Tải bản đầy đủ (.pdf) (46 trang)

Tài liệu ĐỀ ÁN: " Phân tích đánh giá những cơ hội, thách thức đối với các DNCNVN với các nước ASEAN" pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (636.6 KB, 46 trang )



- - - [ 

\ - - -





ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Phân tích đánh giá những cơ hội, thách thức đối
với các DNCNVN với các nước ASEAN










1
LỜI MỞ ĐẦU

Trong xu hướng quỗc tế hoá đời sống kinh tế thế giới, với những cấp
độ toàn cầu hoávà khu vực hoá, lực lượng sản xuất phát triển vượt ra ngoài
phạm vi biên giới của mỗi quốc gia, sự phân công lao động , quốc tế phát triển
cả về bề rộng lẫn bề sâu; vai trò của các công ty đa quốc gia được tăng cường,


việc hình thành các liên kết khu vực ngày một phát triển, hầu hết các quốc gia
đang chuyển sang mô hình kinh tế với việc khai thác ngày càng triệt để lợi thế
so sánh của mỗi nước.Để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của thương mại quốc
tế trên thị trường thế giới ngày nay,các quốc gia trên hành tinh chúng ta trong
quá trình phát triển đã từng bước tạo lập nên các mối quan hệ song phươngvà
đa phương, từng bước tham gia vào các liên kết kinh tế quốc tế với nhiều mức
độ khác nhau nhằm đưa lại lợi ích thiết thực cho mỗi bên.Chính các liên kết
kinh tế quốc tế là sự biểu hiện rõ nét của hai xu hướng: Khu vực hoá và toàn
cầu hoá đang diễn ra hết sức sống động và đặc biệt quan trọng trong những
năm gần đây.
Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của toàn cầu hoá, khu vực hoá, của hội nhập
quốc tế, do vậy các quốc gia đang phát triển sẽ không có sự lựa chọn nào khác
hơn là lựa chọn mô hình công nghiệp hoá theo hướng hội nhập quốc tế. Phù
hợp với xu thế này Việt Nam đã và đang tham gia tích cực và có hiệu quả cao
vào Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (ASEAN free trade area: AFTA) Đây là sự kiện và bước ngoặt đáng
ghi nhận. Đồng thời cũng là vấn đề hết sức mới mẽ đôí với các doanh nghiệp
Việt Nam vốn vẫn quen với “vòng tay bảo hộ ”của Nhà Nước. Theo ý kiến của
các chuyên gia, nhiều DNCNVN còn hoạt động như thời bao cấp, kém năng
động, phần lớn đến nay vẫn chưa sẵn sàng cho hội nhập. Do vậy khi tham gia

2
vào AFTA , thực hiện biểu thuế ưu đãi có hiệu lực chung(CEPT) Tức khi nhà
nước phải giảm và tiến tới xoá bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan ngăn
cách buôn bán giữa Việt Nam và các nước ASEAN thì việc nghiên cứu , xem
xét, thảo luận, phân tích đánh giá những cơ hội, thách thức đối với các
DNCNVN, đồng thời đưa ra nhiều những phương hướng và giải pháp để các
DNCNVN phát huy được thế mạnh, tận dụng được cơ hội của mình cũng như
hạn chế những ảnh hưởng xấu, vượt qua thách thức để tồn tại trong môi trường
mới là hết sức cần thiết.

Vì đây là nghiên cứu mang tính khoa học đầu tiên và cùng với những hạn
chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tiễn nên đề án còn nhiếù sai sót,
em mong cô giáo Thạc sĩ Nguyễn Thu Thuỷ giúp đỡ, chỉ bảo để đề án được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

3
CHƯƠNG I:

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ AFTA


I /
Khu vực hoá kinh tế và các hình thức chủ yếu của nó

Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới đang diễn ra ở những cấp
độ khác nhau với xu hướng toàn cầu hoá đi đôi với xu hướng khu vực hoá.
Toàn cầu hoá kinh tế là hình thành một thị trườngthế giới thống nhất,
một hệ thống tài chính, tín dụng toàn cầu , là việc phát triển và mở rộng phân
công lao động quốc tế theo chiều sâu, là sự mở rộng giao lưu kinh tế và khoa
học công nghệ giữa các nước trên quy mô toàn cầu;là việc giải quyết các vấn
đề kinh tế –xã hội có tính chất toàn cầu như vấn đề dân số,tài nguyên thiên
nhiên, bảo vệ mội trường sinh thái…Trong khi đó , khuvực hoá kinh tế chỉ
diễn ra trong một không gian địa lý nhất định dưới nhiều hình thức như: khu
vực mậu dịch tự do, đồng minh (Liên minh) thuế quan, đồng minh tiền tệ,thị
trường chung, đồng minh kinh tế…Nhằm mục đích hợp tác,hỗ trợ lẫn nhau
cùng phát triển, từng bước xoá bỏ những cản trở trong việc di chuyển tư
bản,lực lượng lao động, hàng hoá dịch vụ …Tiến tới tự do hoá hoàn toàn
những di chuyển nói trên giữa các nước thành viên trong khu vực.
Ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển (hay còn gọi là các

quốcgia công nghiệp phát triển), thì xu hướng tham gia hội nhập vào nềnkinh
tế các nước trong khu vực và bảo hộ mậu dịch ngày càng gia tăng. Việc tham
gia mạnh mẽ và rộng rãi vào các khối liên kết kinh tế khu vực, từng bước tiến
tới sự nhất thể hoá cao thông qua các văn bản,hiệp định kí kết đã đưa lại cho
các quốc gia trong liên minh sự ổn định, hợp tác cùng phát triển. Trong điều
kiện đó, các doanh nghiệp của các quốc gia thành viên được hưởng những ưu
đãi về thương mại cũng như phải gánh vác các nghĩa vụ về tài chính, giảm

4
thuế cũng như các miễn giảm khácv.v..(các quốc gia trong hiệp hội mậu dịch
tự do Bắc Mỹ NAFTA ), các quốc gia trong liên minh châu âu(EU) là những
liên kết phản ánh rõ nét các xu hướng trên). Kinh tế giữa các nước thành
viên.Theo thoả thuận hợp tác này, các quốc gia trong liên minh bên cạnh việc
xoá bỏ thuế quan và những hạn chế về mậu dịch khác giữa các quốc gia thành
viên, còn cần phải thiết lập một biểu thuế quan chung của khối đối với các
quốc gia ngoài liên minh ,tức là phải thực hiện chính sách cân đối mậu dịch
với các nước không phải là thành viên.
Thị trường chung: Đây là một liên minh quốctế ở mức độ cao hơn liên
minh thuế quan,tức là ngoài việc áp dụng các biện pháp tương tự như liên
minh thuế quan trong trao đổi thương maị, hình thức liên minh này còn cho
phép tư bản và lực lượng lao động tự do di chuyển giữa các nước thành viên
thông qua từng bước hình thành thị trường thống nhất (các quốc gia trong
cộng đồng kinh tế Châu Âu).
Liên minh tiền tệ: Đây là một liên minh chủ yếu trên lĩnh vực tiền tệ.
Theo thoả thuận này các nước thành viên phải phối hợp chính sách tiền tệ
thống nhất trong toàn khối, thống nhất đồng tiền dự trữ và đồng tiền sử dụng
chung trong khối.
Liên minh kinh tế: Đây là một liên minh quốc tế với một mức độ cao hơn
về sự tự do di chuyển hàng hoá,dịch vụ, tư bản và lực lượng lao động giữa các
quốc gia thành viên, đồng thời thống nhất biểu thuế quan chung áp dụng cho

cả nước không phải là thành viên. Ngoài ra, các nước thành viên còn thực hiện
thồng nhất các chính sách kinh tế; tài chính, tiền tệ.(Liên minh Châu Âu: EU
từ năm 1994 được coi là liên minh kinh tế ).

5
II/
Xu hướng quốc tế hoá kinh tế thế giới và sự ra đời của AFTA

1.
Xu hướng quốc tế hoá kinh tế thế giới
Có thể nói rằng toàn cầu hoá, khu vực kinh tế là xu hướng đang chiếm ưu
thế trong nền kinh tế hiện đại, do đó thương mại quốc tế ngày càng được tự do
hoá. Đã xuất hiện nhiều tổ chức kinh tế manh tính khu vực như EU, APEC,
AFTA , Asean…. Trình độ quốc tế càng cao thì tỷ trọng trao đổi giữa các quốc
gia càng lớn. Theo một báo cáo về tình hình kinh tế thế giới trong giai đoạn
1990-2000 của WB (lấy giá năm 1988 làm chuẩn) thì thị trường thế giới về
các ngành công ngiệp quan trọng nhất tăng từ 6.188 tỷ USD năm 1973 lên
7683 tỷ năm 1980 và 9852 tỷ USD năm 1988 và dự kiến năm 2000 sẽ tăng lên
tới 14522 tỷ USD trong đó trao đổi giữa các quốc gia chiếm tỷ trọng ngày
càng tăng từ 15,3% năm 1973 lên 22,8% năm 1988 và dự kiến đến năm 2000
sẽ là 28,5% .
Điều gì đã làm cho thương mại thế giới phát triển như ngày nay ? Đó là sự
bùng nổ của tự do hoá trương mại khu vực và toàn cầu thể hiện qua việc xuất
hiện ngày càng nhiều các tổ chức kinh tế mang tính khu vực. Tự do hoá
thương mại được khởi xướng ở Bắc Mỹ và Châu Âu. Ở Châu Á, tiếp sau Nhật
Bản là Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kong, Singapo đã theo đuổi chính sách
hướng ngoại, mở cửa và tích cực hội nhập vào thị trường quốc tế ; thực hiện tự
do hoá từng bước . Kết quả bốn nước này đã tăng thu nhập đầu người từ mức
20% so với các nước công nghiệp vào năm 1965 lên 70% vào năm 1995. Con
đường hướng ngoại,thực hiện tự do hoá thương mại được thực hiện tiếp nối ở

Chi Lê, Malayxia và Thái Lan vào đầu thập niên 70 và sau đó là Trung Quốc
vào đầu thập niên 80. Nhiều người cho rằng khi hội nhập vào kinh tế khu vực
sẽ giảm bảo hộ sản xuất trong nước, do đó sẽ tăng thất nghiệp và giảm tăng

6
trưởng. Lịch sử đã chứng minh không một nước nào có thể đạt tốc độ phát
triển nhanh mà không mở cửa kinh tế, không tích cực hội nhập . Theo WB số
người sống ở mức nghèo khổ ở Châu á (dưới 1USD/ ngày) đã giảm từ 700tr
người xuống còn 300tr người năm 1995. Trung quốc nhờ thoả thuận với Mỹ
mở cửa thị trường hơn nữa và chuẩn bị ra nhập WTO sẽ làm cho thu nhập
quốc dân tăng thêm 30% năm nhờ vậy tăng thêm 12 triệu việc làm.
Rõ ràng xu hướng khu vực hoá Kinh tế là tất yếu. Nó mang lại những lợi
ích kinh tế to lớn cho cả người sản xuất và người tiêu dùng trong các nước
thành viên . Một quốc gia nào đó gia nhập các nước thực hiện ưu đãi mậu
dịch thường đưa lại những lợi ích chủ yếu sau đây:
Một là, tạo lập quan hệ mậu dịch giữa các nước thành viên, mở rộng hơn
nữa khả năng xuất nhập khẩu hàng hoá của các nước trongliên minh với các
nước, các khu vực khác trên thế giới. Cũng trong điều kiện này mà tiềm năng
kinh tế của các nước thành viên được khai thác một cách có hiệu quả. Chính
việc tạo lập mậu dịch tự do hội nhập khu vực đã làm tăng thêm phúc lợi thông
qua việc thay thế các ngành, trước hết là công nghiệp của các nước chủ nhà có
chi phí cao (lãng phí nguồn lực) bằng những ngành có chi phí thấp hơn (tức
có hiệu quả hơn) của những quốc gia nhận được sự ưu đãi. Cũng trong điều
kiện này, lợi ích của người tiêu dùng cũng được tăng lên nhờ hàng hoá của các
nước thành viên đưa vào nước chủ nhà luôn nhận được sự ưu đãi. Do đó giá
hàng hoá giảm xuống làm cho người dân ở nước chủ nhà có thể mua được
khối lượng hàng hoá lón hơn mức chi phí thấp hơn.
Hai là, Hội nhập khu vực còn góp phần vào việc chuyển hướng mậu dịch.
Sự chuyển hướng này diễn ra phổ biến khi hình thành liên minh thuế quan, vì
khi đó các điều kiện buôn bán giữa các nước thành viên trong liên minh sẽ trở

nên thuận lợi hơn, hấp dẫn hơn.

7
Ngay cả trong trường hợp một nước nào đó trong liên minh tiến hành
nhập khẩu những sản phẩm của các quốc gia ngoài liên minh với giá thấp hơn,
nhưng nay được thay thế bằng nhập khẩu những sản phẩm cùng loại của các
quốc gia trong liên minh mà giá cả lại cao hơn (do được hưởng chính sách ưu
đãi thuế quan…) Chính những ưu đãi này giữa các nước thành viên trong liên
minh đã đưa tới sự chuyển hướng mậu dịch nói trên (tức là thay thế những
người cung cấp sản phẩm cùng loại có chi phí thấp hơn nhưng không được
hưởng các chính sách ưu đãi bằng những người cung cấp những sản phẩm với
chi phí cao hơn (kém hiệu quả ) nhưng được hưởng sự ưu đãi của khối.
Có thể đưa ra một ví dụ giản đơn để minh hoạ như sau: Trước đây
Singapo thường nhập cà phê của Braxin với giá thấp hơn của Việt Nam vì giá
cà phê cuả Braxin là 1500 USD/ tấn còn Việt Nam là 1600USD/tấn với mức
thuế nhập khẩu cho cả hai trường hợp là 20%. Nhưng sau khi Việt Nam ra
nhập liên minh thuế quan thì bây giờ giá ca phê nhập khẩu từ Việt Nam
không bị đánh thuế nữa và chỉ là 1600 USD/tấn thấp hơn giá cà phê nhập từ
Braxin (1800USD/ tấn) vì có thuế nhập khẩu là 20%. Chính vì vậy, việc nhập
khẩu cà phê của Singapore sẽ chuyển hướng từ thị trường Braxin sang thị
trường Việt Nam.
Cần phải nhận thấy rằng việc chuyển hướng mậu dịch chỉ đưa lại lợi ích
cục cho các quốc gia trong nội bộ liên minh. Còn xét một cách tổng thể trên
phạm vi thế giới thì liên minh thuế quan cục bộ đã làm giảm phúc lợi chung
của thế giới nếu như liên minh đó đưa tới xu hướng khuyến khích các ngành
sản xuất kém hiệu quả.
Như vậy, những tác động tích cực và tiêu cực do thương mại đưa lại là
sự kết hợp chặt chẽ của sự thay đổi cả trong lĩnh vực sản xuất và trong lĩnh
vực tiêu dùng. Đó là sự thay thế của các ngành sản xuất trong nước bằng


8
ngành hàng của các nước đối tác trong liên minh (tác động về sản xuất) và sự
thay thế tiêu dùng hàng nội địa bằng hàng của các nước đối tác (tác dụng với
tiêu dùng).
Tác động tổng thể đối với các nước thành viên phụ thuộc chủ yếu vào
mức độ tác động tích cực và tiêu cực mà thương mại tạo ra. Nếu những tác
động tích cực đưa lại những lợi ích lớn hơn những lợi ích tổn hại do tác động
tiêu cực gây ra đối với một nước thành viên nào đó, thì khi đó hiệp định mậu
dịch tự do xét một cách tổng thể là có lợi đối với quốc gia thành viên đó. Tổng
quát lại có thể khẳng định rằng hội nhập vào khu vực, tham gia tích cực vào
khu vực mậu dịch tự do chỉ mang lại hiệu quả cao nếu những người sản xuất
có hiệu quả nhất (chi phí thấp nhất) là các nước thành viên hoặc khi hiệp định
về mậu dịch không làm giảm đi những hoạt động buôn bán giữa các nước
thành viên với các khu vực và các quốc gia còn lại trên thế giới.
Ba là, hội nhập vào khu vực, thực hiện tự do hoá thương mại tạo điều
kiện cho mỗi quốc gia thành viên có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp thu
vốn, công nghệ, trình độ quản lý,… từ quốc gia khác trong liên minh. Về lâu
dài tự do trương mại góp phần tăng năng xuất lao động , tăng trưởng kinh tế.
Tự do hoá thương mại thúc đẩy tăng trưởng kinh té bằng hai cách: tăng xuất
khẩu và tăng năng xuất cận biên của hai yếu tố sản xuát là vốn và lao động.
Trước hết, việc đâỷ mạnh xuất khẩu sẽ góp phần tăng hiệu quả sản xuất của
từng quốc gia, điều đó được thể hiện:
- Thực hiện tự do hoá thương mại đang gây ra áp lực lớn đối với mỗi
quốc gia trong liên minh trong các ngành sản xuất hàng xuất khẩu, buộc các
ngành phải phấn đấu giảm giá hoặc giữ giá ở mức tương đối thấp. Muốn vậy
các ngành này phải nhanh tróng thay đổi công nghệ, áp dụng rộng rãi những

9
kinh nghiệm quản lý, những thành tựu mới và hiện đại của cuộc cách mạng
khoa học – công nghệ.

- Trong điều kiện hội nhập, các quốc gia thành viên đang có xu hướng
tập trung đầu tư và phát triển các ngành sản xuất hàng xuất khẩu có hiệu quả
nhất và phát huy tối ưu những lợi thế về nguồn lực của mình.
- Việc hội nhập vào khu vực sẽ cho phép mỗi quốc gia thành viên năng
cao hiệu quả xuất khẩu theo quy mô và do đó thúc đẩy tăng trưởng sản xuất.
- Đẩy mạnh xuất khẩu có hiệu quả tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia
tăng vốn tích luỹ và do đó thúc đẩy tái sản xuất mở rộng không ngừng.
- Tăng cường xuất khẩu góp phần tạo lập cân bằng cán cân thanh toán
theo hướng tích cực, tăng dự trữ ngoại tệ cho quốc gia đây là điều kiện quan
trọng để giảm lãi xuất cho vay khuyến khích người sản xuất kinh doanh vay
vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tốc độ tăng trưởngvà phát triển
kinh tế… Tiếp đến việc tăng hiệu quả sản xuất nhờ nâng cao năng xuất cận
biên của hai yếu tố sản xuất cho phép mỗi quốc gia thành viênkhông cần phải
thay đôỉ cơ cấu vật chất của sản xuất, thậm chí không tăng thêm chi phí sản
xuất mà vẫn đạt hiệu quả kinh tế cao.
Tuy nhiên bất cứ vấn đề gì cũng có tính hai mặt của nó. Việc hội nhập
kinh tế khu vực cũng có mặt trái của nó, cũng có những thách thức mà một
quốc gia phải lường trước, tính toán để hạn chế , vượt qua. Đó là :
- Các nước thành viên phải nhanh chóng điều chỉnh lại các cân đối trong
nền kinh tế trên cơ sở xoá bỏ những hạn chế về thương mại như thuế quan,
hàng rào phi thuế quan, trong đó phải kể đến sự điều chỉnh cơ cấu ngành, cơ
cấu vùng,cơ cấu giá và tỷ giá hối đoái.
- Vấn đề việc làm và giải quyết thất nghiệp .

10
- Cải cách hệ thống tài khoá, đặc biệt là những trường hợp thuế quan
mậu dịch có tỷ trọng đáng kể trong nguồn thu ngân sách và do đó làm nảy sinh
những khó khăn cho việc cân đối ngân sách của chính phủ.
- Cần phải thiết lập khuôn khổ pháp lý chung (luật chơi chung) đối với
các nước thành viên trước hết cần giải quyết một số vấn đề có liên quan tới các

quy định thuế quan, hải quan, chuẩn mực lao động, môi trường sinh thái, chất
lượng sản phẩm.
- Vấn đề giải quyết công bằng, bình đẳng trong xã hội và giữa các nước
trong nội bộ khu vực. Khả năng thu được lợi ích tối đa của mỗi quốc gia khi
hội nhập vào nền kinh tế các nước trong khu vực. Do diều kiện cụ thể của mỗi
nước, do trình độ phát triển kinh tế còn khác nhau, các doanh nghiệp tham gia
hoạt động trong điều kiện hội nhập cũng không giống nhau nên mức độ thu lợi
cũng có thể khác nhau. Chính vì vậy việc điều hoà các lợi ích giữa các quốc
gia và trong nội bộ quốc gia xét cả ở trên tầm vĩ mô và vi mô trở nên cực kỳ
quan trọng.
2.
Sự ra đời của AFTA .
Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế thế giới đã đặt ra
những thử thách to lớn không thể vượt qua với hiệp hôị các quốc gia Đông
Nam á. Nếu không có sự cố gắng chung của toàn hiệp hội , đó là sự xuất hiện
của những tổ chức hợp tác khu vực như EU,NAFTA mà ASEAN e ngại sẽ trở
thành các khối thương mại khép kín. Do đó sẽ làm cho hàng hoá của ASEAN
vấp phải những trở ngại khi thâm nhập các thị trường này. Mặt khác AEAN
đang mất dần lợi thế so ánh về tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực để thu hút
đầu tư nước ngoài so với Trung Quốc, Nga và các nước Đông Âu. Kinh tế
ASEAN tăng trưởng với nhịp độ cao nhưng vẫn phụ thuộc vào nguồn vốn bên

11
ngoài. Năm 1992 theo sáng kiến của Thái lan , hội nghị thượng đỉnh các nước
ASEAN họp tại Singapo đã quyết định thành lập khối mậu dịch tự do Asean:
AFTA với ba mục tiêu cơ bản:
 Tự do hoá thương mại Asean bằng việc loại bỏ các hàng rào thúê
quan trong nội bộ khu vực và cuối cùng là các rào cản phi thuế
quan .
 Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực bằng việc đưa ra

một khối thị trường thống nhất.
 Làm cho Asean thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế
đang thay đổi đặc biệt là phát triển các thoả thuận thương mại khu
vực trên thế giới.
Để biến ASEAN thành khu vực mậu dịch tự do và thực hiện các mục tiêu
của AFTA thì các nước thành viên đã kí kết Hiệp định ưu đãi thuế quan có
hiệu lực chung CEPT. Đây là động lực quan trọng nhất. Nội dung của CEPT là
trong vòng 10 năm (19 93-2003) giảm thuế quan trong thương mại nội bộ
Asean xuống còn từ 0- 5% đối với sáu nước thành viên cũ Asean vào năm
2006 đối với Việt Nam và muộn hơn với Lào, Campuchia đồng thời loại bỏ tất
cả các hạn chế về định lượng và các hàng rào phi thuế quan. Để thực hiện
chương trình giảm thuế này, toàn bộ các mặt hàng trong doanh mục biểu thuế
quan của mỗi nước được chia vào 4 danh mục sau:
1. Danh mục các sản phẩm giảm thuế gồm các mặt hàng được đưa
vào cắt giảm thuế quan ngay với lịch trình giảm nhanh và giảm bình thường.
2. Danh mục sản phẩm tạm thời chưa giảm thuế gồm các mặt hàng
tạm thời sẽ chưa phải giảm thuế và sau một thời gian nhất định các quốc gia
phải đưa toàn bộ các mặt hàng này vào danh mục giảm thuế.

12
3. Danh mục sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm, các mặt
hàng trong doanh mục này có thời hạn cắt giảm thuế quan muộn hơn, cụ thể là
năm 2010 hoăc muộn hơn nữa đối với mặt hàng nhạy cảm cao.
4. Danh mục loại trừ hoàn toàn gồm những sản phẩm không tham
gia Hiệp định CEPT. Đây là có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, đạo đức…
Bên cạnh việc cắt giảm thuế quan ,CEPT còn quy định việc xoá bỏ hạn
chế về số lượng nhập khẩu , các rào cản phi thuế quan khác và lĩnh vực hợp
tác trong lĩnh vực hải quan.
Hiệp định CEPT áp dụng mọi sản phẩm chế tạo kể cả sản phẩm nông sản.
Muốn được hưởng ưu đãi giảm thuế trong khuôn khổ CEPT cần thoả mãn hai

điều kiện sau.
1. Phải là sản phẩm nằm trong doanh mục sản phẩm giảm thuế và
được hội đồng AFTA xác nhận.
2. Các sản phẩmphải có tối thiểu 40%giá trị được chế tạo từ các
nước thành viên Asean.
3. Sản phẩm đó phải nằm trong danh mục cắt giảm thuế của cả
nước nhập và nước xuất khẩu, và phải có mức thuế quan(nhập khẩu)bằng
hoặc thấp hơn 20%.

III. Sự cần thiết gia nhập AFTA của Việt Nam.

Chuyển sang nền kinh tế mở, Việt nam đanh từng bước hội nhập vào xu
thế tự do hoá thương mại toàn cầu, trong đó việc tham gia AFTA của VN
được coi là bước khởi đầu quan trọng nhất, có thể ví như cuộc diễn tập toàn
diện đầy đủ để chuẩn bị gia nhập diễn đàn hợp tác Châu Á - TBD cũng như tổ
chức thương mại thế giới WTO.

13
Ngày 28.7.1995, VN trở thành thành viên chính thức, với tư cách là
thành viên của hiệp hội, tháng 12 năm 1995 tại hội nghị thượng đỉnh các nước
ASEAN lần thứ 5, VN đã thực hiện chương trình ưu đãi về thuế quan có hiệu
lực chung CEPT bắt đầu 1/1/1996 công bố danh mụcvà tiến hành cắt giảm
thuế quan cho cả lộ trình 1996-2000.
Việt Nam tham gia Asean, thực hiện AFTA/ CEPT trong hoàn cảnh
kinh tế không giống các nước thành viên khác. Hiện nay Việt Nam đang ở giai
đoạn đầu của công cuộc CNH, HĐH đất nước. Nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc
hậu rất nhiều so với các nước trong khu vực Thu nhập quốc dân của nước ta
còn rất thấp, tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn rất nhỏ bé, cơ cấu kinh tế còn
rất lạc hậu , mặc dù công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao 18,7% năm 2000
so với 1999, nhưng tỷ trọng ngành Công Nghiệp trong toàn bộ nền KTQD còn

thấp. Ngành công nghiệp chế biến chiếm 80,5% toàn ngành Công nghiệp và
chiếm 18,7 % tổng sản phẩm quốc dân.
Kim ngạch xuất khẩu còn nhỏ bé. Tổng kim ngạch XK hai chiều bình
quân của giai đoạn 1996-2000 là 22,5 tỷ USD. Tỷ trọng XK trong GDP bình
quân 1996 -2000 là 37,6%.
Tình hình xuất khẩu thời kì 1995- 2000
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Kim ngạch 5448 7255 9185 9361 11523 14308
Tốc độ tăng(%) 34,4 33,2 26,6 21,9 23,1 23,9

Nguồn niên giám thống kê 1998 và báo cáo của Bộ Thương Mai


14
Tỷ lệ hàng sơ chế trong tổng giá trị xuất khẩu vẫn cao 54,8% trong khi
một số nước Asean, tỷ lệ hàng chế biến hay đã tinh chế thường cao hơn như
Indônêxia 52%, Malayxia 85%, Philippin 75%, Singapo 80%, Thái Lan 71%.
Đặc biệt khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường
thế giới thường thấp do chất lượng thấp, giá cả cao, mẫu mã không phong phú
hệ thống pháp luật yếu và chưa tương thích với luật pháp của các quốc gia
trong khu vực, đội ngũ cán bộ còn yếu kém.
Trong hoàn cảnh như vậy ,Việt Nam tham gia vào AFTA là một tất yếu
không những vì Việt Nam đã là thành viên của ASEAN mà còn do những tác
động tích cực của nó đối với sự phát triển kinh tế của đất nước ta. Chính
những thực trạng khó khăn trên của Việt Nam lại là cơ hội để Việt Nam tham
gia AFTA
Hội nhập AFTA là điều kiện để Việt Nam đẩy mạnh quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HDH, phấn đấu đưa Việt Nam trở thành
một nước công nghiệp vào năm 2002.
Do Việt Nam phải cắt giảm thuế theo hiệp định CEPT nên giá cả hàng

hoá Asean nhập vào Việt Nam sẽ trở nên rẻ làm tăng số dư của người tiêu
dùng.
Hội nhập AFTA sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu hàng hoá sang
các nước Asean vì hàng rào của họ cũng được cắt giảm thuế bảo hộ như của
mình.
Một thị trường rộng lớn với đòi hỏi không quá cao về chất lượng sẽ được
mở ra cho các DNVN, thị trường tiêu dùng được mở rộng ra là một yếu tố
giúp VN huy động tiềm năng lao động và tài nguyên dồi dào của mình và tăng
xuất khẩu kể cả đối với các hàng hoá xuất khẩu sang thị trường ngoài Asean
thì lợi ích mà AFTA mang lại cho Việt Nam là giảm giá thành sản xuất nhờ

15
mua được vật tư đầu vào với gía hạ hơn từ các nước Asean. Chính điều đó làm
cho Việt Nam hấp dẫn hơn trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.
Trước sự cạnh tranh khốc liệt khi nhà nước giảm thuế theo CEPT sẽ
buộc cả phiá nhà nước và phía các doanh nghiệp công nghiệp cố gắng hội
nhập, có những thay đổi trong tư duy, trong chính sách , chiến lược để tạo ra
môi trường pháp lý, kinh doanh, đầu tư hiệu quả hơn, học hỏi, tiếp thu nâng
cao trình độ để có thể tham gia vaò cuộc cạnh tranh đầy khốc liệt.
Hội nhập AFTA sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam hình thành mở rộng hơn
nữa các mối quan hệ giữa nền kinh tế Việt Nam với khuôn khổ nền kinh tế
chung của khu vực và thế giới. Đây chính là cơ hội nữa để nền kinh tế Việt
Nam bắt kịp với những xu hướng chung của khu vực và thế giới, tìm ra tiếng
nói chung, chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng quốc tế mà trước hết là với các
nước trong khối mậu dịch tự do Asean, mở ra một thế đứng vững vàng hơn
trong quan hệ của Việt Nam với các liên minh quốc tế khác, đặc biệt là với
liên minh Châu Âu, khu vực Mậu dich tự do Bắc Mỹ,NAFA , WTO, APEC..


16

CHƯƠNG II: HỘI NHẬP AFTA –CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

I
. Thực trạng, vị thế của các DNCNVN trong khu vực

1/ Thực trạng :
a / Thành tựu:

Từ khi nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị
trường, nhà nước thực hiện các chính sách mở cửa thì nền kinh tế nói chung và
các DNCNVN nói riêng đã đạt được một số thành tựu đáng mừng.
Tổng kim ngạch xuất khẩu hai chiều bình quân của giai đoạn 1999-
2000 là 22,5 tỷ USD so với 7,5 tỷ USD trong thời kỳ 1990- 1995. Tỷ trọng
xuất khẩu trong GDP bình quân tăng từ 26,4% trong 1990-1995 lên 37,6%
năm 1996-2000. Chúng ta dã mở rộng quan hệ quốc tế , kí hiệp định thương
mại với 60 nước (đặc biệt mối quan hệ với Mỹ vào tháng 7/2000). Năm 1995
chúng ta có quan hệ buôn bán với trên 100 nước và vùng lãnh thổ, nay là 170
nước và khắp các châu lục. Công nghiệp có mức tăng trưởng cao đạt 15,7%
năm 2000 so với 1999, khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 9,5%, khu vực
doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 11,5% , khu vực doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài tăng 21,8%.
Các doanh nghiệp nhà nước đã được cải tổ, sắp xếp lại sản xuất nên số
doanh nghiệp nhà nước giảm từ 1993 năm 1995 xuống còn 1786 năm 2000.
Vốn cũng được củng cố tăng cường, nguồn vốn tăng 113% từ 59798 tỷ năm
1995 lên 127594 tỷ năm 2000.
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được tăng lên về số
lượng , giai đoạn 1996-2000 tăng thêm hơn 500 doanh nghiệp .Vốn đầu tư
tăng 28,5%/ năm.


17
Khu vực tư nhân cũng ngày càng phát triển cả về số lượng và phạm vi
hoạt động.
Thị trường trong nước thì các doanh nghiệp của ta ngày càng củng cố
được vai trò và chỗ đứng của mình, dần dần khôi phục lòng tin đối với khách
hàng thông qua chỉ tiêu chất lượng ngày càng được nâng cao, giá thành giảm
xuống, mẫu mã phong phú phù hợp với thị hiếu, nhu cầu khách hàng trong
nước và quốc tế.
b/ Hạn chế:
Tuy nhiên, đó chỉ là những thành tựu bước đầu nhỏ bé so với các nước
trong khu vực, chúng ta vẫn còn một khoảng cách khá xa cần vượt qua. Các
DNCNVN còn yếu thế và lực. Cơ sở hạ tầng , máy móc thiết bị của các doanh
nghiệp còn thiếu đồng bộ và lạc hậu. Ngoài các xí nghiệp do nước ngoài đầu
tư, các xí nghiệp công nghiệp trong nước chỉ có khoảng được coi là trang thiết
bị vào loại tương đối tiên tiến, tốc độ đổi mới thiết bị công nghệ còn khiêm
tốn, khoảng 10 –11%. Điều này đã hạn chế rất nhiều đối với nâng cao chất
lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất. Nhiều sản phẩm sản xuất trong nước
có giá cao hơn sản phẩm cùng loại nhập khẩu từ 20 –40%.
Các DNCNVN hiện nay vẫn chưa coi trọng vấn đề nâng cao chất lượng
sản phẩm để tăng klhả năng cạnh tranh. Đến giữa năm 1999, cả nước mới có
trên 100 doanh nghiệp được cấp chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng ISO 9000,
trong đó DNNN chiếm 70%, riêng vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ mới có 16
xí nghiệp. Phần nhiều các DNCNVN phải dựa vào đối tác nước ngoài biểu
trưng, thiết kế sản phẩm, quy trình công nghệ tiếp thị và phân phối sản phẩm.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao và đang có xu hướng giảm dần.
Theo báo cáo của phòng Thương Mại Việt Nam số nợ phải trả của DNNN
bằng 12% vốn của Nhà nước trong khi nợ phải thu chiếm 60% nợ phải trả.

×