Tải bản đầy đủ (.doc) (6 trang)

Bài giảng Phong tuc ngay tet ( Y nghia nhat )

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (220.62 KB, 6 trang )

Ngày Tết nói chuyện phong tục tập quán Việt Nam

• "Tết" từ chữ "tiết", nghĩa là mùa, hay hiểu rộng ra là mùa hội. Tết là dịp sum họp gia
đình, thăm viếng thân nhân, thờ phụng tổ tiên. Tết cũng là dịp nghỉ ngơi, đi chơi để chuẩn
bị cho một năm mới
• Phong tục ngày Tết phản ảnh những đặc thù của nền văn hoá VN qua nhiều thế hệ, và
còn tùy thuộc vào từng vùng trên đất nước. Nhưng chúng ta vẫn có thể chia ra làm 2 loại
chính: phong tục đón Tết với gia đình và đón Tết với xóm làng.
Tết là lúc gia đình họp mặt đông đủ. Ai đi làm đi học ở xa đều được về nhà khoảng 23
tháng chạp để đón Tết với gia đình. Thông thường 1 gia đình VN dành ra nửa tháng để
chuẩn bị cho ngày Tết, thí dụ như dọn dẹp nhà cửa, sắm sửa quần áo, các món ăn.
Thông thường những phong tục đón Tết với gia đình gồm có: đi thăm mộ tổ tiên, đưa táo
quân về trời, rước vong linh ông bà, đốt pháo, xuất hành, xông nhà, chúc thọ, lì xì, thăm
viếng, và tục kiêng cữ.
Chúng ta còn có tục lệ đón tết với làng xóm vì từ xưa xã hội VN được tổ chức theo hệ
thống làng xóm, trong đó làng là đơn vị nhỏ nhất. Đón Tết với xóm làng gồm có: dựng
nêu, hái lộc đầu xuân, các đám hội xuân như thi hát quan họ, hát đố, thi đánh vật, thi chèo
thuyền, thi làm thức ăn.
• Những tiêu khiển ngày xuân gồm có: khai bút đầu xuân, câu đối Tết, tranh Tết, mai
đào, đánh cờ tướng, múa lân.
• Món ăn ngày xuân thì rất nhiều nhưng thông thường trên bàn thờ lúc nào cũng có 4 loại
trái cây (cầu, dừa, đu đủ, xoài) tượng trưng cho "cầu vừa đủ xài" theo người Nam Bộ, còn
ở miền Bắc thường có chuối xanh, bưởi, quất, hồng xiêm, trứng gà, quả phật thủ.
Đặc biệt một số thứ không thể thiếu trên bàn thờ tổ tiên đó là cặp bánh chưng, hộp mứt tết.
Một số tập tục văn hóa:
Thăm mộ tổ tiên: Từ ngày 23 đến ngày 30 tháng chạp con cái trong gia đình tề tựu đông
đủ cùng nhau đi thăm, sửa sang mồ mả tổ tiên và đem theo hương đèn hoa quả để cúng,
mời vong linh tổ tiên về ăn Tết với con cháu.
Đưa Táo về trời: Táo quân là thần Táo, hay còn gọi là vua bếp. Tục truyền mỗi năm thần
Táo phải về trời 1 lần, vào ngày 23 tháng Chạp để tường trình cho Thượng đế những việc
xảy ra trong nhân gian trong năm đó. Vì vậy vào ngày đó người dân VN thường cúng kiến


rất long trọng để tiễn thần Táo về chầu Ngọc hoàng, và đến ngày 30 lại cúng để mời ông
bà và Táo quân về ăn Tết. Theo tục lệ, tiễn Táo quân về trời ngoài mâm cơm còn có áo
mão bằng giấy, đôi hia, và con cá chép thả trong chậu nước để Táo quân cỡi về trời. Nói
chung tục lệ này nhằm để răn dạy người ta nên giữ gìn hạnh kiểm, vì mọi sự đều sẽ được
tâu lên với Ngọc Hoàng.
Lễ rước vong linh ông bà: là lễ mời ông bà về ăn Tết với con cháu.
Chiều ngày 30 tháng Chạp, trên bàn thờ tổ tiên được bày 1 mâm cỗ bao gồm trái cây và
thức ăn. Người gia trưởng thắp hương dâng lên bàn thờ,
cầu xin tổ tiên chứng giám và phù hộ cho gia tộc được
nhiều phước lành trong năm mới. Theo sau đó mọi người
trong gia tộc đều chắp tay cung kính thỉnh vong linh ông
bà về ăn Tết.
Đốt pháo: người ta tin rằng tiếng pháo có thể xua đuổi
được tà ma và đem lại phước lành cho năm mới. Còn có
truyền thuyết rằng trong số những hung thần có 2 vợ
chồng Na Á hay phá phách hãm hại người dân VN, họ chỉ
sợ ánh sáng và ồn ào nên dân ta bày ra đốt pháo ầm ĩ chói
sáng để đuổi 2 hung thần này. Đốt pháo đúng giao thừa (thời điểm giao hòa giữa 12 giờ
đêm 30 tháng Chạp của năm cũ và mồng một của năm mới), mọi người đốt pháo cùng một
lúc, đủ cả các loại pháọ Chính tiếng pháo dòn dã và mùi khét của thuốc pháo quyện vào
mùi hương nhang đèn trên bàn thờ tạo thành một không khí đặc biệt rất Tết của dân tộc ta.
Ngày nay không mấy ai còn tin việc đốt pháo để tiêu trừ tà ma, mà tiếng pháo nổ ngày nay
tượng trưng cho sự tưng bừng náo nhiệt của ngày Xuân, xác pháo đỏ thắm tượng trưng cho
những điều may mắn cho năm mới. Tuy nhiên hiện nay phong tục này đã không còn vì
việc sản xuất và đốt pháo đã gây ra quá nhiều tai nạn thương tâm.
Lễ xuất hành: là chọn một người trong gia đình bước ra khỏi nhà trong những giây phút
đầu tiên của năm mới. Người xuất hành phải xem lịch, chọn hướng tốt, hạp với tuổi để
mong được may mắn trong năm mới mỗi khi bước chân ra khỏi nhà.
Lễ xông nhà (hay xông đất): có là vì nhiều người tin rằng người đầu tiên bước vào nhà
mình ngay đầu năm sẽ đem lại hên, xui cho gia đình suốt cả năm. Nên người ta hay mời

người có vận may (làm ăn phát đạt, gia đình hạnh phúc) đến xông nhà dùm. Người xông
nhà phải ăn mặc chỉnh tề, bước vào cửa chính rồi đi quanh nhà, đến bếp, ngụ ý đem lại
may mắn vào từng xó nhà.
Khai bút đầu xuân
Lễ chúc thọ: là sáng sớm ngày mồng một Tết, con cháu trong nhà tỏ lòng hiếu thảo qua
việc mừng tuổi chúc thọ cho ông bà cha mẹ. Mừng tuổi vì người VN quan niệm rằng hôm
ấy mỗi người đều lên 1 tuổi, không phân biệt ngày sinh nhật như người phương Tây.
Từ Lì xì: là được phiên âm từ tiếng Quảng đông sang tiếng Việt, nguyên là chữ "Lợi thị"
Trong Hán tự, có nghĩa là tiền bạc, lợi lộc. Để mừng tuổi các em nhỏ, những người lớn
trong gia đình tặng những món tiền nho nhỏ và chúc các em chóng lớn, học hành đỗ đạt
trong năm mới. Tiền được để trong những bao đỏ, vì màu đỏ tượng trưng cho sự may mắn.
Tục thăm viếng: là lúc chủ nhà tiếp đón bạn bè quyến thuộc đến thăm, và cũng đi thăm trả
lễ. Thông thường ngày mùng một được dành để chúc thọ những bậc trưởng thượng, họ
hàng. Ngày mùng 2 dành cho thầy cô giáo, ngày mùng 3 là để thăm hỏi vui chơi với bạn
bè.
Tục kiêng cữ: trong 3 ngày đầu năm người ta thường thận trọng lời ăn tiếng nói và hành
động vì tin rằng có thể đem lại hên xui cho cả năm. Thí dụ như không quét rác, nhất là quét
xác pháo ra khỏi nhà vì bị xem là quét tiền ra cửa. Không tặng thuốc men hay dao nhọn vì
bị xem là dấu hiệu của bệnh hoạn và xung khắc. Không khóc lóc than thở hay đập vỡ chén
dĩa vì đó là dấu hiệu của sự đổ vở trong gia đình. Không mặc đồ trắng hay đen vì bị xem là
dấu hiệu của sự tang tóc.
Dựng nêu: Ngày Tết người ta hay dựng nêu ở các chùa, đình làng, và có khi ngay trước
cửa nhà nữa. Tương truyền ngày xưa làng xóm VN hay bị quỷ quấy nhiễu nên mọi người
cầu khẩn Phật giúp đỡ. Sau khi đã đuổi xong yêu quỉ Phật dặn không được bén mảng đến
những vùng đất có dấu tích của Phật. Và Phật dạy mọi người dựng nêu và rắc vôi trắng
xung quanh để đánh dấu phần đất quỷ phải tránh xa. Cây nêu là 1 thân tre cao, trên có treo
1 ngọn cờ ngũ sắc tượng trưng cho 5 hành : kim, mộc, thủy, hỏa, thổ (kim=trắng,
mộc=xanh, thủy=đen, hỏa=đỏ, thổ=vàng). Xen kẽ giữa những dải lụa ngũ sắc là những
chiếc khánh làm bằng nhiều chất liệu khác nhau (gỗ, kim loại, đất nung, sành). Nêu được
dựng đến mùng 7 Tết thì người ta làm lễ cúng trời đất, còn gọi là lễ Khai hạ và hạ nêu

xuống. Lễ này chính thức chấm dứt Tết.
Tục hái lộc đầu xuân: Được thực hiện trong sân đình, chùa, song song với việc dựng nêu.
"Lộc" có 2 nghĩa, 1 là nhánh cây non, 2 là bổng lộc. Đầu năm, người ta hay ghé lại các cây
cổ thụ trong sân đình, chùa để hái 1 nhánh non đem về treo trước nhà hoặc chưng trên bàn
thờ. Có lẽ vì nghĩ rằng lộc (nhánh cây) đồng nghĩa với phước lộc nên đem nhánh non về để
hy vọng rước được phước báu về cho gia đình.
Hát Quan họ: Quan họ là 1 thể loại dân ca Bắc bộ, xuất phát từ tỉnh Bắc Ninh. Qua những
câu hát quan họ, trai gái khen ngợi nhau, tỏ tình, rồi hứa hẹn với nhau. Khi thi hát, mỗi bên
trai gái có chừng 4 người. Trọng tài chấm theo tài đối ý và đối giọng. Câu hát của bên này
càng lắt léo và dài hơi thì bên kia càng khó đối. Phần thưởng trong cuộc thi này tuy không
nhiều nhưng là vinh dự lớn cho những người hát.
Thi đánh vật: Tương truyền nữ tướng Lê Chân thời Hai Bà Trưng lập ra cuộc thi này để
tuyển binh, về sau người ta nhớ đến nên tổ chức vào mỗi dịp Tết.
Thi chèo thuyền: Tương truyền nữ tướng Cao Nhự là người đầu tiên tổ chức nên đội thủy
binh đầu tiên ở nước ta. Nên cứ đến ngày Tết là có tổ chức cuộc thi này để nhắc nhở rằng
dân ta giỏi cả về thủy chiến.
Khai bút đầu Xuân: các cụ thì làm thơ bằng chữ Nôm hay chữ Hán, rồi viết lên giấy điều
để chúc lành cho năm mới.
Câu đối Tết: Là 2 câu có số chữ bằng nhau, ý và lời đối chọi lẫn nhau. Nội dung câu đối
Tết là điều chúc lành đầu năm, thường được viết lên 2 dải giấy điều, bằng mực Tàu. Người
viết thường là các ông đồ già trong làng, có chữ đẹp. Câu đố hay được treo hai bên nhà để
khách lại có thể thưởng thức cùng với chủ nhà.
Hình ảnh ông đồ già đã không còn nhiều trên đường phố ngày xuân nữa
Tranh Tết: Tranh Tết được treo để trang hoàng nhà cửa. Tranh thường là tranh Đông Hồ
(1 làng nhỏ ở miền Bắc). Tranh diễn tả những lời chúc qua việc nhân cách hóa động vật,
thí dụ như tranh vẽ 1 đàn gà (tranh "Gà đàn") thể hiện cho lời chúc con cháu đầy đàn.
Hoa Tết: 2 loại hoa hay được chưng trong ngày Tết là Mai (miền Nam) và Đào (miền
Bắc). Chưng mai vào ngày Tết không những vì mai nở rộ, mà còn là vì người Nam đọc
mai thành "may" trong may mắn. Mai đại diện cho mùa xuân trong tranh tứ quý (mai, lan,
cúc, tùng), lại còn tượng trưng cho người có tài đức và nhân cách cao thượng trong tứ quân

tử (mai, lan, cúc, trúc).
1 cành mai đẹp phải có : cành Văn (nhánh ngang), cành Vũ (nhánh đứng), cành Phụ (cành
lớn), cành Tử (cành nhỏ), cành Quân (cành dài), cành Thần (cành ngắn).
Văn-Vũ = cương nhu, lúc cứng lúc mềm
Phụ-Tử = tình cha con
Quân-Thần = nghi lễ
Hoa đào còn có 1 sự tích, tục truyền ngày xưa có 2 vị thần Trà & Uất Luỹ ở trên 1 cây đào

×