên bán hàng (lơng và các khoản trích
theo lơng của nhân viên bán hàng) chi phí vận chuyển, bao bì đóng gói, chi phí

quảng cáo, bảo hành sản phẩm, chi phí khấu hao nhà cửa máy móc thiết bị và các
chi phí bằng tiền khác.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là toàn bộ các khoản chi phí có liên quan
đến quản lý doanh nghiệp, quản lý hành chính và chi phí chung khác phát sinh
trong toàn doanh nghiệp gồm lơng và các khoản trích theo lơng của nhân viên
quản lý, chi phí dụng cụ văn phòng, chi tiếp khách hội nghị, khấu hao nhà cửa
máy móc thiết bị, các chi phí dịch vụ mua ngoài liên quan đến quản lý doanh
nghiệp và các chi phí bằng tiền khác.
- Lợi nhuận trớc thuế: là chỉ tiêu phản ánh số chênh lệch giữa lợi nhuận
gộp với chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Lợi nhuận sau thuế: là chỉ tiêu phản ánh số chênh lệch giữa lợi nhuận tr-
ớc thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp.
Có thể khái quát mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động
tiêu thụ qua sơ đồ sau: (Sơ đồ số 6).
2. Các phơng thức tiêu thụ.
Muốn tiêu thụ đợc sản phẩm của mình trong cơ chế thị trờng hiện nay
doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lợng sản phẩm, cải tiến mẫu mã
mặt hàng đồng thời phải đẩy mạnh chiến lợc marketing của mình. Bên cạnh đó
việc lựa chọn và áp dụng linh hoạt các phơng thức bán hàng cũng góp phần không
nhỏ vào việc thực hiện kế hoạch tiêu thụ của doanh nghiệp. Hiện nay các doanh
nghiệp sản xuất thờng sử dụng các phơng thức tiêu thụ sau:
Sơ đồ 6: mối quan hệ giữa doanh thu-chi phí
Doanh thu bán hàng
- Giảm giá, bớt giá, hồi khấu, doanh thu
hàng bán bị trả lại
- Thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt
Doanh thu thuần
Giá vốn hàng bán Lợi nhuận gộp
CF bán hàng và
CF quản lý DN

Lợi nhuận trớc thuế
Thuế thu
nhập DN
Lợi nhuận
sau thuế
Phơng thức tiêu thụ trực tiếp:
Là phơng thức giao hàng cho ngời mua trực tiếp tại kho (hay trực tiếp tại
các phân xởng không qua kho) của doanh nghiệp. Số hàng khi bàn giao cho

×