Tải bản đầy đủ (.docx) (25 trang)

Chiến tranh thế giới thứ hai

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (694.64 KB, 25 trang )

Chiến tranh thế giới thứ hai
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bài viết hoặc đoạn này cần thêm chú thích

Những nội dung khơng có nguồn có thể bị đặt vấn đề
Mời bạn bổ sung chú thích từ các nguồn đáng tin cậy

Chiến tranh thế giới thứ
hai

Theo chiều kim đồng hồ từ hình trên cùng bên trái: 1. Quân đội
Trung Quốc trong trận Wanjialing; 2. Quân đoàn Anh đang khai
hoả khẩu súng phun lửa trong trận El Alamein thứ nhất; 3. Máy
bay ném bom bổ nhào của Đức thường xuất hiện trong Chiến
tranh Xô-Đức mùa đông năm 1943-1944; 4. Lực lượng Hải quân
Hoa Kỳ trong cuộc đổ bộ lên vịnh Lingayen; 5. Wilhelm Keitel
ký văn kiện đầu hàng của Đức Quốc Xã; 6. Hồng quân Liên Xô
trong trận Stalingrad.

.

Thời gian

1 tháng 9 năm 1939 – 2 tháng
9 năm 1945


Địa điểm


châu Âu, Thái Bình Dương,
Đơng Nam Á, Trung Đơng,
Địa Trung Hải và châu Phi

Nguyên nhân
bùng nổ

Đức Quốc xã tấn công xâm
lược Ba Lan, Nhật tấn công
Trân Châu Cảng.

Kết quả

Quân Đồng Minh thắng. Hoa
Kỳ và Liên Xô trở thành siêu
cường quốc. Chiến tranh Lạnh
diễn ra.
Tham chiến

Đồng Minh:

Phe Trục:

Liên Xô

Đức Quốc Xã

Hoa Kỳ

Phát xít Ý


Anh

Đế quốc Nhật Bản

Trung Hoa Dân Quốc

nhiều nước khác

nhiều nước khác
Chỉ huy
Winston Churchill

Adolf Hitler

Franklin Roosevelt

Benito Mussolini

Iosif Stalin

Hideki Tojo

Tưởng Giới Thạch
Tổn thất
Tử vong quân sự:

Tử vong quân sự:

17.000.000


8.000.000

Tử vong dân sự:

Tử vong dân sự:

33.000.000

4.000.000

Tổng tử vong:

Tổng tử vong:

50.000.000
.

12.000.000

[hiện]
x•t•s

Các mặt trận trong
Chiến tranh thế giới thứ hai

Chiến tranh thế giới thứ hai (cũng được nhắc đến với tên gọi Đệ nhị thế chiến, Thế chiến thứ
hai, hay Đại chiến thế giới lần thứ hai, ...) là cuộc chiến tranh thế giới thảm khốc bắt đầu từ



năm 1937 hoặc 1939 và chấm dứt vào năm 1945 giữa các lực lượng Đồng Minh và Trục theo
chủ nghĩa phát xít. Hầu hết mọi lục địa trên thế giới đều bị ảnh hưởng của cuộc chiến này, ngoại
trừ châu Nam Cực. Nó là cuộc chiến rộng lớn và tai hại nhất trong lịch sử nhân loại.[1]
Các nguyên nhân cuộc chiến được nêu ra thì có nhiều và là một đề tài đang được tranh cãi, trong
đó có Hịa ước Versailles, khủng hoảng kinh tế toàn cầu, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quân
phiệt. Cũng chưa có sự thống nhất trong việc tính ngày bắt đầu cuộc chiến: một số người cho
rằng đó là khi Đức xâm lược Ba Lan vào ngày 1 tháng 9 năm 1939, một số người khác tính ngày
Nhật Bản xâm lược Trung Quốc vào ngày 7 tháng 7 năm 1937, còn một số khác thì tính vào một
ngày cịn sớm hơn nữa: ngày Nhật xâm lăng Mãn Châu vào năm 1931. Cũng một số người khác
cho rằng hai thế chiến chỉ là một cuộc chiến được chia ra bởi một cuộc ngừng bắn.[2]
Các chiến sự đã xảy ra tại Đại Tây Dương, châu Âu, Bắc Phi, Trung Đơng, Địa Trung Hải, Thái
Bình Dương và phần lớn của Đông Á và Đông Nam Á. Cuộc chiến kết thúc tại châu Âu khi Đức
đầu hàng vào ngày 8 tháng 5, 1945 nhưng vẫn còn tiếp diễn tại châu Á cho đến khi Nhật đầu
hàng vào ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Khoảng 62 triệu người đã bị chết do cuộc chiến này (thống kê vẫn tiếp tục nghiên cứu), kể cả các
hành động tàn sát diệt chủng của Đức Quốc Xã (Holocaust). 60% người chết là thường dân, chết
vì bệnh dịch, nạn đói, nạn diệt chủng và bom đạn. Thiệt hại nặng nhất là Liên Xô với 23 triệu
người chết, Trung Quốc với 10 triệu người, theo phần trăm dân số thì là Ba Lan với 16% (5,6
triệu người chết so với 34,8 triệu người trước chiến tranh). Chiến tranh thế giới thứ hai là một
cuộc chiến tranh tồn diện, kể cả dân thường khơng ở mặt trận cũng bị đánh bom hàng loạt.
Vũ khí nguyên tử, máy bay phản lực, ra-đa v.v. là một số phát minh trong cuộc chiến.
Sau cuộc chiến, châu Âu bị chia ra làm hai phái: một phía chịu ảnh hưởng phương Tây do Hoa
Kỳ đứng đầu, cịn phía kia chịu ảnh hưởng của Liên Xô. Các nước chịu sự ảnh hưởng của Hoa
Kỳ được phục hồi kinh tế sau khi nhận được viện trợ từ Kế hoạch Marshall trong khi các nước
kia trở thành các nước cộng sản phụ thuộc Liên Xô. Tây Âu liên kết đồng minh trong Tổ chức
Minh ước Bắc Đại Tây Dương, trong khi các nước Đông Âu liên kết đồng minh theo Hiệp ước
Warszawa. Các liên minh này đóng vai trị quan trọng trong Chiến tranh Lạnh sau này. Tại châu
Á, sự chiếm đóng Nhật Bản của quân đội Hoa Kỳ đã Tây hóa nước này, trong khi Trung Quốc bị
chia ra thành hai nước: nước cộng sản Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và nước Trung Hoa Dân
quốc tại Đài Loan.


Mục lục
[ẩn]


1 Hồn cảnh và nguyên nhân
o

1.1 Tình hình châu Âu


o


2 Diễn biến
o

o





1.2 Tình hình châu Á

2.1 Chiến trường châu Âu


2.1.1 Sự bành trướng của Đức và Liên Xô




2.1.2 Chiến trường Địa Trung Hải



2.1.3 Chiến dịch Bắc Phi



2.1.4 Mặt trận phía Đơng



2.1.5 Chiến dịch Ý



2.1.6 Mặt trận phía Tây



2.1.7 Lực lượng phe Trục thua cuộc tại châu Âu

2.2 Chiến trường châu Á-Thái Bình Dương


2.2.1 Sự bành trướng của Nhật Bản




2.2.2 Nhật Bản thua cuộc

3 Ảnh hưởng đến dân thường
o

3.1 Trại tập trung Đức quốc xã (Holocaust)

o

3.2 Xô Viết

o

3.3 Mỹ

o

3.4 Nhật

o

3.5 Chiến tranh tổng lực

4 Kết quả
o

4.1 Tổn thất nhân mạng



4.1.1 Tại Châu Âu



o

4.1.2 Tại Châu Á - Thái Bình Dương

4.2 Hậu quả lâu dài



5 Các nước tham chiến và hậu quả



6 Tóm tắt



7 Chú thích
o



7.1 Tham khảo

8 Liên kết ngồi

[sửa] Hồn cảnh và nguyên nhân

Lý do dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai khác nhau trong mỗi nơi giao chiến. Tại châu Âu, lý
do nằm xung quanh hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất: Đức muốn tránh phải tuân theo
các điều kiện trong Hòa ước Versailles, chủ nghĩa phát xít ngày càng phổ biến và các lãnh tụ chủ
nghĩa này có tham vọng cao, trong khi tình hình khơng ổn định tại Trung Âu và Đông Âu sau khi
Đế quốc Áo-Hung tan rã làm chiến tranh dễ xảy ra. Tại Thái Bình Dương, ý định biến thành
cường quốc của Nhật Bản và sự thắng thế của một số thủ lãnh quân phiệt đã khiến nước này có ý
đồ chiếm Trung Quốc và các nước lân cận để thoả mãn nhu cầu tài nguyên mà quốc đảo nhỏ bé
này không tự đáp ứng được, cuối cùng đã cuốn Nhật Bản vào chiến tranh.

[sửa] Tình hình châu Âu

Đức Quốc Xã diễu binh chiến thắng ở Warszawa, thủ đô Ba Lan
Vào thập niên 1920 và 1930, chế độ phát xít giành được quyền lực tại Ý và Đức trong khi các
đảng phát xít khác cũng có nhiều thế lực trong chính trường Trung Âu. Riêng tại Đức, đảng Đức
quốc xã và thủ lĩnh Adolf Hitler đang có hồi bão tạo ra một chính quyền kiểu mẫu. Họ đã khơi
dậy và khai thác niềm tự hào dân tộc của người Đức, cũng như các nền tảng trụ cột của chủ
nghĩa phát xít như sự tơn trọng qn đội và tn thủ chính quyền. Các sự kiện này khiến Đức trở


thành một nước hùng mạnh với quân đội mạnh được xây dựng trên nền tảng tư tưởng chiến lược,
một nền cơng nghiệp phát triển nhanh trong mơi trường khuyến khích thương mại và sự ủng hộ
của dân chúng trong việc giành lại đất đai đã bị mất sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và danh dự
quốc gia. Tại Ý, Benito Mussolini cũng dùng thuật hùng biện như Hitler, nhưng ít thành công
hơn.
Sau khi Hitler lên nắm chính quyền, ông ta đặt ưu tiên vào việc tái tạo quân đội. Đức bỏ tiền ra
để nghiên cứu các vũ khí nguy hiểm hơn và xây dựng các công nghiệp quân sự. Các thoả thuận
với Liên Xô cho phép Đức huấn luyện các đơn vị lính trong bí mật, trái với Hiệp ước Versailles.
Vào năm 1936, Hitler tái chiếm đóng Rhineland và vào năm 1938, Đức Quốc Xã sát nhập nước
Áo.
Sau khi Áo bị sát nhập với Đức, Hitler đòi hỏi vùng Sudentenland từ Tiệp Khắc. Hai nước Anh

và Pháp không muốn tham chiến cho nên đã vứt bỏ liên minh quân sự với Cộng hoà Tiệp Khắc
và ký Thoả thuận München vào ngày 29 tháng 9 để nhân nhượng Đức. Đến ngày 16 tháng 3 năm
1939, Đức đã chiếm đóng tồn bộ Tiệp Khắc. Ý theo gương Đức, đã tiến hành xâm lược Ethiopia
năm 1935 và sát nhập Albania vào ngày 12 tháng 4 năm 1939.
Vào ngày 22 tháng 5, Ý và Đức ký Hiệp ước Thép, chính thức hố liên minh quân sự giữa hai
nước. Vào ngày 23 tháng 8, Đức và Liên Xô ký Hiệp ước Molotov-Ribbentrop, một thoả thuận
khơng xâm lược trong đó có một điều khoản bí mật chia sẻ Đông Âu giữa hai nước này. Thoả
thuận này làm các nước Tây phương ngạc nhiên, nếu nhớ rằng hai nước này đã ủng hộ hai phía
khác nhau trong Nội chiến Tây Ban Nha vừa mới kết thúc.

[sửa] Tình hình châu Á
Xem thêm về nội dung này tại Chiến tranh biên giới Xô-Nhật.

Xe tăng Liên Xô dàn đội hình tấn cơng qn Nhật trong chiến dịch Khalkhyn Gol
Tại châu Á, Nhật Bản đã có mặt tại Trung Quốc khi chiến tranh bắt đầu. Các khu vực bị Nhật
chiếm đóng trong quốc gia suy yếu này ngày càng nhiều trong những năm cuối thập niên 1930.
Chiến tranh Trung-Nhật (1937-1945) đã bùng nổ sau khi hai phía Quốc dân đảng và Cộng sản
bớt đánh nhau để tập trung vào việc đánh đuổi Nhật Bản ra khỏi Trung Quốc. Lúc đầu, Trung
Quốc giành được một số thắng lợi, nhưng sau này chiều hướng quay sang phía Nhật và họ đã
chiếm đóng hầu hết miền đông Trung Quốc. Trong cuộc tấn công của Nhật có nhiều sự kiện khi


dân thường bị tàn sát tàn nhẫn, trong đó có sự kiện Thảm sát Nam Kinh, đã khiến dư luận quốc
tế ra áp lực đòi hỏi Nhật rời khỏi Trung Quốc. Hoa Kỳ, trong khi biệt lập đối với châu Âu, đã
bày tỏ sự quan tâm đối với các hoạt động của Nhật, và bắt đầu dùng các biện pháp trừng phạt
như khơng cho hàng hóa được tàu chở đến Nhật, nhất là dầu mỏ.

Viên sỹ quan Nhật thuyết trình về chiến lược Tân Thái Bình Dương cho binh sĩ.
Nhật đã chiếm đóng hầu hết các khu vực thành thị và công nghiệp tại Trung Quốc trước khi
Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu. Tuy thế, Trung Quốc không có hai tài nguyên quan trọng

trong việc phát triển và bảo đảm an ninh của Nhật: đó là dầu mỏ và cao su. Có hai quan điểm
trong các tướng lãnh Nhật về cách đạt được các tài nguyên này: một là đánh vào phía Bắc, tức là
vào lãnh thổ Liên Xô và chiếm lấy một phần lớn của Siberi và hai là đánh xuống phía Nam vào
các thuộc địa của Âu Châu tại Đông Nam Á. Sau Chiến tranh biên giới Xô-Nhật, nhiều người
nghĩ rằng Nhật đã cho rằng cách đánh vào phía Bắc khơng thể đạt được.

[sửa] Diễn biến
[sửa] Chiến trường châu Âu
Bài chi tiết: Chiến trường châu Âu (Thế chiến thứ hai)
[sửa] Sự bành trướng của Đức và Liên Xô
Bài chi tiết: Cuộc xâm lược Ba Lan (1939)


Máy bay tiêm kích Bf 110 của Khơng qn Đức vượt biên giới Ba Lan
Vào ngày 1 tháng 9, chỉ một tuần sau khi Hiệp ước Molotov-Ribbentrop được ký kết, Đức xâm
lược Ba Lan, khiến Anh và Pháp phải tuyên chiến với Đức để làm tròn bổn phận theo hiệp ước
với Ba Lan. Vào ngày 17 tháng 9, lực lượng Liên Xô tiến vào Ba Lan từ miền đông khi biên giới
đã bỏ trống do Ba Lan chuyển quân sang phía Tây chống Đức, với lý do bảo vệ kiều dân của họ.
Sự xâm nhập từ miền đông của một nước mạnh khiến chính phủ Ba Lan phải ra lệnh quân đội rút
khỏi đất nước và tổ chức lại ở Pháp. Đến ngày 6 tháng 10, Ba Lan đã bị Đức, Liên Xô và các
đồng minh của các nước này chiếm giữ hoàn toàn. Lãnh thổ Ba Lan do Đức kiểm sốt nằm dưới
quản lý của 1 viên Tồn quyền Đức trong khi lãnh thổ Ba Lan bị Liên Xô chiếm giữ được sáp
nhập vào nước này.
Ngay sau đó, lực lượng Liên Xô bắt đầu chiến tranh xâm lược các nước cộng hòa gần biển Baltic
nhưng đã bị Phần Lan phản kháng quyết liệt, dẫn đến Chiến tranh Liên Xô-Phần Lan (1940) vào
ngày 30 tháng 11 cho đến tháng 3 năm 1940. Cũng vào lúc này, Đức và các nước Đồng Minh
Tây phương đang trải qua một sự yên tĩnh buồn cười, với việc 2 phía tuyên chiến với nhau nhưng
không bên nào chịu ra tay trước. Sự yên tĩnh này kết thúc khi cả hai bên đều tính giành các nước
Scandinavia còn lại và các khu mỏ quặng sắt quý giá ở Thụy Điển. Vào tháng 4, hai phía ngẫu
nhiên bắt đầu hành quân cùng lúc và kết quả là Đức chiếm đóng được Đan Mạch trong khi một

cuộc xung đột xảy ra tại Na Uy (xung đột đầu tiên giữa Đồng Minh và Trục). Cuộc xung đột tại
Na Uy cho thấy lực lượng hai phía là cân bằng, diễn biến nghiêng về phía Đức khi nước này khởi
sự một cuộc tấn công vào Pháp vào ngày 10 tháng 5, bắt buộc các lực lượng Anh và Pháp đang ở
Na Uy phải rút lui.

Phân chia phạm vi chiếm đóng giữa Liên Xô (trái) và Đức Quốc Xã (phải) ở Ba Lan
Cuộc tấn công vào Pháp và các nước Hà Lan, Bỉ và Luxembourg diễn ra rất nhanh chóng và hiệu
quả. Người Đức đã huy động vào mặt trận này 3.350.000 quân, nhiều hơn bất kỳ mặt trận nào
khác trong Thế chiến II. Trong vòng một tháng lực lượng Anh phải rút khỏi lục địa. Ý, với ý định
thâu chiếm lãnh thổ, tuyên chiến với Pháp (nay đã tê liệt). Đến cuối tháng 6, Pháp đã đầu hàng,
bị lực lượng Đức chiếm đóng hầu hết phần lớn các lãnh thổ, phần cịn lại do chính quyền bù nhìn
Vichy điều hành.
Sau khi Pháp sụp đổ, chỉ còn Anh chống lại Đức. Đức khởi đầu một cuộc tấn công hai nhánh vào
Anh. Nhánh thứ nhất là những cuộc hải chiến trên Đại Tây Dương giữa các tàu ngầm, nay có thể


sử dụng các cảng tại Pháp, và Hải quân Hoàng gia Anh. Các tàu ngầm được dùng để cản trở việc
đưa hàng hóa theo đường biển. Nhánh thứ hai là một cuộc không chiến trên bầu trời Anh khi Đức
dùng Khơng qn của họ để tiêu diệt Khơng qn Hồng gia Anh, với ý định sử dụng ưu thế
không gian để đổ bộ. Đến năm 1941, khi Anh vẫn còn đứng vững, và vì một số nỗi lo âu khác
nổi lên, Đức rút lực lượng Không quân ra khỏi nước Anh.
[sửa] Chiến trường Địa Trung Hải
Bài chi tiết: Chiến trường Địa Trung Hải, Trung Đông và Châu Phi trong Thế chiến thứ
hai
Trong khi Đức đang tập trung lực lượng đánh Anh, Ý mở cuộc tấn công Hy Lạp vào ngày 28
tháng 10 năm 1940. Cuộc tấn cơng này hồn tồn thất bại: Hy Lạp chẳng những đánh lui Ý trở
lại Albania, mà cịn tham chiến theo phía Đồng Minh (trước đó Hy Lạp trung lập), cho phép Anh
đổ bộ tại nước này để viện trợ và phòng thủ. Trong khi Ý đang đương đầu với Hy Lạp, nước
Nam Tư láng giềng bị một cuộc đảo chính vào ngày 27 tháng 3 năm 1941, đồng thời trục xuất
chính quyền đã ký Hiệp ước Ba Bên chỉ ba ngày trước. Đức cho một số quân đi ổn định khu vực

Balkan. Kế hoạch được đặt ra và Đức mở cuộc tấn công cả hai nước Nam Tư và Hy Lạp vào
ngày 6 tháng 4, quét sạnh và chiếm giữ khu vực này sau trận đánh tại Crete.
[sửa] Chiến dịch Bắc Phi

Quân Anh ở mặt trận Bắc Phi


Tướng Erwin Rommel và Quân đoàn Phi Châu ở Bắc Phi

Quân Ý tịch thu 1 xe tăng Anh tại Bắc Phi
Bài chi tiết: Mặt trận Bắc Phi
Vào tháng 8 năm 1940, với lực lượng lớn của Pháp tại Bắc Phi chính thức trung lập trong cuộc
chiến, Ý mở một cuộc tấn công vào thuộc địa Somalia của Anh tại Đông Phi. Đến tháng 9 quân
Ý vào đến Ai Cập (cũng đang dưới sự kiểm soát của Anh). Cả hai cuộc xâm lược này đều thất
bại sau khi lực lượng Anh đẩy Ý ra khỏi cả hai khu vực và chiếm được nhiều thuộc địa Ý, trong
đó có Đơng Phi thuộc Ý và Libya.
Với sự thất bại của Ý, và thấy phe Trục có nguy cơ bị đẩy khỏi tồn bộ Phi Châu, Đức gửi Quân
đoàn Phi châu dưới sự chỉ huy của Erwin Rommel đến Libya để tăng viện cho đồng minh của
mình vào tháng 2 năm 1941. Đơn vị này, cùng với quân Ý, đã đánh một trận đánh ác liệt ven bờ
biển Cyrenaica với lực lượng Anh vào năm 1941 và 1942. Cùng với trận chiến này, Hải quân
Hoàng gia Anh và Regia Maria của Ý cũng đánh nhau để giành tuyến đường tiếp tế trên Địa
Trung Hải, điển hình là trận đấu tại căn cứ quan trọng tại Malta. Vào đầu năm 1942, việc Anh
thắng lợi trong cuộc đánh bại lực lượng Regia Maria khiến phía Đồng Minh thêm quân nhu và
vật chất. Việc này cho phép các lực lượng Anh đẩy mạnh sau trận El Alamein thứ hai, chiếm gần
hết toàn bộ Libya và đuổi quân Trục vào Tunisia. Vào tháng 11 năm 1942, tình trạng càng tệ hơn
cho quân Trục khi Hoa Kỳ thực hiện Chiến dịch Bó Đuốc, đổ bộ vào Maroc, bao vây các lực


lượng phe Trục. Cho đến tháng 5 năm 1943, toàn bộ các lực lượng phe Trục tại Bắc Phi đã bị
đánh bại sau Chiến dịch Tunisia.

Trong lúc đó, tại Trung Đông, lực lượng Đồng Minh tấn công vào Syria và Liban, hai khu vực
đang dưới sự kiểm soát của Pháp, cũng như Iraq, nơi chính quyền có thiện cảm với Đức. Việc
này giúp lực lượng Đồng Minh củng cố quyền lực trong khu vực này.
[sửa] Mặt trận phía Đơng
Bài chi tiết: Chiến tranh Xô-Đức

Sĩ quan Đức Quốc Xã đang hành hình một gia đình Ukraina năm 1941.
Cuộc tấn cơng kịch liệt nhất trong cuộc chiến tranh này xảy ra vào tháng 6 năm 1941, khi Đức
cắt đứt thỏa thuận không xâm lược với Liên Xô và tiến hành chiến dịch Barbarossa, một kế
hoạch tấn công khổng lồ với 3.300.000 quân Đức và 60 vạn quân các nước chư hầu để chiếm
đóng Moskva trước cuối năm. Chiến tranh Xơ-Đức bắt đầu, các lực lượng Đức tiến lên nhanh
chóng do yếu tố bất ngờ, những yếu kém và sai lầm vô cùng ngớ ngẩn trong điều binh của các
chỉ huy Liên Xô cũng như trang bị huấn luyện kém cỏi và lạc hậu của Hồng quân, quân Đức bắt
giữ được và tiêu diệt hơn 3 triêu quân Xô Viết. Họ tiến được một khoảng cách khá xa, nhưng
cuối cùng không chạy đua được với thời gian, cho nên khơng hồn thành mục tiêu. Khi mùa
đông đến, quân Đức không chịu nổi cái lạnh khắc nghiệt, cộng với quân số bị tiêu hao trong
chiến đấu nên đã bị cuộc phản công của Liên Xô đánh bật ngay tại ngoại ô Moskva.
Tuy bị nhiều thất bại vào cuối năm 1941, nhưng Đức tái tấn công vào năm 1942, tiến đến sát dãy
núi Kav-kaz, nhưng cũng bị Liên Xô phản công vào mùa đông, làm nhiều quân Đức chết, phản
ảnh trong việc tập đoàn quân số 6 Đức bị tiêu diệt tại Stalingrad. Trong mùa hè năm 1943, trận
Vòng cung Kursk đã tiêu diệt nhiều đơn vị Đức không thể thay thế được, nhất là các đơn vị thiết
giáp. Từ đó cho đến khi hết chiến tranh, qn Liên Xơ có thể hành qn tấn công tại mặt trận
miền đông suốt năm. Đến cuối năm 1944, Liên Xô đã giành lại được phần lớn số lãnh thổ bị Đức
chiếm đóng và ngày càng đẩy lùi lực lượng ngày càng suy yếu của Đức về phía tây, cho đến khi
cuối cùng xuyên qua Đông Âu, và ngay cả Đức, khi chiến tranh sắp kết thúc. Nhiều đồng minh
của Đức bị sụp đổ khi lực lượng Liên Xô tiến vào Romania, Hungary và khu vực Balkan. Sau
cùng Liên Xô đã chiếm được Berlin vào năm 1945.
Quân đội Xơ Viết tổn thất 8,67 triệu binh lính trong suốt 4 năm chiến tranh. Khoảng 6,537 triệu
bị chết hoặc mất tích trong chiến đấu và 2,1 triệu tù binh chết trên tổng số 5,2 triệu bị bắt hoặc



đầu hàng quân Đức. Khoảng 400.000 quân Nhảy dù và du kích cũng thiệt mạng phía sau phịng
tuyến của Đức.[3][4]
Trong tổng số 12,4 triệu thường dân Liên Xô chết trong chiến tranh, từ 2,5 cho tới 3,2 triệu
người đã chết khơng phải do sự chiếm đóng của qn Đức mà do sự trả thù của chính quyền Xơ
viết với những người họ cho là đã cộng tác với quân Đức. [5]
[sửa] Chiến dịch Ý
Với khu Bắc Phi được củng cố, các lực lượng Anh-Mỹ đổ bộ vào đảo Sicilia trong năm 1943, bắt
đầu một cuộc tấn công vào phần "bụng mềm phía dưới của châu Âu". Cuộc tấn cơng vào Sicilia
thành cơng, khiến chính quyền của Benito Mussolini sụp đổ và chính phủ mới của Ý ký hiệp
định đình chiến với quân Đồng Minh. Các lực lượng Đức can thiệp để qn Đồng Minh khơng
giành được tồn bộ Ý. Sau cuộc đổ bộ tại Salerno, tiến trình hành quân của Đồng Minh bị chậm
lại bởi địa thế khó khăn đang được quân Đức có kinh nghiệm hơn chống giữ.
[sửa] Mặt trận phía Tây
Bài chi tiết: Mặt trận phía Tây (Chiến tranh thế giới thứ hai)

Quân Mỹ đổ bộ lên bờ biển Normandie
Vào ngày 6 tháng 6 năm 1944, các lực lượng Đồng Minh Tây phương đổ bộ vào bờ biển
Normandie, một vùng của Pháp đang bị Đức chiếm đóng. Chiến dịch được soạn ra từ nhiều năm
trước, lực lượng nòng cốt là các đơn vị Mỹ, Anh cùng một số đơn vị khác như Canada, v.v.
Chiến dịch bắt đầu bằng việc ném bom hàng loạt từ các căn cứ không quân bên kia eo biển nước
Anh cùng với sự yểm trợ của khoảng 6000 khu trục hạm. Chiến dịch diễn ra rất khốc liệt, ngay
những giờ phút đầu tiên đã có 3000 quân Đồng Minh tử trận. Cuộc chiến cù cưa giữa đôi bên
diễn ra khá lâu, quân Đức bị đánh bại nhưng quân Đồng Minh cũng thiệt hại nặng. Khi chiến
dịch này thành công, họ tiến sâu vào Pháp, đuổi quân Đức ra khỏi Pháp, nhưng thường bị thiếu
tiếp tế cũng như bị quân Đức đang rút lui cản trở. Các cuộc đổ bộ khác tại miền Nam Pháp cuối
cùng đã giải phóng nước này.
Khi tiến đến ranh giới Đức, lực lượng Đồng Minh phải dừng lại để chờ tiếp tế. Việc này tạo một
cơ hội cho lực lượng Đức củng cố phịng thủ chống lại cuộc tấn cơng kế tiếp. Việc này dẫn đến
sự ra đời của chiến dịch Market Garden, mục tiêu là sử dụng không quân thả lính dù vào sâu lãnh



thổ nước Đức nhằm đánh chiếm trước các vị trí chiến lược như cầu, kho bãi, v.v. kết hợp với lực
lượng xe tăng thọc sâu để tạo nên đòn quyết định kết thúc chiến tranh. MarketGarden trở thành
chiến dịch đổ bộ bằng không quân lớn nhất lịch sử với hơn hàng ngàn máy bay tham gia. Quân
Đồng Minh cố gắng xuyên thủng Hà Lan và qua sông Rhine để kết thúc chiến tranh vào năm
1944. Nhưng chiến dịch này bị thất bại và lực lượng Đồng Minh tiến đến Đức chậm hơn đã dự
kiến.
Ước tính có khoảng 500.000 qn Đồng Minh bị thương vong trong những chiến dịch tiếp theo
trận Normandie.
[sửa] Lực lượng phe Trục thua cuộc tại châu Âu

Quân Mỹ giải phóng Paris ngày 25 tháng 8 năm 1944
Tình hình Đức cuối năm 1944 là vơ vọng. Các Đồng Minh Tây phương đang tiến vào biên giới
Đức từ phía tây, chỉ tấn công thêm một lần nữa là chiếm được khu vực công nghiệp Rhineland.
Liên Xô cũng đang ở một vị trí tương tự ở phía đơng, khơng lâu sẽ vào đến tận Berlin. Các trận
đánh bom hàng loạt từ Anh và Mỹ đã biến nhiều khu vực Đức thành gạch vụn, khiến ngành công
nghiệp phải giải tán.
Đang bị bao vây từ các phía đơng, tây và trên cao, Hitler đánh canh bạc cuối cùng để hy vọng
không thua cuộc. Để tái tạo lại chiến thuật thành công vào năm 1940 đối với các nước Hà Lan,
Bỉ và Luxembourg, các lực lượng Đức tấn công vào giữa mùa đông để chia rẽ các lực lượng
Đồng Minh ở Bỉ. Phòng tuyến Đồng Minh bị uốn cong, nhưng không bị phá vỡ và cuối cùng phe
Đồng Minh giành thắng lợi trong cuộc tấn công tại Ardennes. Tại miền đông, Đức dành hết mọi
nỗ lực cuối cùng để phịng thủ thủ đơ. Việc này cũng bị thất bại và lực lượng Liên Xơ chiếm
đóng Berlin vào cuối tháng 4 năm 1945.
Sau khi Berlin sụp đổ và Hitler tự tử, Đức chỉ còn lại là một mảnh đất nhỏ tại châu Âu từ mũi
bắc Na Uy cho đến phần trên của Ý. Vào ngày 9 tháng 5 năm 1945, các lực lượng Đức cuối cùng
đầu hàng vô điều kiện.

[sửa] Chiến trường châu Á-Thái Bình Dương

Bài chi tiết: Chiến tranh Thái Bình Dương


Quân đội Trung Hoa Dân Quốc trong trận đánh phòng thủ Thượng Hải năm 1937 trong chiến
tranh Trung-Nhật
Chiến trường châu Á-Thái Bình Dương khác với chiến trường châu Âu rất nhiều. Chiến trường
này hầu hết được đánh tại các đảo Nhật Bản đã chiếm đóng trong khu vực Tây Thái Bình Dương
và Đơng Á cho nên hải chiến và các trận đánh gần biển xảy ra nhiều hơn các trận đánh trên đất
liền như ở châu Âu.
[sửa] Sự bành trướng của Nhật Bản

Đế quốc Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Trung-Nhật đang tiếp diễn tại Đông Á khi Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu tại
châu Âu, cho nên một vài sử gia cho rằng ngày Nhật xâm lăng Trung Quốc (ngày 7 tháng 7 năm
1937) là ngày bắt đầu chiến tranh tại chiến trường Thái Bình Dương. Tuy nhiên, nếu tính là một
phần của Chiến tranh thế giới thứ hai, thì ngày 7 tháng 12 năm 1941 thường được nhắc đến như
là ngày bắt đầu, khi Nhật tuyên chiến với Hoa Kỳ và các nước Đồng Minh bằng việc lực lượng
của Hạm đội Liên Hợp Nhật Bản dưới sự chỉ huy của Đô đốc Yamamoto Isoroku tấn công bất
ngờ vào Trân Châu Cảng (Pearl Harbor), Philippines và một số thuộc địa của các cường quốc
châu Âu tại Đơng Á và Tây Thái Bình Dương.


Nhật hành động nhanh chóng để chiếm các đảo ở Thái Bình Dương có giá trị phịng thủ nhằm
làm cạn ý chí chiến đấu của Mỹ. Tại Trung Quốc và Đông Nam Á, Nhật tiếp tục bành trướng các
khu vực được nó kiểm sốt nhằm kịp thời khai thác tài nguyên để sử dụng.
Sáu tháng sau khi giao chiến, các hạm đội Nhật và Mỹ đánh nhau giữa Thái Bình Dương. Sau
Trận chiến Midway, nòng cốt hạm đội tàu sân bay của Nhật đã bị tàn phá, và quân Nhật khơng
tiến được nữa trên Thái Bình Dương. Nhật tiếp tục tìm cách trả đũa, nhưng quân Mỹ dùng biện
pháp đánh theo vịng ngồi của Nhật, cùng lúc nhảy từ đảo này qua đảo nọ để đẩy Nhật phải lui
lại.

[sửa] Nhật Bản thua cuộc
Khi Nhật bành trướng, họ để lại nhiều tiền đồn phòng thủ tại mỗi hòn đảo họ kiểm sốt trên Thái
Bình Dương. Kế hoạch của Mỹ để đối phó với các đảo này là chiếm những đảo cốt yếu cho việc
tiến đến Nhật, trong khi làm giữ vững các đảo khác không bị chiếm. Thuỷ quân lục chiến Hoa
Kỳ phải đánh nhiều trận đấu đẫm máu trên những hòn đảo này để chiếm giữ những đảo và sân
bay để qn đội có thể tiến tới.
Tại phía nam của cuộc bành trướng của quân đội Nhận Bản, trên đảo New Guinea, Nhật đã bị
quân lực Úc chặn lại, không chiếm giữ nổi toàn bộ đảo. Hai lực lượng này đánh nhau trong các
khu rừng trong những hoàn cảnh khốc liệt để giành giật đảo này. Trong khi Tân Guinea không
quan trọng lắm, nhưng quân Úc sợ sau khi Nhật chiếm giữ đảo này, Úc sẽ bị đe dọa.
Tại Đông Nam Á, Nhật đã tiến nhanh trong các thuộc địa của Anh cho đến khi bị kháng cự mãnh
liệt tại Miến Điện. Quân lực Anh, trong đó có rất nhiều đơn vị người Ấn Độ, đã đuổi lùi quân
Nhật tại trận đánh Kohima-Imphal và vì thế Nhật khơng đe dọa được Ấn Độ và các đường tiếp tế
cần thiết cho quân Trung Quốc đang đánh các lực lượng Nhật tại đó.


Đám mây hình nấm do quả bom nguyên tử ném xuống Nagasaki Nhật Bản tạo thành vào năm
1945
Đến gần cuối chiến tranh, Mỹ chiếm được các căn cứ gần Nhật và bắt đầu ném bom vào các đảo
nước này. Tuy không mạnh mẽ như tại Đức, việc ném bom rất có hiệu quả tại vì nhà cửa ở Nhật
dễ sập hơn và người Nhật ít chuẩn bị trước hơn với mối đe dọa này. Thêm vào đó, việc mất các
thuộc địa và quan trọng hơn là việc mất hàng hải đã làm tê liệt khả năng thu thập tài nguyên cần
thiết. Vì thế, ngành cơng nghiệp Nhật khơng thể sản xuất bằng mức mà Đức có thể duy trì được
vào lúc chiến tranh sắp chấm dứt.
Quân Đồng Minh có kế hoạch đổ bộ vào Nhật, nhưng sự phát triển bom nguyên tử làm thay đổi
tình hình. Ngày 6 và 9 tháng 8, hai quả bom đã được Hoa Kỳ thả xuống Hiroshima và Nagasaki.
Quân đội Liên Xô sau khi kết thúc chiến tranh ở Đức đã tuyên bố chiến tranh với Nhật, và sau
khi Mỹ thả bom nguyên tử xuống Hiroshima đã tấn công Đạo quân Quan Đông của Nhật đang
đóng ở Mãn Châu ngày 9 tháng 8. Thấy rõ không thể cứu vãn được, ngày 15 tháng 8, Nhật hoàng
tuyên bố đầu hàng Đồng Minh. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Nhật Bản ký văn kiện đầu hàng không

điều kiện, sáu năm và một ngày sau khi cuộc thế chiến bắt đầu (kể từ ngày Đức xâm lược Ba
Lan). Tuy nhiên hậu quả của hai vụ ném bom này thì cho đến gần đây, những người dân Nhật
vẫn phải gánh chịu.

[sửa] Ảnh hưởng đến dân thường
Xem thêm Công ước Genève về đối xử nhân đạo với tù binh, hàng binh chiến tranh

Nạn nhân quân đội Nhật Bản tại Nam Kinh
Chiến tranh thế giới thứ hai đem đến cho dân thường nhiều nỗi đau thương chưa từng thấy.
Trong hơn 50 triệu người chết vì chiến tranh trên một nửa là thường dân, bị giết bằng nhiều cách
khác nhau. Nhiều người bị chết bởi bom đạn và nhiều hơn nữa vì việc thiếu lương thực và khơng
có dịch vụ cần thiết cộng thêm việc phá hoại nhà cửa và các phương tiện cho dân trong chiến
tranh. Nhiều hơn nữa bị chết vì các chiến dịch có mục tiêu là dân thường để giảm sự ủng hộ của
quần chúng đối với chính quyền và tàn phá khả năng sản xuất vào việc chiến tranh. Thêm vào
đó, nhiều người đã bị hành hình vì lý do quốc tịch, dân tộc và tín ngưỡng.

[sửa] Trại tập trung Đức quốc xã (Holocaust)
Bài chi tiết: Holocaust


Xác chết tù nhân trong trại tập trung Bergen Belsen của Đức Quốc xã
Chiến dịch tàn sát tù binh chiến tranh và thường dân điển hình nhất và có tổ chức nhất là các
chương trình được vạch ra và thực hiện bởi Đức quốc xã. Ban đầu chỉ nhắm mục tiêu vào người
Do Thái tại nước này, cộng thêm một số nhóm người ít người khơng ưa thích. Chế độ Đức quốc
xã bắt đầu thành lập trại để cách ly các nhóm người này, sau đó dùng lao động cưỡng bách và
cuối cùng tiêu diệt hàng loạt. Các nhóm người Do Thái, người đồng tính luyến ái và người có
khuyết tật là các mục tiêu đầu tiên, nhưng những người đối lập chính trị như những người theo
chủ nghĩa xã hội và các nhân vật tơn giáo (kể cả tín đồ Cơ đốc giáo) lên tiếng cũng bị bắt giữ.
Một khi chiến tranh bùng nổ và phần đất Đức xâm chiếm tăng lên, các lãnh thổ mới chiếm này
cũng bị tính trong nỗ lực đó. Riêng Ba Lan đã bị ảnh hưởng rất nhiều, với gần toàn bộ dân số Do

Thái tại nước này và một số đông người Cơ đốc giáo đã bị tiêu diệt. Hàng chục triệu Người Nga
và các người Slav bị chinh phục khác cũng bị giam cầm tại hơn 100 trại tập trung của Đức trên
khắp các vùnh lãnh thổ châu Âu bị nước Đức Quốc xã chiếm đóng. Các trại lớn nhất là Dachau,
Buchenwald, Ravensbrück, Ausschwitz, Majdanek, Bergen Belsen, Gusen... Số người được giải
phóng khỏi các trại này sau chiến tranh chỉ còn vài trăm nghìn.
Wikimedia Commons có thêm
hình ảnh và tài liệu về: Tội ác
chiến tranh của chế độ Quốc xã
Đức
Tổng số người đã bị giết trong các trại tập trung, trong các chương trình tiêu diệt và trong khi bị
chính quyền Đức ngược đãi có lẽ khơng bao giờ có thể biết chính xác được. Có một số ước đốn
cao hơn 10 triệu người, trong đó 5 tới 6 triệu là người Do Thái bị giết trong các chương trình tiêu
diệt có mục đích.

[sửa] Xơ Viết


Tù binh Đức bị quân đội Liên Xô bắt tại Berlin, tháng 5 năm 1945
Đức không phải là nước duy nhất có tổ chức tàn sát dân thường. Liên Xơ dưới thời Stalin cũng
có những hành động đó.[cần dẫn nguồn] Tù binh Đức bị ngược đãi rất nhiều, trong trận đánh Stalingrad
khoảng 260.000 quân tập đoàn quân 6 Đức bị bao vây sau đó 91.000 bị bắt làm tù binh, chỉ cịn
6.000 người sống sót để trở về, cũng như thường dân trong các khu vực được tái chiếm từ Đức,
một số lớn bị buộc tội làm tay sai. Tại các nơi có nhiều người ủng hộ quân Đức, giá người dân
phải trả càng cao.[cần dẫn nguồn]

[sửa] Mỹ
Xem thêm: Vụ thả bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki
Trong trận Okinawa, các nhà sử học Nhật Bản ước tính có trên 10 ngàn phụ nữ Nhật bị lính Mĩ
cưỡng hiếp trong chiến dịch kéo dài 3 tháng này.[6] Tờ New York Time thông báo khoảng 2000
dân thường trong 1 làng ở Katsuyama bị lính Mỹ giết và cưỡng hiếp [7]

Mỹ khơng tàn sát dân thường có hệ thống như Đức-Nhật.[cần dẫn nguồn] Nhưng Mỹ đã để lại một dấu
ấn kinh hoàng cho cả thế giới cho tới ngày hơm nay. Đó là vụ ném bom nguyên tử xuống
Hiroshima và Nagasaki lúc chiến tranh gần kết thúc. Theo lệnh của Tổng thống Harry S Truman,
Ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử thứ nhất mang tên "Little Boy" đã được thả xuống
thành phố Hiroshima, Nhật Bản. Sau đó 3 hơm, ngày 9 tháng 8 năm 1945, quả bom thứ hai mang
tên "Fat Man" đã phát nổ trên bầu trời thành phố Nagasaki.
Có nhiều ngun nhân khiến con số chính xác người thiệt mạng không thống nhất[cần dẫn nguồn]. Các
số liệu khác nhau bởi được thống kê vào các thời điểm khác nhau. Rất nhiều nạn nhân chết sau
nhiều tháng, thậm chí nhiều năm bởi hậu quả của phóng xạ. Theo ước tính, 140.000 người dân
Hiroshima đã chết bởi vụ nổ cũng như bởi hậu quả của nó. Số người thiệt mạng ở Nagasaki là
74.000. Ở cả hai thành phố, phần lớn người chết là thường dân.


Hậu quả của nó cịn lại tới tận ngày nay. Với nước Nhật, dư luận cho rằng hai quả bom nguyên tử
mà Mỹ thả xuống là không cần thiết và hành vi chống lại dân thường là vô đạo đức. [cần dẫn nguồn]}

[sửa] Nhật
Trong khi Holocaust do Đức gây ra rất có tổ chức và được nhiều người biết đến, số người bị giết
có thể sánh được với số thường dân bị lực lượng Nhật tàn sát tại Trung Quốc.[cần dẫn nguồn] Tương tự
như cách nhìn của Đức đối với các dân tộc phía Đơng nước Đức, người Nhật xem người Trung
Quốc là mọi rợ và giới lãnh đạo chẳng những xem các tội ác chiến tranh là lẽ thường mà cịn
khuyến khích việc đó. Các ước tính số người bị chết do các hành vi này còn rất thiếu chính xác,
nhưng có thể cao hơn 10 triệu,một số lượng lớn phụ nữ bị hãm hiếp có thể nhiều hơn các thống
kê hiện tại.[cần dẫn nguồn] Một số khu vực dưới sự kiểm sốt của Nhật bị nạn đói thảm khốc, như Nạn
đói Ất Dậu tại miền Bắc Việt Nam.
Cuộc chiến tranh dã man Không chỉ phe Trục và các chế độ độc tài ngược đãi thường dân
trong lúc chiến tranh đang diễn biến. Các công dân của các nước Đồng Minh cũng bị đau khổ
trong các trường hợp họ là con cháu của những người từ các nước phe Trục. Điển hình là người
Mỹ gốc Nhật đã bị tập trung ở các trại giam giữ trong thời kỳ chiến tranh. Theo nhiều tài liệu thì
ở Mỹ lẫn Anh đều xuất hiện nhiều vụ tra tấn tù binh tàn bạo.


[sửa] Chiến tranh tổng lực

Nạn nhân của vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima
Tập tin:Bom nguyên tử.jpg
Toà nhà đứng vững sau vụ nổ
Được bắt đầu bởi Đức để khủng bố và giảm tinh thần quần chúng trong các vùng thành thị để
Đức có thể tiến tới nhanh hơn, chiến tranh chiến lược dùng sức mạnh trên không gian để đánh
vào các thành phố địch. Các chiến dịch của Đức có hiệu quả hữu hạn vì mẫu các máy bay ném
bom khơng phù hợp vào việc này và lực lượng không quân còn nhỏ.


Gần giữa chiến tranh, quân Đồng Minh bắt đầu dùng chiến thuật ném bom hàng loạt vào tận
Đức. Để tránh sự chồng chéo nguy hiểm, có sự phân cơng: máy bay Anh thả bom ban đêm còn
máy bay Mỹ đánh phá ban ngày. Với nhiều máy bay oanh tạc có tải trọng lớn và đủ khả năng bay
đường dài, các trận ném bom này đã phá hủy nhiều thành phố Đức. Khi chiến tranh chấm dứt, họ
có thể biến các khu vực đô thị thành một quầng lửa, làm tan tành thành phố. Số thường dân bị
chết khá cao, tại Đức có khoảng 300.000 người. Riêng trong một trận oanh tạc thành phố
Dresden, có vài chục ngàn dân thường Đức thiệt mạng. Việc các chiến dịch này có giúp đem đến
chiến thắng mau hơn vẫn còn chưa rõ.
Dân thường tại Nhật Bản cịn bị tấn cơng hơn nữa. Đức có các cơ sở công nghiệp xa nơi dân ở
cho nên khu công nghiệp bị tấn công trước khu người ở. Trái lại, người dân Nhật ở đông đúc vào
các khu vực thành phố trong các ngôi nhà được xây dựng bằng gỗ (tại Đức nhà cửa phần lớn
được xây bằng đá), dễ bị đốt cháy và lan tràn khắp thành phố khi các quả bom được ném xuống.
Thêm vào đó, Mỹ cũng sử dụng các máy bay thả bom mới hơn và lớn hơn tại Đức.
Nếu tính đến cuối cùng, cú đánh mạnh nhất là hai cuộc tấn công bằng bom nguyên tử vào hai
thành phố Hiroshima và Nagasaki. Tổng số người Nhật bị thiệt mạng lên đến 400.000 người lúc
ban đầu, và thêm nhiều người chết vì di chứng nhiễm phóng xạ trong nhiều năm kế tiếp. Có sự
tranh cãi về việc có cần thiết phải thả bom nguyên tử trên đất Nhật hay khơng. Phía Mỹ vẫn cho
rằng việc này đã dẫn đến việc Nhật đầu hàng một cách mau chóng, tránh thương vong cao cho

quân Mỹ nếu đánh vào Nhật bằng chiến tranh quy ước (như kinh nghiệm đánh lên hai đảo Iwo
Jima và Okinawa đã cho thấy). Nhưng có ý kiến phản bác cho rằng lý do chính là Mỹ muốn "dằn
mặt" Nga lúc đó có tin đang bắt đầu chế tạo bom nguyên tử.

[sửa] Kết quả
Hậu quả trực tiếp của chiến tranh này là sự chiến thắng của phía Đồng Minh. Mỗi nước trong
phe Trục đều phải đầu hàng vô điều kiện. Đức bị các lực lượng từ Mỹ, Anh, Liên Xơ và Pháp
chiếm đóng, trong khi Áo bị chia cắt từ Đức và cũng bị chiếm đóng một cách tương tự. Nhật bị
quân Mỹ chiếm đóng trong khi Liên Xơ chiếm đóng các nước Đông Âu.

Quân Mỹ và Liên Xô gặp nhau tại Torgau bên bờ sông Elbe
Trái với Chiến tranh thế giới thứ nhất, khi các giới hạn làm suy yếu các nước và các nước thua
cuộc bị ngăn chặn việc tái hội nhập cộng đồng quốc tế, các nước thua cuộc đã được cung cấp
viện trợ để phục hồi và hội nhập cộng đồng thế giới như các quốc gia hồ bình khác. Vì lẽ đó,


Đức và Nhật đã trở thành hai nước quan trọng và có nhiều ảnh hưởng mà khơng cần phải khiêu
chiến.
Sự thất bại của Hội Quốc Liên trong việc ngăn chặn chiến tranh đã dẫn đến việc thành lập Liên
Hiệp Quốc, một tổ chức quốc tế mới và có nhiều sửa đổi, cho đến nay vẫn là tổ chức quan trọng
nhất trong việc thúc đẩy hồ bình và hợp tác.

[sửa] Tổn thất nhân mạng
[sửa] Tại Châu Âu
Thống kê năm 1965 của Liên Hợp Quốc cho biết chỉ riêng số người thiệt mạng do chiến tranh ở
Châu Âu đã lên đến 49.257.000 người. Những nước chịu thiệt hại lớn nhất gồm:


Liên Xơ: 20.000.000 người (theo tài liệu của Krivosheev năm 2005, con số này là
27.000.000 người bao gồm 11.000.000 quân nhân và 16.000.000 thường dân) (tài liệu

khác ước lượng 13,6 triệu quân Liên Xơ thiệt mạng)



Đức: 9.700.000 người (theo tài liệu nghiên cứu năm 2000 của tiến sĩ Rüdiger Overmans,
con số này là 5.300.000 quân nhân, 3.170.000 thường dân và 1.400.000 người Đức ở các
quốc gia khác) [cần dẫn nguồn]



Ba Lan: 6.028.000 người (theo tài liệu của Viện IPN - Ba Lan năm 2000, con số này là
5.600.000 đến 5.800.000 người, trong đó có khoảng 3.000.000 người Do Thái) [cần dẫn nguồn]



Nam Tư: 1.600.000 người



Pháp: 520.000 người [cần dẫn nguồn]



Italia: 400.000 người



Tiệp Khắc: 364.000 người




Hoa Kỳ: 325.000 người [cần dẫn nguồn]



Anh: 320.000 người. [cần dẫn nguồn]

[sửa] Tại Châu Á - Thái Bình Dương


Hoa Kỳ: khoảng 300.000 người



Nhật Bản: khoảng 2.200.000 người



Trung Quốc: ước tính 18-20.000.000 người



Hai miền Triều Tiên: khoảng 1.000.000 người




Ấn Độ: 2.587.000 người




Việt Nam: hơn 2.000.000 người



Indonesia: khoảng 3.000.000 đến 4.000.000 người

[sửa] Hậu quả lâu dài
Ngay sau chiến tranh, liên minh Đồng Minh đã bị rạn nứt khi có xung đột về hệ tư tưởng. Mỗi
phía đã giành một khu vực khác nhau trong các lãnh thổ phe Trục. Tại châu Âu, mỗi phía liên
minh với nhau trong khu vực ảnh hưởng. Về phía Tây, các nước Mỹ, Anh và Pháp đã lập ra Liên
minh Bắc Đại Tây Dương (NATO). Về phía đơng, Liên Xơ lập ra liên minh với các nước Đông
Âu khác trong Hiệp ước Warszawa. Xung đột giữa hai phái sau này là một trong những hậu quả
của cuộc chiến tranh này.
Khắp mọi nơi, các phong trào chống thực dân phát triển mạnh hơn khi chiến tranh kết thúc. Điều
này xuất phát từ hệ quả của Thế chiến thứ hai:


Những thiệt hại của các cường quốc châu Âu trong cuộc chiến này khiến họ mất đi rất
nhiều năng lực quân sự và kinh tế khả dĩ có thể duy trì hệ thống thuộc địa. Trong khi đó
các dân tộc thuộc địa đã chống lại một cách sống cịn, quyết khơng nhân nhượng (như
trường hợp Algérie).



Thời kỳ bị Đức chiếm đóng đã gây nên tác động sâu sắc đến tâm lý các dân tộc châu Âu.
Họ biết đến mất mát của chiến tranh và nỗi khổ đau khi phải chịu ách thống trị. Điều này
ít nhiều đã ảnh hưởng đến quyết tâm muốn trở lại cai trị các dân tộc thuộc địa của họ.




Các cuộc chiếm đóng của Đức Quốc xã ở Bắc Phi và Nhật Bản ở châu Á đã tàn phá uy
tín của Anh, Pháp, Hà Lan đối với hệ thống thuộc địa của họ. Các dân tộc thuộc địa đã
nhận thức được rằng những cường quốc cai trị mình vẫn có thể bị đánh bại.



Sự trỗi dậy của bá quyền Mỹ và việc mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô cũng tạo nguồn
ủng hộ cho phong trào giải phóng thực dân, vì họ muốn hất cẳng tất cả các đế quốc châu
Âu để thiết lập các lợi ích của họ trên thế giới, và điều này cũng khơng khó khăn mấy khi
Tây Âu phải phụ thuộc vào viện trợ Mỹ để tái thiết.



Phong trào giải phóng dân tộc xảy đến là sự tất yếu. Những điều kiện vào cuối cuộc Thế
chiến thật sự là cơ hội lớn cho các nước thuộc địa.

Một vài cuộc xung đột đã trở thành chiến trường cho các cường quốc trong Chiến tranh Lạnh,
thậm chí có nhiều cuộc đã xảy ra trước khi Chiến tranh Lạnh bắt đầu. Hai nước Anh và Pháp đã
phải từ bỏ phần lớn các thuộc địa sau chiến tranh. Ấn Độ giành được độc lập từ Anh và
Philippines giành độc lập từ Mỹ. Tại Đông Dương và nhiều thuộc địa tại châu Phi, các lực lượng
kháng chiến phải chiến đấu mới giành được độc lập.


Một quốc gia quan trọng đã xuất hiện là Israel. Sau cuộc thảm sát Holocaust, dân Do Thái trên
thế giới rất khao khát có được một quốc gia riêng. Nhiều người Do Thái đã có kinh nghiệm chiến
đấu trong chiến tranh là việc quan trọng mà quốc gia này luôn phải đương đầu để được độc lập
và tồn tại.

[sửa] Các nước tham chiến và hậu quả

Bài chi tiết: Hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ hai

Tướng Mỹ Douglas McArthur ký nhận đầu hàng vô điều kiện của Nhật
Tất cả mọi quốc gia trên thế giới đều bị Chiến tranh thế giới thứ hai ảnh hưởng ít nhiều. Phần lớn
đã tham chiến theo phía Đồng Minh hay phe Trục, và một số đã theo cả hai. Một số nước được
thành lập vì chiến tranh, và một số khơng tồn tại được.
Một số quốc gia tham chiến quan trọng nhất được liệt kê sau đây:


Đức: Cường quốc chính của phe Trục tại châu Âu, chiến tranh bắt đầu khi Đức xâm lược
Ba Lan, và chiến tranh chấm dứt tại chiến trường châu Âu sau khi Đức đầu hàng.



Pháp: Lực lượng chính của Đồng Minh tại lục địa châu Âu, Pháp đã tuyên chiến với Đức
sau việc xâm lược Ba Lan. Pháp không hăng hái trong việc tham chiến và không chống
cự nổi lực lượng Đức sau khi bị xâm lược vào năm 1940. Khi chính quyền Pháp đầu hàng
nhục nhã, một chính quyền bù nhìn thân Đức được thành lập, nhưng một số thuộc địa của
Pháp vẫn trung thành với lực lượng Pháp Tự do vốn đứng về phía Đồng minh.



Anh: Trong khi Anh khơng có khả năng sản xuất như Mỹ hay có nhân lực như Liên Xơ,
họ vẫn là một thành phần quan trọng trong việc chiến thắng của lực lượng Đồng Minh
trên cả hai chiến trường.

Thống chế Wilheim Keitel thay mặt nước Đức Quốc xã ký giấy chấp nhận đầu hàng Đồng Minh
Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp ngày 9 tháng 5 năm 1945 tại Carlschorst, Poshdam



Ý: Một đồng minh của Đức vào ban đầu, Ý có rất nhiều tham vọng lãnh thổ .Họ chỉ tham
chiến sau khi số phận của Pháp đã an bài. Nỗ lực chiếm Hy Lạp và Ai Cập thất bại, thêm


vào đó nhiều thất bại hải quân tại vùng Địa Trung Hải đã cho thấy Ý không đủ chuẩn bị
cho cuộc chiến tranh này. Ý khơng có một qn đội mạnh,trang bị yếu kém ,tinh thần bạc
nhược ngay cả khi chiến đấu trên lãnh thổ của mình.Sau khi bị quân Đồng Minh xâm
chiếm, nước Ý phát xít bị sụp đổ, một chính quyền mới thành lập theo phía Đồng Minh
và đánh lại đồng minh Đức của họ.


Liên Xơ: Đã ký thỏa thuận khơng xâm lược với Đức và có hành động xâm lược Phần
Lan. Tuy nhiên, sau khi Đức thình lình tấn cơng vào năm 1941, Liên Xơ theo phía Đồng
Minh. Liên Xô bị nhiều tổn thất trước quân đội Đức, nhưng cuối cùng cũng thay đổi
chiều hướng và chiếm đóng Berlin để chiến thắng tại châu Âu. Chính tại mặt trận Xô Đức, quân đội phe Trục đã phải gánh chịu những tổn thất to lớn nhất: theo số liệu gần đây
thì tổng số quân Đức bị chết, bị thương và bị bắt làm tù binh trong chiến tranh thế giới
lần thứ hai là gần 14 triệu người, trong đó riêng ở mặt trận Xơ - Đức là 10,7 triệu người,
chưa kể hơn 1,2 triệu quân Nhật và đồng minh châu Á của Nhật đầu hàng họ trong Chiến
dịch Mãn Châu.



Nhật Bản: Một trong những cường quốc phe Trục, Nhật Bản có lý do tham chiến riêng.
Khơng đủ tài nguyên, Nhật đã nỗ lực giành tài nguyên từ khu vực tây Thái Bình Dương
và Đơng Á. Nhưng họ khơng đủ tiềm lực để đánh quân Đồng Minh, và đã bị đẩy lùi, và
cuối cùng bị thả bom nguyên tử, khiến chiến tranh kết thúc.



Trung Quốc: Khơng cịn nhận dạng là một quốc gia được nữa khi chiến tranh bắt đầu,

Trung Quốc đã nhận lãnh đòn chủ nghĩa quân phiệt của Nhật trên một thập kỷ. Cả hai
phía Quốc dân đảng, với sự ủng hộ của Hoa Kỳ, và phía Đảng Cộng sản, họ dùng cách
đánh du kích đã kháng cự chống Nhật.



Hoa Kỳ: Đang phân vân về vấn đề tham chiến, Hoa Kỳ bị cuốn vào chiến tranh khi Nhật
tấn công bất ngờ và Đức tuyên chiến. Hoa Kỳ dùng khả năng kinh tế và cơng nghiệp an
tồn để tiếp tế cho tất cả các nước Đồng Minh và đã tạo lực lượng và duy trì nỗ lực tại
châu Âu và Thái Bình Dương. Hoa Kỳ cũng là nước tham gia trên nhiều mặt trận nhất và
viện trợ nhiều nhất cho các nước Đồng Minh.

[sửa] Tóm tắt


Chim bồ câu trong nòng pháo tại Prokhorovka (Nga, 2008), biểu tượng cho số phận mong manh
của sự sống trước hiểm họa chiến tranh
Chiến tranh thế giới thứ hai là một cuộc xung đột vũ trang lớn nhất lịch sử. Khơng cuộc xung đột
nào trước đó hay sau đó bao gồm số nước tham gia nhiều hơn, ảnh hưởng diện tích đất lớn hơn,
hay giết nhiều mạng nguời và phá hoại nhiều hơn. Tuy nhiên, sự lớn lao của cuộc chiến này chỉ
là một trong nhiều khía cạnh nổi bật nhất của nó. Một số khía cạnh khác đáng được chú ý là:


Ảnh hưởng thế giới lâu dài: Hầu hết các quốc gia đã theo phía này hay phía kia trong
chiến tranh. Một số quốc gia theo cả hai phía vào các thời điểm khác nhau. Mọi lục địa có
người ở, trừ Nam Mỹ, đều có trận chiến. Ngay cả các nước trung lập cũng bị ảnh hưởng
sâu sắc trong chiến tranh và sau chiến tranh.




Phát triển kỹ thuật: Trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật, sự tiến triển rất nhanh chóng vì chiến
trường có nhu cầu cải tiến kỹ thuật. Diễn tiến này có rất rõ trong trong các lĩnh vực kỹ
thuật quân sự, từ máy bay đến xe cộ và máy tính.



Bom ngun tử: Chiến tranh thế giới thứ hai đã dẫn đến một cuộc cạnh tranh giữa một số
nước để khai thác năng lượng nguyên tử và phát triển vũ khí hạt nhân. Nước Mỹ thắng
cuộc trong cạnh tranh này và đã sử dụng vũ khí nguyên tử lần đầu tiên trên thế giới để tạo
ra ưu thế trong việc phân chia thế giới sau chiến tranh.



Chiến tranh tổng lực: Chiến tranh này đã trở thành chiến tranh đầu tiên phổ biến cách
chiến tranh tổng lực (strategic warfare). Chiến tranh nay không những chỉ là để đánh bại
quân địch và chia cắt vật chất, mà còn phải tấn công thẳng vào các khu vực người ở và
công nghiệp để phá hủy khả năng sản xuất và ý chí của địch.



Kháng cự của người dân: Chiến tranh du kích không phải mới, nhưng trong hầu hết
những nước bị quân địch (đặc biệt là Đức và Nhật) chiếm giữ , nhiều cuộc nổi dậy kháng
chiến đã nổ ra. Mặc dù các phong trào này thường khơng tự giải phóng được đất nước, họ
cũng đã làm quân chiếm đóng phải hao tổn công sức, và lãnh thổ không bao giờ bị chiếm
giữ toàn bộ. Việc này đã chứng minh rằng, việc chinh phục và lôi kéo một dân tộc đối
nghịch bằng vũ lực là một chuyện khơng dễ dàng.

[sửa] Chú thích



×