Tải bản đầy đủ (.docx) (46 trang)

CƠ sở lý LUẬN về QUẢN lí dạy học môn TIN học ở TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG THEO CHUẨN kĩ NĂNG sử DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN cơ bản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (209.42 KB, 46 trang )

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ DẠY HỌC
MƠN TIN HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG THEO CHUẨN KĨ NĂNG SỬ DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CƠ BẢN

Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Trong bất kì giai đoạn lịch sử nào, giáo dục cũng có
vai trị quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hóa,
chính trị, xã hội của mọi quốc gia. Giáo dục có chức năng
quan trọng là tái sản xuất sức lao động xã hội, phục vụ cho
sự phát triển xã hội. Vì vậy, giáo dục ln được chú trọng
và phát triển, không ngừng được cải tiến để phù hợp với
thời đại.
Cùng với xu thế tồn cầu hóa và hội nhập quốc tế,
nguồn nhân lực được đào tạo phải có chun mơn cao, kĩ
năng nghề nghiệp thuần thục và tay nghề vững vàng. Trước
yêu cầu đó, phát triển một cách toàn diện các kĩ năng nghề
nghiệp, kĩ năng sống và giao tiếp bằng con đường giáo dục,
trong đó có kĩ năng hỗ trợ phát triển nghề nghiệp (kĩ năng
sử dụng công nghệ thông tin) cho mỗi cá nhân là rất quan
trọng.


*Các nghiên cứu về dạy học môn Tin học ở trường
THPT và dạy học môn Tin học ở trường THPT theo chuẩn
kĩ năng sử dụng CNTT cơ bản
Ngày 11 tháng 03 năm 2014, Bộ trưởng Bộ Thông tin
và Truyền thông ban hành Thông tư 03/2014/TT-BTTT quy
định chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin [26]. Điều
này khiến các trung tâm tin học, các cơ sở giáo dục nói
chung và trường THPT nói riêng phải thay đổi phương thức


cũng như chuẩn đầu ra nhằm hướng tới đạt được kỹ năng sử
dụng CNTT.
Trên thực tế, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về việc dạy
học môn Tin học. Tác giả Ngô Thị Tú Quyên (2013),
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên nghiên
cứu đề tài “Dạy học Tin học ở trường Trung học phổ thông
theo định hướng tăng cường năng lực ứng dụng tin học học
vào thực tiễn”. Kết quả của đề tài đã đề xuất một số biện
pháp sư phạm trong dạy học Tin học nhằm phát triển các
năng lực ứng dụng Tin học vào cuộc sống đó là:
- Hiểu rõ ứng dụng của tin học trong cuộc sống (các
phần mềm, các kiến thức trong SGK…).


- Đứng trước một vấn đề cụ thể trong cuộc sống, HS
biết được phải sử dụng tin học như thế nào để giải quyết bài
toán thực tiễn đang đặt ra mà trước hết là sử dụng tin học để
hỗ trợ việc học tập các bộ môn khác.
- Phát hiện được trong cuộc sống những vấn đề có thể
xử lý bằng các kiến thức, công cụ tin học mà HS đã được
trang bị trong mơn tin học.
- Có khả năng tự tìm hiểu và sử dụng được các ứng
dụng tin học (ngồi những kiến thức được trình bày trong
SGK) để giải quyết các vấn đề trong học tập và ngoài thực
tiễn.
- Có khả năng sử dụng các ngơn ngữ lập trình để phát
triển, mở rộng, tạo mới các công cụ tin học để ứng dụng
trong học tập và vào thực tiễn [21].
Năm 2015, đề tài “Thiết kế chương trình mơn Tin học
ở trường Trung học phổ thông theo tiếp cận đầu ra” được

nghiên cứu bởi nhóm tác giả Phạm Kim Chung, Tôn Quang
Cường khoa Sư phạm, Đại học Giáo dục – Đại học Quốc
gia Hà Nội. Trong đề tài, các tác giả đã đề xuất chương
trình mơn tin học cấp THPT theo các giai đoạn: Phổ biến
CNTT; Ứng dụng CNTT trong các mơn học, Tích hợp


CNTT trong chương trình giảng dạy và Chuyên sâu CNTT,
xây dựng chuẩn đầu ra cho môn học Tin học và chuẩn cho
các khối lớp, từ đó xác định được các nội dung dạy môn tin
học ở các khối lớp với quan điểm chương trình có cấu trúc
mở, theo tiếp cận nhiều đầu ra, phù hợp phân hóa năng lực
và nhu cầu đối tượng, thuận tiện lồng ghép, tích hợp và gắn
với thực tiễn [5].
Về công tác dạy học môn Tin học theo chuẩn kỹ năng
sử dụng CNTT cơ bản, tại khoa Công nghệ thông tin,
trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương có đề tài “Xây dựng
hệ thống bài tập trắc nghiệm theo chuẩn kĩ năng sử dụng
CNTT” năm 2014 và đề tài “Xây dựng phần mềm hỗ trợ
đánh giá theo chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT cơ bản” năm
2015. Kết quả là hình thành được hệ thống bài tập trắc
nghiệm và phần mềm hỗ trợ để đánh giá kĩ năng sử dụng
CNTT. Từ đó, góp phần nâng cao kĩ năng sử dụng CNTT
cho HS.
Từ kết quả của những nghiên cứu ở trên, chúng ta thấy
rằng hầu hết các tác giả tập trung vào vấn đề dạy học theo
hướng tăng cường năng lực ứng dụng Tin học vào cuộc
sống, thiết kế chương trình mơn Tin học theo tiếp cận đầu
ra, xây dựng những cách thức đánh giá và kiểm tra theo



chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT nhưng theo Thông tư
03/2014/TT-BTTT thì vẫn cịn thiếu và chưa rõ các kĩ năng
sử dụng cho người học.
*Các đề tài nghiên cứu về quản lí dạy học mơn Tin
học ở trường THPT và quản lí dạy học mơn Tin học ở
trường THPT theo chuẩn kĩ năng sử dụng CNTT cơ bản
Như đã nói ở trên, do ảnh hưởng của xu hướng tồn
cầu hóa, hội nhập quốc tế và việc ban hành thông tư quy
định chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT khiến cho việc dạy học
mơn Tin học phải có những thay đổi nhất định. Do vậy, hoạt
động quản lí dạy học mơn tin ở trường THPT cũng phải
thay đổi. Nhằm hướng tới việc nâng cao chất lượng quản lí
dạy học mơn Tin học ở trường THPT ở mức cao nhất, nhiều
đề tài hướng tới việc nghiên cứu vấn đề này. Tiêu biểu đề
tài như luận văn thạc sĩ của tác giả Võ Hoàng Phi Long
(2008) nghiên cứu “Thực trạng cơng tác quản lí hoạt động
giảng dạy môn Tin học tại các trường trung học phổ thông
ở Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang”. Từ việc phân tích
thực trạng hoạt động giảng dạy mơn Tin học ở trường
THPT Thành phố Mỹ Tho, tác giả đề xuất 9 biện pháp:
Nâng cao nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của việc
xây dựng và phát triển đội ngũ GV; Xây dựng quy hoạch


phát triển đội ngũ GV; Tổ chức bồi dưỡng thường xuyên về
chuyên môn nghiệp vụ tin học cho đội ngũ GV; Tăng cường
cơng tác quản lí, chỉ đạo chun mơn đối với tổ bộ môn;
Tăng cường cải tiến PPDH; Tăng cường hướng dẫn phương
pháp học, kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của HS;

Nâng cao trình độ tin học, năng lực quản lí của cán bộ quản
lí; Tăng cường cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ
giảng dạy và Xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp quy,
chính sách đãi ngộ đối với cơng tác giảng dạy [29].
Tác giả Lê Văn Hòa (2006) nghiên cứu “Thực trạng
cơng tác quản lí việc giảng dạy Tin học tại các trường
trung học phổ thơng tỉnh Khánh Hịa và một số giải pháp”.
Qua đó, tác giả đã phân tích thực trạng cơng tác quản lí
giảng dạy Tin học từ nội dung chương trình giảng dạy, cơ
sở vật chất, đội ngũ GV, quản lí việc giảng dạy và quản lí nề
nếp HS. Từ đó, đề xuất 5 nhóm biện pháp đó là nhóm biện
pháp tác động về số lượng; tác động về chất lượng; tác động
đến quản lý và môi trường phát triển đội ngũ cán bộ quản
lý, GV tin học; tác động về nguồn lực và tác động về chính
sách nhằm nâng cao chất lượng quản lí giảng dạy tin học ở
tỉnh Khánh Hòa [15].


Có thể thấy, các đề tài đều đã nghiên cứu và phân tích
thực trạng cơng tác quản lí dạy học Tin học trong các nhà
trường phổ thông một cách đầy đủ. Song việc quản lí dạy
học mơn Tin học theo chuẩn kĩ năng sử dụng CNTT cơ bản
thì chưa được phân tích một cách rõ ràng và cụ thể theo
Thơng tư 03/2014/TT-BTTT đã chỉ ra.
Dạy học môn Tin học ở trường trung học phổ
thông theo chuẩn kĩ năng sử dụng CNTT cơ bản
Khái niệm dạy học, dạy học môn tin học
- Dạy học
Khi bàn về vấn đề này, nhiều tác giả cho rằng [24]:
Dạy học là toàn bộ các thao tác có mục đích nhằm chuyển

các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa mà
nhân loại đã đạt được vào bên trong một con người. Điều đó
trái ngược lại quan niệm của Socrate: “Bất cứ ai cũng có
thể tự mình tìm đến chân lý nếu được hỗ trợ bằng phương
pháp thích hợp, như hình thức tương tự ở các bà đỡ. Bằng
một số động thái, bà đỡ giúp cho thai nhi rời lòng mẹ; bằng
những câu hỏi thích hợp, người ta khiến chân lý thốt ra từ
trí não kẻ đối thoại” [20].


Theo giáo trình Giáo dục học, tác giả Nguyễn Ngọc
Bảo lại quan niệm rằng “Dạy học là một quá trình dưới sự
lãnh đạo, tổ chức và điều khiển của người GV, người học tự
giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động
nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm
vụ giảng dạy” [24]. Chúng tôi tiếp cận theo quan điểm này
để nghiên cứu đề tài.
- Dạy học mơn Tin học
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về Tin học.
Theo tác giả Hồ Sĩ Đàm, Tin học là một ngành khoa học có
mục tiêu phát triển và sử dụng máy tính điện tử để nghiên
cứu cấu trúc, tính chất của thơng tin, phương pháp thu thập,
lưu trữ, tìm kiếm, biến đổi, truyền thơng tin và ứng dụng
vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội [8].
Như vậy, trong nhà trường, thông qua môn Tin học,
trước hết là giáo dục cho HS phương pháp làm việc có kế
hoạch, theo những chương trình định sẵn, là những điểm cơ
bản của tư duy thuật tốn. Đây là phẩm chất khơng những
cần thiết cho HS mà cho bất kỳ người nào muốn thành đạt
trong nghiên cứu, sản xuất, quản lí. Đồng thời những kĩ

năng soạn thảo văn bản, lập bảng biểu, sơ đồ… giúp cho


HS tạo ra và tổ chức, biểu diễn các thông tin của mình
thơng qua các thơng tin đã thu nhận được, và như vậy đã
biến tri thức của xã hội thành hiểu biết của mình.
Việc dạy học Tin học ở trường phổ thông nhằm cung
cấp các kiến thức phổ thông và hình thành các kĩ năng cơ
bản của Tin học, CNTT và truyền thông cho HS làm cơ sở
ban đầu cho việc đào tạo nguồn nhân lực tương lai, đáp ứng
u cầu cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hướng tới
nền kinh tế tri thức trong bối cảnh xã hội ngày càng chịu
tác động mạnh mẽ của thành tựu CNTT và truyền thông.
Từ những quan điểm trên, chúng tôi hiểu dạy học môn
Tin học là: Dạy học môn Tin học là một quá trình dưới sự
lãnh đạo, tổ chức và điều khiển của người GV, người học tự
giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động
nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm
vụ dạy học môn Tin học.
Đặc điểm dạy học môn Tin học ở trường trung học
phổ thông
Môn Tin học cho HS phổ thơng có những đặc thù rất
quan trọng sau đây:


*Thực hành trên máy tính là bắt buộc và là một cấu
thành của bài giảng lý thuyết
Đối với môn Tin học rất khó dạy khi GV hồn tồn
khơng được dùng máy tính để minh họa hay thực hành các
thao tác mẫu của bài học. Nếu thầy và trò trên lớp được học

tập hoàn toàn với phấn và bảng (học chay), việc tiếp thu
kiến thức bài học có thể suy giảm đến 90% [6]. Theo thiết
kế của chương trình, sách giáo khoa Tin học, các kiến thức
của bài học được trình bày theo hướng giúp người học có
kiến thức cơ bản để vận dụng thực hành trên máy tính.
*Nhiều kiến thức và bài học được diễn đạt thông qua
các bước thực hành và thao tác cụ thể trên máy tính
Rất nhiều bài học (các bài học thực hành) được diễn
đạt hoàn tồn thơng qua các thao tác cụ thể với phần mềm.
Đây là đặc điểm mà GV phải chú ý để chủ động trong việc
diễn đạt bài học trong trường hợp khơng có máy tính trình
diễn trên lớp.
*Kiến thức mơn học gắn liền với công nghệ và thay
đổi rất nhanh trên thế giới
Đặc thù này làm cho Tin học khác hẳn so với tất cả các
mơn học có liên quan đến công nghệ hay học nghề khác. Sự


phát triển của công nghệ phần mềm là để đáp ứng những
yêu cầu đa dạng của công việc.
*Khái niệm “tay nghề” Tin học có thể được hiểu và
đánh giá theo nhiều cách và quan điểm đa dạng khác nhau
Thông thường chúng ta hiểu “nghề” và đánh giá “tay
nghề” theo các kĩ năng và thao tác cụ thể thuần túy “cơ
học”. Đối với các môn khác, bản thân môn học là khép kín
với các tiêu chuẩn tương đối rõ ràng để đánh giá “tay
nghề”. Còn đối với Tin học khái niệm “nghề” lại có thể
được hiểu theo nhiều cách khác nhau bởi Tin học có liên
quan trực tiếp đến rất nhiều ngành nghề, khoa học khác
nhau. Chương trình Tin học này chỉ giới hạn trong phạm vi

bản thân các kiến thức và kĩ năng cơ bản và nội tại của
CNTT.

*Môi trường thực hành rất đa dạng và không thống
nhất
Đây cũng là một đặc thù rất nổi bật của bộ môn Tin
học. Chỉ nói riêng về hệ điều hành kiểu Windows cũng đã
có rất nhiều phiên bản khác nhau hiện đang được dùng tại
Việt Nam, như: Windows 95, 98, 98SE, ME, 2000


Professional, 2000 Server, XP Professional, XP Home, win 7,
win 8, win 10. Hệ thống cấu hình đĩa đi kèm các tại các máy
tính cũng rất đa dạng. Các máy tính có thể có một, hai hay
nhiều hơn các ổ đĩa cứng trong máy tính. Hệ thống file chính
của hệ điều hành không nhất thiết được cài đặt trong đĩa cứng
C. Trên các máy tính thậm chí có thể cài đặt song song nhiều
hệ điều hành khác nhau. GV cần có chủ động cao nhất khi
giảng dạy lí thuyết cũng như hướng dẫn thực hành cho HS.
Thông tin trong các tài liệu giáo khoa chỉ mang tính pháp lí
về kiến thức mơn học chứ khơng áp đặt qui trình thao tác trên
máy tính. Với mỗi bài học cụ thể, tùy vào các điều kiện thực
tế mà GV có thể hồn tồn chủ động trong việc trình bày
khái niệm, minh họa thao tác trên máy tính sao cho dễ hiểu
nhất đối với HS [6].
Từ các đặc thù quan trọng nêu trên, có thể rút ra một
số đặc điểm về dạy học môn Tin học khi đưa vào dạy học
trong nhà trường phổ thông như sau:
*Việc dạy học Tin học cần được tiến hành một cách
linh hoạt, không nên quá áp đặt các tiêu chuẩn đánh giá

chặt về phương pháp, hình thức tổ chức như các môn học
khác trong nhà trường.


Trong nhà trường phổ thông, dạy học môn Tin học địi
hỏi sự kết hợp song song giữa học lí thuyết và bài tập. Do
đó, cần thiết phải có sự linh hoạt về phương pháp cũng như
hình thức tổ chức trong dạy học môn Tin học. Chẳng hạn,
nếu đơn vị kiến thức nào mới và việc thực hành của HS gặp
khó khăn thì GV cần dành nhiều thời gian hơn và ngược lại.
Về phương pháp dạy học Tin học chủ yếu là thực hành, dạy
học theo dự án, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo được
tiến hành độc lập hoặc có thể tích hợp với các mơn khác.
*Ưu tiên tối đa trang thiết bị cho GV khi giảng dạy
môn Tin học
Như đã nói ở trên, dạy học mơn Tin học địi hỏi sự kết
hợp song song giữa học lí thuyết và bài tập. Nhiều kiến thức
và bài học được diễn đạt thông qua các bước thực hành và
thao tác cụ thể trên máy tính thì HS mới có thể hình dung ra
được. Vì vậy, việc đảm bảo trang thiết bị trong q trình
dạy học cũng rất quan trọng bởi nó có thể ảnh hưởng trực
tiếp với chất lượng dạy học.
*GV dạy môn Tin học và Nhà trường
GV dạy môn tin học cần cập nhật kiến thức thường
xuyên và cần được kiểm tra kiến thức thường xuyên. Nhà


trường cần tạo điều kiện cho các GV có điều kiện học tập,
nâng cao kiến thức và kinh nghiệm. Đồng thời, GV phải tự
bồi dưỡng, rèn luyện để nâng cao trình độ đáp ứng u cầu

dạy học của mơn học.
Chuẩn kĩ năng sử dụng CNTT cơ bản
Theo Vụ Công nghệ thông tin, Bộ Thông tin và Truyền
thông, chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT khơng phải là chương
trình đào tạo mà là một ma trận kiến thức và kĩ năng mà
người lao động cần có để đảm đương một cơng việc cụ thể
trong mơ hình hoạt động của cơ quan sử dụng nhân lực
và xuất phát từ nhu cầu của người sử dụng lao động. Chuẩn
kĩ năng có tính mở, được mơ tả bởi tên, nhiệm vụ mà người
làm vị trí tương ứng phải thực hiện được, kiến thức và kĩ
năng cần có để đảm bảo hồn thành nhiệm vụ [4].
Chuẩn kĩ năng có 2 loại: cho người sử dụng CNTT nói
chung và chuyên nghiệp – gắn liền với một nghề cụ thể, có
thể áp dụng cho cả khu vực cơng và tư.
Theo Thông tư 03/2014/TT-BTTT của Bộ Thông tin
và Truyền thông, chuẩn kĩ năng sử dụng CNTT cơ bản gồm
06 mô đun sau:
- Mô đun kĩ năng 01: Hiểu biết về CNTT cơ bản.


- Mơ đun kĩ năng 02: Sử dụng máy tính cơ bản.
- Mô đun kĩ năng 03: Xử lý văn bản cơ bản.
- Mô đun kĩ năng 04: Sử dụng bảng tính cơ bản.
- Mơ đun kĩ năng 05: Sử dụng trình chiếu cơ bản.
- Mơ đun kĩ năng 06: Sử dụng Internet cơ bản.
(Chi tiết ở phần phụ lục 1)
Các thành tố của dạy học môn Tin học theo chuẩn kĩ
năng sử dụng CNTT cơ bản
Mục tiêu dạy học môn Tin học theo chuẩn kĩ năng sử
dụng CNTT cơ bản

*Mục tiêu chung
Môn Tin học nhằm cung cấp cho HS những kiến thức
phổ thông về ngành khoa học Tin học, hình thành và phát
triển khả năng tư duy thuật tốn, năng lực sử dụng các
thành tựu của ngành khoa học này trong học tập và trong
các lĩnh vực hoạt động của mình sau này.
*Mục tiêu cụ thể


Trong chương trình giáo dục phổ thơng hiện hành,
mơn Tin học là mơn học chính khóa và được dạy ở tất cả
các trường THPT khắp cả nước. Theo dự thảo chương
trình giáo dục phổ thơng mới, ở cấp Tiểu học và THCS,
môn Tin học là môn tự chọn 3. Ở cấp THPT, môn Tin học
(cùng với một số môn học khác) là mơn tự chọn 2, dành cho
những HS có sở thích và khả năng muốn theo ngành, nghề
thuộc lĩnh vực ICT tự chọn. Điều này góp phần giảm các
mơn học bắt buộc, tăng các môn học và chuyên đề học tập
tự chọn theo nhu cầu, sở thích, nguyện vọng của HS, đáp
ứng yêu cầu giai đoạn định hướng nghề nghiệp (cấp THPT)
[2].
Theo tác giả Hồ Sĩ Đàm, trường Đại học Công nghệ Đại học Quốc gia Hà Nội, môn Tin học giúp cho HS hình
thành và phát triển năng lực ứng dụng CNTT – truyền thông
như là một công cụ để mở rộng khả năng tiếp nhận tri thức
và sáng tạo trong bối cảnh bùng nổ thông tin, đáp ứng u
cầu của thời đại số hóa và tồn cầu hóa, biến q trình đào
tạo thành q trình tự đào tạo. Có 03 nhóm mục tiêu chính
tương ứng theo các định hướng: học vấn số hóa phổ thơng
(DL), ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông (ICT)
và Khoa học máy tính (CS) [2].



Như vậy, mục tiêu của dạy học Tin học theo chuẩn kĩ
năng sử dụng CNTT cơ bản như sau:
Về kiến thức: Trang bị cho HS một cách tương đối có
hệ thống các khái niệm cơ bản nhất ở mức phổ thông về Tin
học – một ngành khoa học với những đặc thù riêng – các
kiến thức về hệ thống, thuật tốn, cấu trúc dữ liệu, lập
trình, cơ sở dữ liệu và hệ quản trị cơ sở dữ liệu.
Về kỹ năng: HS bước đầu biết sử dụng máy tính, biết
soạn thảo văn bản, sử dụng Internet, khai thác được các
phần mềm thơng dụng, giải được các bài tốn đơn giản
bằng máy tính, bước đầu sử dụng được một hệ quản trị cơ
sở dữ liệu quan hệ cụ thể.
Về thái độ: Rèn luyện HS phong cách suy nghĩ và làm
việc khoa học như sự ham hiểu biết, tìm tịi sáng tạo, chuẩn
mực, chính xác trong suy nghĩ và hành động, say mê môn
học, cẩn thận trong công việc, hợp tác tốt với bạn bè [3].
Nội dung dạy học môn Tin học theo chuẩn kĩ năng sử
dụng CNTT cơ bản
Nội dung dạy học được hiểu là những tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo mà nắm được chúng sẽ đảm bảo quá tình làm
phát triển năng lực trí tuệ và thể chất HS, hình thành thế


giới quan và đạo đức, hành vi tương ứng với nó chuẩn bị
cho họ bước vào cuộc sống lao động.
Trong các nhà trường phổ thông, nội dung dạy học
môn Tin học được thể hiện qua các bộ sách giáo khoa, giáo
án của giáo viên. Cụ thể, cấu trúc nội dung chương trình

mơn Tin học cấp THPT như sau:
Lớp 10: Nhập môn Tin học gồm các kiến thức về các
khái niệm cơ bản của Tin học; một số kĩ năng ban đầu về sử
dụng máy tính.
Lớp 11: Lập trình gồm các kiến thức về các khái niệm
về lập trình, thuật tốn, cấu trúc dữ liệu, ngơn ngữ lập trình;
kỹ năng ban đầu lập trình một số bài tốn đơn giản thơng
qua một ngơn ngữ lập trình cụ thể.
Lớp 12: Hệ cơ sở dữ liệu gồm các kiến thức về các
khái niệm ban đầu về cơ sở dữ liệu và hệ quản trị cơ sở dữ
liệu; bước dầu có kỹ năng khai thác một hệ quản trị cơ sở
dữ liệu cụ thể.
(Cụ thể nội dung được trích trong phần phụ lục 7)
Phương pháp dạy học môn Tin học theo chuẩn kĩ năng
sử dụng CNTT cơ bản


Theo quan điểm Giáo dục học, phương pháp dạy học
là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của GV và HS
trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo
của người GV nhằm thực hiên tối ưu mục tiêu và các nhiệm
vụ dạy học.
Tin học là một môn học khá đặc thù, không giống
những môn học khác. Do vậy, PPDH môn học này trong
trường phổ thông vừa kết hợp lí thuyết, vừa mang tính thực
hành. Cụ thể như sau:
*Phương pháp giảng dạy lí thuyết
Tin học là một mơn học mang tính Khoa học và Ứng
dụng điển hình. Bên cạnh các khái niệm mang nhiều ý
nghĩa khoa học và khá trừu tượng như thông tin, cấu trúc

file và thư mục, hệ điều hành, chúng ta thấy định hướng
ứng dụng rộng khắp của máy tính bao gồm phần cứng và
phần mềm. Các ứng dụng của máy tính bao phủ rộng lớn
trong mọi ngành nghề và cuộc sống. Bên cạnh việc phải
hiểu các khái niệm, ý nghĩa của vấn đề mang thuần túy tính
“Tin học” thì để hiểu sâu các ứng dụng cịn cần phải có hiểu
biết các kiến thức thuộc lĩnh vực chuyên môn của bản thân
các ứng dụng này. Phần lớn các ứng dụng của Tin học đòi


hỏi các kĩ năng thao tác, thực hành chuẩn xác và hiểu biết
chuyên ngành không thuộc Tin học.
Với những nhận xét trên, việc giảng dạy lí thuyết mơn
Tin học địi hỏi sự linh hoạt rất cao của các GV. Không thể
áp đặt kiến thức của GV hay sách giáo khoa làm chuẩn. Với
Tin học một khái niệm có thể có nhiều định nghĩa và nhiều
cách hiểu khác nhau. GV cần chú ý đến cái lõi của kiến
thức, đến kĩ năng sử dụng phần mềm và kết quả cuối cùng
của bài làm HS.
*Phương pháp dạy học theo module
Mơn Tin học có một đặc thù khá rõ nét là chương trình
được chia thành các module tương đối độc lập với nhau. Ví
dụ có các module: Hệ điều hành, Soạn thảo văn bản, Bảng
tính điện tử, Lập trình Pascal, Cơ sở dữ liệu... Mỗi module
như vậy sẽ có một đặc thù riêng trong cách giảng dạy lý
thuyết và thực hành. GV cần hiểu và phân biệt rõ các đặc
thù này. Không thể áp dụng chung một cách dạy cho tất cả
các module chương trình. Tùy theo từng module kiến thức
mà các PPDH có thể rất khác nhau. Ví dụ với module Hệ
điều hành, việc giảng chủ yếu thơng qua lí thuyết trình bày

các khái niệm và cho HS quan sát, thao các cụ thể bằng


chuột và bàn phím. Với module Soạn thảo văn bản, các thao
tác cụ thể là quan trọng nhất. Với module Lập trình Pascal,
điều quan trọng cần truyền đạt là tư duy thuật tốn, minh
hoạ bằng lập trình cụ thể trên máy tính.
*Phương pháp dạy học bằng tình huống
Kiến thức lí thuyết của môn Tin học phải gắn liền với
thực hành. Do vậy, khi dạy học Tin học trong trường phổ
thông, đặc biệt là các khái niệm, có thể thơng qua các câu
hỏi tình huống hoặc các thao tác cụ thể trên máy tính.
*Phương pháp dạy học theo nhóm
Trên lớp GV cần tổ chức HS theo các nhóm, mỗi
nhóm khoảng từ 2 đến 10 HS. Nhiệm vụ của các nhóm là:
- Cùng nhau bàn luận, trao đổi để tìm ra được lời giải
của câu hỏi hoặc bài tập mà GV đưa ra trên lớp.
- Cùng nhau thảo luận, tranh cãi về một chủ đề nào đó
do GV đưa ra.
- Cùng tiến hành thực tập một bài thực hành theo
chương trình hoặc do GV cung cấp.


- Cùng nhau thực hiện một đề tài, một nghiên cứu, lập
trình, giải một bài tốn khó hoặc một bài tập lớn.
*Phương pháp dạy học theo dự án
Dạy học theo dự án (DHDA) là một phương pháp dạy
học tích cực, tạo điều kiện cho HS chủ động và tự lực trong
mọi hoạt động để chiếm lĩnh tri thức bài học. Khi học theo
dự án, HS có cơ hội hình thành và phát triển các kĩ năng

học tập và xã hội cần thiết. Vận dụng PPDH theo dự án vào
dạy học mơn Tin học là một hướng đi hợp lí và cần thiết bởi
Tin học là mơn học lí thuyết gắn bó chặt chẽ với thực hành.
Một số định hướng để vận dụng DHDA vào bộ môn
Tin học ở trường như sau:
1. Khi DHDA giáo viên phải biết cách phân tích và lựa
chọn những nội dung kiến thức, lựa chọn bài học phù hợp
và đưa ra dự án học tập phù hợp vì khơng phải bài nào
cũng có thể dạy được theo dự án.
2. Có nhiều cách khác nhau để tổ chức DHDA, có thể
sử dụng cả bài dạy; có thể tổ chức dạy trong một buổi ngoại
khóa riêng nhưng cũng có thể lồng vào trong từng tiết dạy.
Tùy theo quỹ thời gian, cách dạy mà GV có thể điều chỉnh
để kết quả dạy học tốt hơn. Trong tiết học GV cần biết xác


định từng mốc thời điểm khác nhau, thời điểm nào là truyền
thụ kiến thức cơ bản, thời điểm nào là bắt tay vào thực hiện
dự án.
3. Trong các môn học của bậc THPT, Tin học là môn
học ứng dụng – gắn với cuộc sống sôi động hàng ngày.
Việc kết hợp “học và hành” có rất nhiều yếu tố thuận lợi để
thực hiện. DHDA đối với môn học Tin học cho phép khai
thác tối đa ưu thế của PPDH này và đặc điểm nổi bật của
mơn học. Đặc biệt chương trình Tin học có những nội dung
rất gần gũi với đời sống thực tế. Đây là điều kiện lí tưởng
để khơi nguồn cảm hứng trong hoạt động học tập của HS.
4. Khi áp dụng DHDA vào chương trình Tin học, GV
có thể lựa chọn áp dụng những dự án mang tính chất để học
sinh khám phá kiến thức mới hoặc dự án mang tính chất để

học sinh củng cố kiến thức đã học.
5. Mơn Tin học ở bậc phổ thơng có một đặc thù khá rõ
nét là chương trình được chia thành các module tương đối
độc lập với nhau. Khi áp dụng DHDA, GV cần lựa chọn
những module có nội dung kiến thức gần gũi với HS, ứng
dụng trong thực tế nhiều, thời lượng tiết bài tập thực hành
nhiều để triển khai.


Hình thức dạy học mơn Tin học theo chuẩn kĩ năng sử
dụng CNTT cơ bản
Hình thức dạy học mơn Tin học trong nhà trưởng phổ
thông rất đa dạng như: dạy học trong lớp, hoạt động trải
nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học của HS; hình thức
dạy học trực tuyến, trường học kết nối,... Ngoài việc tổ chức
cho HS thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp, cần coi
trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn HS học tập ở nhà, ở
ngoài nhà trường. Hướng dẫn và động viên HS tích cực
tham gia cuộc thi Khoa học kĩ thuật cấp quốc gia dành
cho HS trung học, cuộc thi phần mềm sáng tạo, vận dụng
kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn...
Kiểm tra, đánh giá dạy học môn Tin học theo chuẩn kĩ
năng sử dụng CNTT cơ bản
Đối với Chương trình mơn Tin học, cả hai dạng kiến
thức lí thuyết và kĩ năng thực hành đều quan trọng ngang
nhau. Do đó việc đánh giá HS sẽ được tiến hành trên cả 2
mặt trên, mỗi mặt là 50% điểm số.
Công việc đánh giá và cho điểm HS cũng được tiến
hành như đối với các mơn học khác, có đánh giá thường



xuyên và đánh giá tổng kết biểu hiện bằng các điểm miệng,
15 phút, 1 tiết và học kì.
Mơn Tin học chú trọng đánh giá năng lực, kĩ năng HS
dựa trên kết quả hoạt động, sản phẩm thông qua phối hợp
nhiều phương pháp, kỹ thuật đánh giá trong quá trình học.
Quản lí dạy học mơn Tin học theo chuẩn kĩ năng sử
dụng CNTT cơ bản
Các khái niệm cơ bản
*Quản lí
Dựa vào các cách tiếp cận khác nhau thì sẽ có những
quan niệm khác nhau về quản lí. Theo A.Fayol, “Quản lí
tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”,
còn theo Frederich William Taylor (1856–1915) lại cho
rằng “Quản lí là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì
cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất
và rẻ nhất” hoặc theo Harold Koontz: “Quản lí là thiết kế
và duy trì một mơi trường mà trong đó các cá nhân làm
việc với nhau trong các nhóm có thể hồn thành các nhiệm
vụ và các mục tiêu đã định” [7].


×