Tải bản đầy đủ (.doc) (28 trang)

Một số biện pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng phân môn lịch sử lớp 4

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (989.75 KB, 28 trang )

I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Giáo dục Tiểu học hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu đúng đắn
cho sự phát triển lâu dài về trí tuệ, tình cảm, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ
bản để các em học tiếp ở Trung học cơ sở và các bậc học cao hơn.
Lịch sử là một trong những kiến thức quan trọng cần trang bị cho học sinh
Tiểu học. Việc học tập lịch sử giúp hình thành niềm tin đạo đức, chuẩn mực về thái
độ và hành vi đúng đắn, xác định nhiệm vụ bản thân đối với quê hương, đất nước.
Phân môn Lịch sử ở lớp 4 cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản
về một số sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu theo dòng thời gian của
lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho tới nửa đầu thế kỉ XIX. Dạy môn
lịch sử là bước đầu hình thành cho học sinh các kĩ năng quan sát sự vật, hiện
tượng; thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn thông tin khác nhau, biết
đặt câu hỏi trong quá trình học tập, trình bày kết quả bằng lời nói, hình vẽ, sơ
đồ…vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống. Góp phần bồi dưỡng
ở học sinh những thái độ và thói quen: ham học hỏi, tìm hiểu để biết các kiến
thức về Lịch sử dân tộc Việt Nam, tôn trọng các di tích văn hóa...Nhằm phát huy
những ưu điểm, kịp thời khắc phục những hạn chế trong quá trình dạy học và để
giúp học sinh theo dõi tiến trình lịch sử một cách hệ thống và ghi nhớ một số sự
kiện lịch sử, nhân vật lịch sử một cách chặt chẽ, tôi nhận thấy cần phải có những
biện pháp cụ thể để tăng cường tính tích cực hóa học tập của học sinh, giúp các
em nắm vững kiến thức môn này. Học Lịch sử tốt các em sẽ hiểu và yêu thương,
kính trọng, tôn vinh các anh hùng dân tộc, yêu quý tôn trọng các chiến công hiển
hách hào hùng của ông cha ta, các di tích lịch sử…, từ đó tăng thêm lòng yêu
quê hương đất nước, tinh thần xây dựng và ý thức bảo vệ tổ quốc Việt Nam.
Những tri thức thu nhận được từ phân môn Lịch sử gắn chặt trong kí ức, tâm trí
các em và một số kiến thức sẽ được hiện thực hóa trong cuộc sống thơ ngây và
cả cuộc đời của học sinh.
Từ trước đến nay việc dạy học Lịch sử ở Tiểu học nói chung và ở lớp 4
nói riêng đã được giáo viên thực hiện nghiêm túc việc dạy đúng, đủ theo phân
phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Một số giáo viên có tâm huyết


với nghề, có kiến thức lịch sử sâu rộng cùng với việc ứng dụng công nghệ thơng
tin tốt thì khi dạy các tiết Lịch sử thường sưu tầm thêm tranh ảnh phục vụ cho
từng bài, từng hoạt động rồi trình chiếu powerpoint hay tổ chức các trò chơi...
nên học sinh rất hứng thú học. Song số giáo viên này còn rất khiêm tốn. Nhiều
giáo viên còn hiểu lơ mơ về kiến thức lịch sử, chưa nắm chắc nội dung và sử
dụng đúng phương pháp dạy học tích cực theo đặc trưng của phân mơn nên
thường sử dụng phương pháp thuyết trình hay giảng giải. Vì thế, học sinh tiếp
thu bài thụ động, ghi nhớ máy móc, học vẹt, học xong qn ngay. Chính vì lẽ đó
mà học sinh càng lên lớp cao càng ngại học môn Lịch sử dẫn đến chất lượng
môn Lịch sử ngày càng giảm sút, đến mức báo động. Đó cũng chính là lí do thúc
đẩy tơi nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng
dạy học phân môn Lịch sử lớp 4”.
1


2. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở lí luận học, với mong muốn là tìm hiểu kĩ hơn nội dung
chương trình phân mơn Lịch sử lớp 4, khắc phục một số khó khăn vướng mắc
của giáo viên và học sinh trong dạy học phân môn Lịch sử ở Tiểu học nói chung
và lớp 4 nói riêng. Từ đó, tơi tìm ra biện pháp dạy học tích cực giúp học sinh
học tốt phân môn Lịch sử lớp 4. Đồng thời bồi dưỡng cho các em tình yêu quê
hương đất nước, tinh thần xây dựng và ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
3. Đối tượng nghiên cứu.
- Một số vấn đề về thực trạng dạy học phân môn Lịch sử Tiểu học nói chung,
lớp 4 nói riêng.
- Nội dung chương trình phân môn Lịch sử lớp 4 (Theo tài liệu Hướng dẫn học
Lịch sử và Địa lí 4 – Mơ hình VNEN).
- Học sinh lớp 4B – Trường Tiểu học Hưng Lộc I – Hậu Lộc.
4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.

- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp trực quan.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.

II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận.
Chương trình Lịch sử lớp 4 đưa vào những sự kiện lịch sử từ buổi đầu
dựng nước và giữ nước (khoảng 700 năm trước Công Nguyên), …những chứng
cứ lịch sử. Qua đó các em sẽ được học cách làm việc khai thác tư liệu lịch sử
của các nhà sử học. Tài liệu Hướng dẫn học Lịch sử và Địa lí 4 đã chú ý đến các
kĩ năng của việc học tập lịch sử như: Kĩ năng quan sát và phân tích tranh ảnh
lịch sử; Kĩ năng đọc, phân tích bản đồ, sơ đồ, lược đồ, biểu đồ; Kĩ năng so sánh,
trừu tượng hóa trên cơ sở sử liệu; Kĩ năng đánh giá, giải thích các tài liệu gốc;
Kĩ năng sắp xếp hệ thống hóa các sự kiện hiện tượng lịch sử theo thời gian và
khơng gian…Từ đó các em mạnh dạn nêu thắc mắc, đặt câu hỏi và cùng tìm câu
trả lời, trình bày kết quả học tập bằng cách diễn đạt của chính mình.
Để thực hiện được mục tiêu môn học, hướng tới rèn các kĩ năng nêu trên,
yêu cầu người thầy phải có hệ thống phương pháp dạy học phù hợp với môn
học.Việc sử dụng chúng tùy vào mục đích và khả năng của người dạy và học,
tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể như: đối tượng học sinh, thiết bị dạy học và
khơng khí học tập. Trong thực tiễn khơng một giáo viên có kinh nghiệm nào lại
sử dụng đơn điệu một phương pháp trong hoạt động dạy học của mình. Nghệ
thuật dạy học là nghệ thuật phối hợp các phương pháp dạy học trong một bài
dạy của một người giáo viên.
Có thể minh họa việc đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử ở Tiểu học
bằng sơ đồ:

2



Xác định cụ thể
chính xác mục tiêu
của bài học.

Xác định các
kiến thức cần
giúp học sinh
lĩnh hội.

Thông tin tài liệu – Sự
kiện cho học sinh qua
các phương tiện và
phương pháp phù hợp.

Các hoạt động và
bài tập liên quan
đến các thành tố
của bài học.

Kiểm tra và đánh
giá.

Các hoạt động tự
học của học sinh.

Các hoạt động tổng
hợp và đánh giá.

Trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học, cần chú ý đến các mối quan hệ giữa
thầy – trò, trò – trò đối với các thao tác sư phạm nói, nghe và học.

Đối thoại là cách dạy học có hiệu quả phù hợp với học sinh Tiểu học để
nắm vững (biết và hiểu) kiến thức lịch sử, làm cho học sinh ln có nhu cầu và
hứng thú nghe bạn nói, suy nghĩ và tham gia vào quá trình trao đổi để tiếp nhận
kiến thức góp phần làm cho các bạn trong nhóm đều có thể tiếp thu kiến thức.
Trao đổi là làm cho mọi học sinh tham gia vào q trình học tập tích cực
này chứ không thụ động ngồi nghe. Qua trao đổi, giáo viên sẽ hiểu rõ từng học
sinh về cá tính, trình độ, năng khiếu, rèn luyện cho các em khả năng suy nghĩ,
diễn đạt, mạnh dạn trình bày trước các bạn trong nhóm và trước lớp.
Đóng vai là một biện pháp sư phạm quan trọng để học sinh được “sống”
với quá khứ “nhập thân” vào lịch sử và sẽ có rung cảm mạnh mẽ. Việc “đóng
vai” trong giờ học chỉ giới hạn chủ yếu ở việc đọc diễn cảm, làm các động tác
cần thiết, phù hợp với nội dung bài học. Việc “đóng vai” sẽ làm cho lớp học sinh
động hơn.
Học sinh tự trình bày những hiểu biết của mình về một sự kiện. Các em sẽ
thảo luận theo nhóm một chủ đề hoặc các vấn đề, đề tài có liên quan đến bài
học. Mỗi nhóm cử một đại diện để trình bày. Cuối buổi thảo luận, học sinh báo
những điều nhóm mình tìm ra để giúp nhau học tập.
Như vậy, trong dạy học nói chung và dạy học Lịch sử ở Tiểu học nói
riêng, người giáo viên phải biết kết hợp nhiều phương pháp dạy học vào một tiết
dạy. Không được xem nhẹ một phương pháp nào, mỗi phương pháp có những
mặt mạnh và hạn chế riêng, khơng nên tuyệt đối hóa một phương pháp. Để tổ
3


chức hoạt động dạy học hiệu quả giáo viên cần biết lựa chọn ưu thế của từng
phương pháp phù hợp với mục tiêu, nội dung của từng loại bài học nhằm phát
huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
2. Thực trạng việc dạy - học Lịch sử ở trường Tiểu học Hưng Lộc I – Hậu Lộc.
2.1. Về phía giáo viên:
Qua thực tế dạy học nhiều năm ở lớp 4 – 5, tôi nhận thấy đa số giáo viên

đã khẳng định đúng vai trò của phân môn Lịch sử trong hệ thống các môn học ở
Tiểu học. Giáo viên cho rằng phương pháp dạy học Lịch sử thật sự rất riêng biệt,
cần phải có sự đầu tư chuyên sâu về cả kiến thức lẫn phương pháp dạy học. Tuy
nhiên trong chương trình được quy định ở bậc Tiểu học, từ lớp 4 là bắt đầu thực
hiện dạy Lịch sử cho học sinh nên số giáo viên có phương pháp dạy Lịch sử tốt
cịn khiêm tốn. Ngồi ra, cịn một số giáo viên quan niệm Lịch sử khơng phải là
mơn học chính mà chỉ chú trọng vào hai mơn Tốn và Tiếng Việt. Giáo viên
chưa quan tâm đến việc hướng dẫn cho các em thực hành trên bản đồ, lược đồ
và tranh ảnh, hình ảnh, hoặc chưa sử dụng đúng lúc, đúng chỗ các phương tiện
dạy học. Việc sưu tầm tài liệu về những sự kiện, nhân vật lịch sử của địa phương
có liên quan đến tiết dạy còn hạn chế. Khi khai thác nội dung kiến thức, giáo
viên cũng chưa làm nổi bật được khi nào bắt đầu, khi nào cao trào đỉnh điểm,
khi nào kết thúc…
Việc quan sát biểu đồ, lược đồ cũng không kém phần quan trọng vì kênh
hình gây cho học sinh nhiều hứng thú trong học tập, nhưng hiện nay trang thiết
bị phục vụ cho môn Lịch sử đang thiếu trầm trọng, khơng có đủ lược đồ, bản đồ,
chưa có các phương tiện dạy học như băng hình, sa bàn…Giáo viên còn lúng
túng khi hướng dẫn học sinh quan sát biểu đồ, lược đồ; lúng túng trong cách kể
chuyện lịch sử hay tường thuật diễn biến một trận đánh…và ít dành thời gian
nghiên cứu bài dạy, dẫn đến hiệu quả của việc giảng dạy chưa cao.
2.2. Về phía học sinh:
Chương trình Tự nhiên và xã hội ở Tiểu học được chia làm 2 giai đoạn:
Giai đoạn I: Từ lớp 1 đến lớp 3 (có tên gọi là Tự nhiên và xã hội); giai đoạn II :
Lớp 4,5 được phát triển thành mơn Khoa học, mơn Lịch sử và Địa lí. Mơn Lịch
sử và Địa lí được chia thành hai phân mơn là phân mơn Lịch sử và phân mơn
Địa lí (có sách giáo khoa phần Lịch sử và phần Địa lí riêng). Vì thế, với học sinh
lớp 4, phân mơn Lịch sử là mơn học hồn tồn mới mẻ đối với các em, chính vì
vậy việc tiếp thu kiến thức về mơn học này tương đối khó khăn, việc học của các
em gặp nhiều trở ngại. Đặc biệt các em chưa nhận thức đúng vai trị của mơn
Lịch sử. Học sinh chưa ý thức được nhiệm vụ của mình, chưa chịu khó, tích cực

tư duy suy nghĩ tìm tịi cho mình những phương pháp học đúng để biến tri thức
của thầy thành của mình. Cho nên sau khi học xong bài, các em chưa nắm được
lượng kiến thức thầy giảng, rất nhanh quên. Việc dạy môn Lịch sử không hấp
dẫn cho học sinh khiến các em chỉ học thuộc lòng đối phó, để trả bài, chứ đầu
thì trống rỗng.
Khả năng nắm bắt kiến thức, kĩ năng quan sát, trí tưởng tượng khái qt
hóa cịn yếu, khả năng ghi nhớ của các em còn chậm mà các nhân vật, mốc lịch
4


sử, sự kiện lịch sử lại nhiều nên các em chỉ có thể ghi nhớ một cách máy móc
(dễ nhớ nhưng lại mau quên). Kĩ năng đọc, kể, tường thuật của các em chậm, do
đó ảnh hưởng đến thời gian và tiến trình chung của mơn học. Tinh thần hợp tác
học chưa cao, nhiều em chưa tự tin, học thụ động.
2.3. Nguyên nhân:
2.3.1. Nhận thức của giáo viên và học sinh:
Một số giáo viên và cả học sinh còn quan niệm phân mơn Lịch sử nói
riêng và mơn Lịch sử và Địa lí nói chung khơng phải là mơn học chính mà chỉ
dành thời gian, chú trọng vào hai mơn Tốn và Tiếng Việt. Chính vì vậy nên
giáo viên chưa đầu tư nhiều vào chất lượng dạy và học môn Lịch sử và Địa lí
nói chung. Từ đó dẫn đến tình trạng giáo viên cắt xén thời gian, ghép tiết ghép
bài cho xong. Việc khai thác nội dung và sử dụng đồ dùng dạy học của giáo viên
chưa khoa học, triệt để, hiệu quả sử dụng chưa cao. Nhiều giáo viên còn lúng
túng trong việc hướng dẫn học sinh chỉ bản đồ, lược đồ. Mặt khác, giáo viên
cũng chưa thật sự tích cực trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học.
Do việc dạy của giáo viên thiếu sự thu hút, hấp dẫn khiến học sinh nhàm
chán, thiếu tập trung, khó ghi nhớ hoặc ghi nhớ khơng bền.
2.3.2. Nội dung chương trình:
Nội dung chương trình phân mơn Lịch sử lớp 4 theo mơ hình trường học
mới cũng giống như chương trình hiện hành nhưng cách chia nội dung bài theo

sách VNEN thì mỗi bài học được tích hợp nhiều nội dung, gồm một chuỗi sự
kiện, hiện tượng hay nhân vật lịch sử tiêu biểu của một giai đoạn lịch sử nhất
định. Thời lượng dành cho mỗi bài học thường là 2 đến 3 tiết. Nội dung bài khá
dài và dàn trải nên giáo viên cũng như học sinh khó có thể nhớ hết được các
mốc thời gian sự kiện hay nhân vật lịch sử.
2.3.3. Trang thiết bị phục vụ dạy và học:
Mặc dù đa số các lớp học đã được Bán giám hiệu nhà trường quan tâm
đầu tư cho mỗi lớp 1 máy tính và 1 ti vi (hoặc máy chiếu) song hệ thống mạng
thường xuyên nghẽn nên việc ứng dụng CNTT của giáo viên trong các tiết dạy
cũng có phần hạn chế hay chưa triệt để.
Tài liệu tham khảo phục vụ cho việc dạy và học dành riêng cho các
trường, lớp VNEN khơng có nhiều và thiếu trọng tâm, cơ bản.
2.4. Kết quả thực trạng:
Năm học 2020 – 2021, tôi được BGH nhà trường phân công trực tiếp
giảng dạy lớp 4B với sĩ số là 27 em nằm rải rác ở cả 4 thôn (Phú Nhi, Mĩ Thịnh,
Kiến Long và Yên Hòa) thuộc khu vực nhà trường quản lí. Nhìn chung các em
đều ngoan ngỗn, lễ phép; chăm học, chăm làm; yêu văn nghệ, thích thể thao;
tích cực trong hoạt động Đội – Hội Chữ thập đỏ cũng như việc xây dựng và giữ
gìn mơi trường xanh – sạch – đẹp. Song đa số gia đình các em bố mẹ đều làm
nghề nông, hết mùa vụ lại đi làm ăn xa, các em ở nhà với ông bà nên ít có điều
quan tâm kèm cặp sát sao đến việc học hành của con em.
Sau khi nhận lớp, qua 4 tuần thực học, tôi đã tiến hành khảo sát để nắm
bắt chất lượng học sinh. Kết quả đạt như sau:
5


Tổng số HS
27 em

Điểm 9-10

SL
TL
2
7,4

Kết quả khảo sát
Điểm 7-8
Điểm 5-6
SL
TL
SL
TL
8
29,6
10
37,0

Điểm dưới 5
SL
TL
7
25,9

Với kết quả như trên, ta thấy: Học sinh đạt điểm 9-10 mới đạt 7,4%, học
sinh đạt điểm 7-8 là 29,6%, học sinh đạt điểm 5-6 là 37% và học sinh điểm dưới
5 cịn tới 29,5%. Nó ảnh hưởng khơng nhỏ đến chất lượng phân mơn Lịch sử nói
riêng và chất lượng mơn Lịch sử và Địa lý nói chung. Sau khi tìm tịi nghiên
cứu, tơi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng phân môn Lịch
sử lớp 4.
3. Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Lịch sử lớp 4.

Giải pháp 1: Người giáo viên phải không ngừng học tập bồi dưỡng kiến
thức và phương pháp dạy học Lịch sử.
Bác Hồ đã từng nói:
‘‘Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.
Học tập, bồi dưỡng kiến thức Lịch sử trước hết là trách nhiệm của mỗi
người Việt Nam. Với người giáo viên dạy học Lịch sử cho học sinh thì điều đó
càng quan trọng. Chính kiến thức và phương pháp dạy của giáo viên sẽ dẫn dắt,
khích lệ các em để ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường Tiểu học. Các em phải
có ý thức ghi nhớ, tìm hiểu lịch sử dân tộc và tránh hiện tượng sau này học sinh
‘‘quay lưng với môn Lịch sử”. Để thực hiện tốt các bài dạy trên lớp, yêu cầu
giáo viên phải có kiến thức cơ bản về nội dung chương trình giảng dạy và biết
xâu chuỗi thành một hệ thống. Bởi trong quá trình lên lớp, giáo viên có thể nhận
được những thắc mắc ‘‘vơ cùng tận” của học trò và buộc phải giải đáp được cho
các em ít nhiều lúc đó.
Một trong những nội dung kiến thức lịch sử mà giáo viên cần phải bồi
dưỡng đó là nắm vững nội dung chương trình phân mơn Lịch sử lớp 4. Trong tài
liệu Hướng dẫn học Lịch sử và Địa lí 4, nội dung được chia theo các mốc thời
gian như sau:
a. Nội dung 1: Buổi đầu dựng nước và giữ nước (Khoảng năm 700 TCN đến
năm 179 TCN): Sự ra đời của nền văn minh Văn Lang - Âu lạc và những thành
tựu chính của văn minh Văn Lang - Âu Lạc.
b. Nội dung 2: Hơn một nghìn năm đấu tranh giành độc lập (Từ năm 179 TCN
đến năm 938): Cuộc sống của nhân ta dưới ách đơ hộ và chính sách đồng hóa
dân tộc của các chiều đại phong kiến phương Bắc và phong trào đấu tranh của
nhân dân ta để giành độc lập, tự chủ (Khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40, chiến
thắng Bạch Đằng 938).
c. Nội dung 3: Buổi đầu độc lập (từ năm 938 đến năm 1009): Tình hình đất
nước sau khi Ngơ Quyền mất; Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân; Lê Hồn lên
ngơi vua, lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Tống lần

thứ nhất (năm 981).
6


d. Nội dung 4: Nước Đại Việt thời Lý (Từ năm 1009 đến năm 1226): Sự ra đời
của nhà Lý; vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long, đổi lại tên nước; Sự phát
triển của đạo phật; Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ hai.
e. Nội dung 5: Nước Đại Việt thời Trần (Từ năm 1226 đến năm 1400): Hoàn
cảnh ra đời của nhà Trần; Ba lần chiến thắng quân Mông Nguyên xâm lược;
Công cuộc xây dựng đất nước ở thời Trần (Việc đắp đê).
g. Nội dung 6: Nhà Hồ (Từ năm 1400 đến năm 1407): Hoàn cảnh ra đời của nhà
Hồ năm 1400; Một số chính sách của nhà Hồ; nhà Hồ thất bại trong cuộc kháng
chiến chống quân Minh xâm lược năm 1047.
h. Nội dung 7: Chiến thắng Chi Lăng và nước Đại Việt buổi đầu thời Hậu Lê (Thế
kỷ XV): Lê Lợi lên ngơi Hồng đế (năm 1428); Việc tổ chức quản lí đất nước.
i. Nội dung 8: Trường học, văn thơ, khoa học thời Hậu Lê: Sự phát triển văn
hóa và khoa học dưới thời Hậu Lê.
k. Nội dung 9: Trịnh – Nguyễn phân tranh. Công cuộc khẩn hoang và sự phát
triển của thành thị (Thế kỷ XVI – XVIII): Nước ta bị chia cắt và hậu quả của sự
chia cắt; Công lao của các chúa Nguyễn.
l. Nội dung 10: Phong trào Tây Sơn và Vương triều Tây Sơn (1771 – 1802):
Nghĩa quân Tây Sơn tiến ra Thăng Long đại phá quân Thanh; Quang Trung với
sự nghiệp xây dựng đất nước.
m. Nội dung 11: Buổi đầu thời Nguyễn (Từ năm 1802 đến năm 1858): Nhà
Nguyễn thành lập kinh thành Huế.
Sau 2 đến 3 hoặc 6 nội dung thường có 1 phiếu kiểm tra nhằm giúp học
sinh ôn lại những sự kiện lịch sử tương ứng với mốc thời gian. Hoặc: Thời gian
diễn ra, người đứng đầu, kết quả, ý nghĩa nổi bật của các cuộc khởi nghĩa, chiến
thắng. Hoặc: Các triều đại với các sự kiện tiêu biểu. Hoặc: Công lao to lớn của các
nhân vật lịch sử...

Với mục tiêu giúp học sinh có được hệ thống kiến thức trên, trong q
trình dạy học, giáo viên phải khơng ngừng tìm hiểu để bồi dưỡng kiến thức, ít
nhất phải nắm rõ được những nét cơ bản, sự kiện lịch sử nổi bật, nhân vật lịch sử
nổi bật, đóng góp nổi bật của từng triều đại đối với lịch sử nước nhà. Để làm
được điều đó, giáo viên nên xây dựng quỹ thời gian để tìm hiểu. Theo tơi, trong
thời kì xã hội phát triển cơng nghệ như hiện nay giáo viên có rất nhiều nguồn tư
liệu như: sách báo, internet, các chương trình truyền hình lịch sử, các bộ phim
lịch sử, các buổi nói chuyện của nhân chứng lịch sử, các nhà sử học, đi thực tê
tại các di tích lịch sử cịn được bảo tồn, lưu giữ…Tuy nhiên, trong quá trình tìm
hiểu kiến thức lịch sử, yêu cầu phải ở mức độ chính xác nên giáo viên cần phải
có sự kiểm chứng nguồn thơng tin một cách chính thống, đáng tin cậy.
Song song với việc bồi dưỡng kiến thức, giáo viên cũng phải bồi dưỡng
phương pháp dạy học, tích cực học tập từ tài liệu, đồng nghiệp để trở thành
người dẫn dắt học sinh nắm bắt kiến thức kĩ năng một cách thân thiện, nhẹ
nhàng, khơi gợi niềm say mê, hứng khởi, tránh nhồi nhét, không áp lực.
Trong dạy học việc phát huy tính tích cực học sinh, cần chú ý đến các
hoạt động và bài tập có liên quan đến bài học.
7
Bài học

Viết câu trả lời, điền câu, sắp xếp đúng các
sự kiện, địa điểm, thời gian.


Gợi ý một số vấn đề để học sinh suy
nghĩ trả lời, đặt câu hỏi, trao đổi trong
nhóm, đóng vai các nhân vật lịch sử.

Bài học


Vẽ bản đồ, sơ đồ và các loại đồ dùng
trực quan khác vừa sức học sinh.
Viết câu trả lời, điền câu, sắp xếp đúng
các sự kiện, địa điểm, thời gian.

Giải pháp 2: Phát huy tính tích cực của học sinh trong kĩ năng đọc và phân
tích tư liệu:
Muốn học sinh tiếp thu tri thức mới, giáo viên cần tổ chức các hoạt động
dạy học nhằm chuyển giao mục đích của thầy thành nhiệm vụ học tập của trò.
Hướng cho kiến thức lịch sử đến với các em bằng nhiều kênh thông tin khác
nhau để học sinh am hiểu và nắm bắt kiến thức một cách vững chắc hơn chứ
không phải là những bài giảng nhàm chán, thiếu hấp dẫn.
Phương pháp dạy và học bây giờ là hạn chế tối đa việc học thuộc lòng. Để
học sinh dễ hiểu, dễ nắm được những sự kiện, thời gian lịch sử, cần rèn cho học
sinh kĩ năng đọc và phân tích tư liệu. Phần kênh chữ trong bài, giáo viên yêu cầu
học sinh đọc thầm, phân tích, giúp các em hiểu những thông tin do kênh chữ
cung cấp sau khi đi vào tìm hiểu những sự kiện trong bài. Giáo viên chuẩn bị hệ
thống câu hỏi phù hợp, vừa sức giúp cho các em phát huy khả năng nói.
Ví dụ: Ở sự kiện: “Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyến lãnh đạo (năm 938)”:
Các em muốn biết nguyên nhân nào có trận Bạch Đằng thì các em phải đọc
thông tin trong tài liệu Hướng dẫn học Lịch sử và Địa lí 4(Trang 31,32 – Tập 1).
Hoặc sự kiện: “Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân”: Để biết được tình hình
nước ta sau khi Ngơ Quyền mất, các em đọc tài liệu Hướng dẫn học (Trang 39 –
Tập 1) để nắm chắc nội dung kênh chữ sau đó trả lời câu hỏi: Sau khi Ngơ
Quyền mất tình hình nước ta như thế nào ? (Sau khi Ngô Quyền mất triều đình
lục đục, tranh nhau ngai vàng…..).
Hay sự kiện: “Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40)”: Giúp học sinh ghi
nhớ nguyên nhân Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa. Giáo viên đọc cho học sinh
nghe 1 số câu thơ: “Giận thay Tô Định bạo tàn/ Nay ta dấy nghĩa diệt lồi sói
lang. Một xin rửa sạch nước thù/ Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng. Ba kẻo

oan ức lịng chồng/ Bốn xin vẻn vẹn sở cơng lệnh này”.
Với sự kiện: “Thành thị ở thế kỉ XVI – XVII”: Để các em mô tả đúng ba thành
thị lớn của nước ta thế kỉ XVI – XVII. Tôi đưa ra bài tập sau: Điền thơng tin để
hồn thành phiếu học tập:
8


Đặc điểm
Thành thị
Thăng Long
Phố Hiến
Hội An

Dân cư

Quy mô
thành thị

Hoạt động
buôn bán

Tôi tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1: Yêu cầu học sinh đọc tài liệu Hướng dẫn học hoàn thành bảng thống
kê.
- Bước 2: u cầu mỗi nhóm mơ tả về một thành thị.
- Bước 3: Nhận xét, tuyên dương nhóm mơ tả đúng.
Kết quả hồn thành phiếu bài tập trên.
Đặc điểm
Thành thị
Thăng Long


Phố Hiến

Hội An

Dân cư

Quy mô
thành thị

Hoạt động
buôn bán

Đông dân hơn
nhiều thành thị ở
châu Á

Lớn bằng
thành thị ở một
số nước châu Á

Có nhiều dân
nước ngồi như
Trung Quốc, Hà
Lan, Anh, Pháp.
Là dân địa
phương và các
nhà bn Nhật
Bản.


Có hơn 2000
nóc nhà của
người nước
khác đến ở.
Phố cảng đẹp
và lớn nhất
Đàng Trong

Những ngày chợ phiên, dân
các vùng lân cận gánh hàng
hóa đến đông không thể
tưởng tượng được.
Buôn bán nhiều mặt hàng
như áo, tơ lụa,…
Là nơi buôn bán tấp nập.

Thương nhân ngoại quốc
thường lui tới buôn bán.

Cách học này giúp các em mô tả đúng về thành thị và ghi nhớ kiến thức
đã học.
Giải pháp 3: Lựa chọn và sử dụng đồ dùng dạy học hiệu quả trong mỗi tiết
học (bài học).
Để mang lại hiệu quả cao trong quá trình sử dụng đồ dùng dạy học tôi tập
trung hướng dẫn học sinh biết cách làm việc với đồ dùng và rèn các kĩ năng sau:
a. Giúp học sinh có kĩ năng quan sát và kể lại, trình bày lại diễn biến cuộc
kháng chiến qua bản đồ , lược đồ, tranh ảnh…
Qua 2 bài đầu, mơn Lịch sử - Địa lí đã hướng dẫn cho các em kĩ năng
quan sát, chỉ, mô tả, kể những sự kiện lịch sử trên bản đồ, lược đồ. Vì vậy, một
số bài có bản đồ, lược đồ, giáo viên cần sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, dễ cho học

sinh quan sát. Phóng to để hấp dẫn, thu hút sự chú ý, giúp các em có ấn tượng
sâu sắc và không bị quên lãng khi học xong.
9


GV có thể hướng dẫn các em khai thác qua các bước:
+ Giới thiệu nội dung bản đồ, lược đồ, tranh ảnh…
+ Giới thiệu các ký hiệu - quy ước (đối với bản đồ, lược đồ) hoặc giới thiệu
nhân vật, sự kiện, hiện tượng… trong tranh ảnh…
+ GV tổ chức cho HS khai thác đồ dùng trực quan bằng việc yêu cầu học sinh
quan sát theo hệ thống câu hỏi gợi ý (Giáo viên chuẩn bị một hệ thống câu hỏi
phù hợp, vừa sức, giúp các em phát huy kĩ năng nói, khả năng diễn đạt khi kể
hoặc trình bày diễn biến theo bản đồ hoặc lược đồ).
+ GV yêu cầu học sinh phát biểu nhận xét của mình, HS khác nhận xét bổ sung.
Ví dụ: Ở sự kiện: “Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ
nhất (năm 981)”.
Để học sinh trình bày được diễn biến cuộc kháng chiến, tôi cho học sinh
quan sát Lược đồ Chiến thắng quân Tống lần thứ nhất (Xem hình 1- Phụ lục)
xây dựng câu hỏi như sau:
1. Quân Tống xâm lược nước ta vào thời gian nào?
2. Chúng tiến vào nước ta theo mấy đường, là những đường nào?
3. Lê Hoàn chia quân thành mấy cánh và đóng quân ở những đâu để đánh giặc?
4. Kể lại hai trận đánh lớn giữa quân ta và quân Tống?
5. Kết quả của cuộc kháng chiến như thế nào?
Các bước tiến hành:
- Bước 1: Yêu cầu học sinh đọc “Tài liệu hướng dẫn học” thảo luận nhóm đơi trả
lời các câu hỏi.
- Bước 2: u cầu trình bày các câu hỏi: 1em nêu câu hỏi, 1 em trả lời, vừa trình
bày vừa chỉ lược đồ, nhóm khác nhận xét.
- Bước 3: Gọi 1 số em trình bày tồn bộ diễn biến cuộc kháng chiến.

- Bước 4: Nhận xét, tun dương nhóm trình bày đúng.
Biện pháp này giúp các em hứng thú trong học tập, ghi nhận các mốc thời
gian, sự kiện lịch sử chính xác và nhớ lâu.
Hoặc sự kiện: “Chiến thắng Chi Lăng”.
Giúp học sinh trình bày tóm tắt được diễn biến trận Chi Lăng, tôi xây
dựng nội dung như sau: Hãy sắp xếp các câu sau theo thứ tự thích hợp về
diễn biến trận Chi Lăng:
a. Kị binh ta nghênh chiến rồi giả vờ thua để nhử quân kị binh của địch vào ải.
b. Liễu Thăng bị chết, quân bộ theo sau cũng bị phục binh của ta tấn công.
c. Đạo quân của địch do Liễu Thăng cầm đầu đến cửa ải Chi Lăng.
d. Khi quân địch vào ải, từ hai bên sườn núi quân ta bắn tên và phóng lao vào kẻ thù.
e. Hàng vạn quân Minh bị chết, số còn lại rút chạy.
Tôi tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1: Yêu cầu học sinh đọc tài liệu Hướng dẫn học Lịch sử và Địa lí 4, quan sát
Lược đồ Chiến thắng Chi Lăng (Xem hình 2 - Phụ lục), thảo luận nhóm đơi: sắp
xếp các câu trên theo thứ tự thích hợp diễn biến trận Chi Lăng.
- Bước 2: Yêu cầu trình bày các ý theo thứ tự diễn biến trận Chi Lăng (dựa vào
nội dung các câu).
10


- Bước 3: Gọi 1 số em trình bày tóm tắt lại diễn biến cuộc kháng chiến.
- Bước 4: Nhận xét, tun dương nhóm trình bày đúng.
Vừa trình bày vừa chỉ lược đồ, giúp các em hứng thú trong học tập.
b. Giúp học sinh có kĩ năng quan sát và phân tích qua tranh ảnh (làm bài tập
trắc nghiệm) để hiểu và nhớ thời gian lịch sử, sự kiện và nhân vật lịch sử.
Để thực hiện điều này, giáo viên cần nắm vững kiến thức lịch sử để qua
các hình ảnh giới thiệu cho học sinh. Bằng cặp mắt quan sát, óc phân tích của
mình, các em sẽ mơ tả, trình bày, nêu nội dung tranh, làm bài tập, …từ đó giúp
các em ghi nhớ sâu sắc những hình ảnh của lịch sử để lại.

Ví dụ: Ở sự kiện: Trịnh – Nguyễn phân tranh.
Các em quan sát Lược đồ địa phận Bắc triều – Nam triều và Đàng Trong,
Đàng Ngoài (Xem hình 3 - Phụ lục) để biết được địa phận Bắc triều – Nam triều
và Đàng Trong, Đàng Ngoài, sông Gianh là nơi chia cắt đất nước (Thế kỉ XVI).
- Ở sự kiện : “Quang Trung đại phá quân Thanh (Năm 1789)”. Yêu
cầu dựa vào Lược đồ Quang Trung đại phá quân Thanh (Xem hình 4 - Phụ lục), hãy
kể lại trận Ngọc Hồi, Đống Đa.
Hay ở sự kiện: “Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (Năm 40). Các em quan sát Lược
đồ khu vực chính nổ ra khởi nghĩa Hai Bà Trưng và nêu nội dung bức tranh : Vẽ
cảnh Hai Bà Trưng cưỡi voi ra trận (Tài liệu Hướng dẫn học, trang 30 – Tập 1).
c) Giúp học sinh hứng thú và nhớ lâu về diễn biến các trận đánh hay các sự
kiện lịch sử quan trọng qua trình chiếu powerpoint.
Ví dụ: Khi tìm hiểu diễn biến của trận Bạch Đằng (năm 938), tôi đã tiến hành
như sau:
- Học sinh đọc đoạn văn trong tài liệu Hướng dẫn học Lịch sử và Địa lí 4
(Trang 31 – Tập 1) kết hợp xem tranh minh họa trong tài liệu.
- Học sinh trao đổi trong nhóm:
+ Ngơ Quyền dùng kế gì để đánh giặc?
+ Dựa vào bức tranh, kể lại diễn biến của trận chiến trên sông Bạch Đằng.
- Đại diện 1-2 nhóm trình bày trước lớp.
- Nhận xét, bổ sung.
- 1- 2 học sinh khác kể lại kết hợp quan sát một số hình ảnh giáo viên trình chiếu
powerpoint (Xem hình 5; 6; 7 - Phụ lục).
Như vậy, một trong những phương pháp dạy học không thể thiếu được khi
dạy phân môn Lịch sử là phương pháp trực quan. Các loại đồ dùng trực quan
thường sử dụng trong dạy học Lịch sử là các hiện vật, mơ hình; tranh ảnh; bản
đồ, lược đồ, sa bàn …Giáo viên cần đối chiếu với những phương tiện mà nhà
trường đã trang bị để chủ động trong bài dạy, cùng phối kết hợp với phụ huynh
học sinh trong việc sưu tầm. Việc sưu tầm tranh ảnh tư liệu là rất quan trọng
giúp các em dễ hình dung, dễ nhớ, nhớ lâu các sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch

sử. Chính vì vậy học sinh phải sưu tầm tranh ảnh từ ở nhà, đọc trước tài liệu
Hướng dẫn học kết hợp với những tư liệu sưu tầm được hoặc do giáo viên cung
cấp để nắm vững được nội dung bài. Học sinh được trình bày cơ sở hiểu biết đã
có của mình. Thầy và trò chuẩn bị sưu tầm tư liệu, tranh ảnh, bản đồ, tài liệu lịch
11


sử giúp các em có thể hình dung được về quá khứ lịch sử đã diễn ra. Đặc biệt là sự
hỗ trợ hiệu quả của công nghệ thông tin, các hiệu ứng động trong trình chiếu
powerpoint gây hứng thú và giúp học sinh nhớ lâu về diễn biến các trận đánh
hay các sự kiện lịch sử quan trọng.
Tuy nhiên cần lưu ý, việc sử dụng đồ dùng trực quan không được lạm
dụng q nhiều, khơng làm lỗng trọng tâm của bài và mất tập trung của HS.
Phải làm sao để các em biết ghi nhớ, hiểu cặn kẽ những hình ảnh trực quan và
khắc sâu trong tâm trí nhiều hơn là trình bày miệng của giáo viên. Khi cho học
sinh quan sát một đồ dùng trực quan nào đó, giáo viên khơng để các em coi đó là
một đồ vật chết mà phải biết “nói”, phải có thơng tin đi kèm. Ngoài ra, giáo viên
phải đặt các câu hỏi để học sinh nhận xét, cho ý kiến; sau đó hội ý với các bạn
trong nhóm để ý kiến được hay hơn, phong phú hơn để phát triển được tư duy
sáng tạo của học sinh.
Khi sử dụng, giáo viên phải khéo léo đưa ra những câu hỏi vừa sức học
sinh, tránh những câu thách đố để các em rơi vào thế bí, điều đó chỉ làm mất thêm
thời gian của mình. Làm sao giáo viên có thể huy động được tối đa kĩ năng làm
việc của học sinh như: tai nghe, mắt thấy, biết phân tích, suy luận vấn đề, như vậy
các tiết dạy sẽ có hiệu quả mà chúng ta mong muốn. Hiện nay, việc sử dụng đồ
dùng trực quan của các giáo viên trong dạy học phân môn Lịch sử dựa vào nguồn
cung cấp chủ yếu là Công ty thiết bị đồ dùng dạy học của Bộ GD-ĐT, tuy nhiên
nguồn cung cấp này vẫn còn thiếu thốn. Cho nên, ngồi những hình ảnh trực quan
trong tài liệu Hướng dẫn học, giáo viên nên truy cập thêm trên mạng và các tài
liệu khác để có những đồ dùng về bản đồ, lược đồ, tranh ảnh… phong phú nhằm

làm cho các tiết dạy có hiệu quả hơn. Khi sử dụng đồ dùng trực quan trong tài liệu
Hướng dẫn học, giáo viên nên tìm những hình ảnh tương đối rõ ràng vì có những
hình ảnh rất hạn chế, q đậm, đen hoặc mờ nhạt, khơng rõ nét, chưa có tác dụng
giáo dục cao.
Ngoài ra, giáo viên cần vận dụng tối đa những điều kiện cụ thể ở địa
phương để tổ chức các giờ học ngoài lớp, cho học sinh đi tham quan các cảnh
đẹp, các di tích lịch sử - văn hóa, gặp gỡ các cá nhân và tập thể đã trực tiếp tham
gia vào các sự kiện lịch sử, các hoạt động xã hội.
Ví dụ: Một số hình ảnh có thể sưu tầm ngoài Tài liệu hướng dẫn học Lịch sử và
Địa lí 4 (Xem hình 8; 9; 10; 11; 12;13 - Phụ lục).
Giải pháp 4: Vận dụng phương pháp “Sơ đồ tư duy” trong dạy học Lịch sử.
Sơ tư duy (SĐTD) còn gọi là bản đồ tư duy, lược đồ tư duy, là hình thức
ghi chép nhằm tìm tịi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề
hay một mạch kiến thức,… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh,
đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Đặc biệt đây là một sơ đồ
mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí mà có thể vẽ thêm
hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh,
các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể
hiện” nó dưới dạng SĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập SĐTD phát huy
được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân học sinh.
12


Việc vận dụng SĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho học sinh tư duy
mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ
thống, khoa học. Thay vì phải học thuộc lịng cả bài giảng như trước, giờ đây
học sinh có thể hiểu và nắm được nội dung kiến thức qua hình vẽ bằng sơ đồ.
Nhờ sự liên kết các nét vẽ cùng với màu sắc thích hợp và cách diễn đạt riêng của
mỗi học sinh, sơ đồ tư duy giúp học sinh liên tưởng, liên kết các kiến thức đã
học trong sách vở, đã biết trong cuộc sống để phát triển, mở rộng ý tưởng. Sử

dụng SĐTD trong dạy học phù hợp với tâm lí học sinh, đơn giản dễ hiểu thay
cho việc ghi nhớ lí thuyết bằng cách ghi nhớ dưới dạng sơ đồ hố kiến thức, có
thể vận dụng trong bất kì điều kiện hồn cảnh nào của nhà trường mà không phụ
thuộc vào cơ sở vật chất.
Bản đồ tư duy có cấu tạo như một cái cây có nhiều nhánh lớn, nhỏ mọc
xung quanh. “Cái cây” ở giữa bản đồ là một ý tưởng chính, các nhánh lớn sẽ
được phân thành nhiều nhánh nhỏ, rồi nhánh nhỏ hơn, nhánh nhỏ hơn nữa nhằm
thể hiện chủ đề ở mức độ sâu hơn. Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục và các kiến
thức, hình ảnh ln được kết nối với nhau, sự liên kết này tạo ra một “bức tranh
tổng thể” mô tả ý tưởng chung một cách đầy đủ, rõ ràng.
Có thể vận dụng SĐTD vào dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau
mỗi tiết học, các tiết ơn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương...giúp học
sinh hiểu bài sâu, nhớ lâu.
* Thực hiện dạy học bằng cách lập sơ đồ tư duy được tóm tắt qua 4 bước sau :
Bước 1: HS lập SĐTD theo nhóm với gợi ý của giáo viên.
Bước 2: HS lên báo cáo, thuyết minh về SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập.
Bước 3: HS thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD về kiến thức của
bài học đó. Giáo viên sẽ là người cố vấn giúp HS hồn chỉnh SĐTD, từ đó dẫn
dắt đến kiến thức của bài học.
Bước 4: Củng cố kiến thức bằng một SĐTD mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn hoặc
một SĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hồn chỉnh.
Ví dụ: Khi dạy bài: Nước Âu lạc (Tài liệu Hướng dẫn học, trang 21- Tập 1), tôi
đã vận dụng phương pháp SĐTD và sản phẩm thu được từ các nhóm học sinh
như sau:

13


Nhìn vào sản phẩm SĐTD của học sinh cho thấy: Bằng cách kết hợp việc
sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực

khơng những giúp học sinh hiểu bài sâu, nhớ lâu mà còn giúp học sinh rèn và
phát triển một số kĩ năng như kĩ năng giao tiếp, hợp tác; kĩ năng hội họa; ...
Giải pháp 5: Sử dụng linh hoạt trò chơi học tập trong dạy học Lịch sử.
Thực tế đã chứng minh rằng: trò chơi học tập là một trong những phương
pháp hiệu quả nhất. Nó là một phương pháp được UNESCO khuyến cáo dùng
trong dạy học ở Tiểu học. Thơng qua việc sử dụng phương pháp trị chơi trong
dạy học phân mơn Lịch sử giúp hình thành, khắc sâu cho các em kiến thức, phát
triển tư duy và ngơn ngữ của các em. Qua việc tích cực tham gia vào trị chơi,
trẻ sẽ phát huy được tính chủ động, tích cực của mình trong giờ học. Như vậy,
phương pháp trò chơi nên được sử dụng rộng trong q trình dạy học phân mơn
Lịch sử.

14


* Qua thực tế tiến hành dạy học trên lớp, tơi xin được giới thiệu một
số trị chơi áp dụng cho phân mơn Lịch sử như sau:
1. Trị chơi ‘‘Đóng vai”
* Cách thức tiến hành trị chơi đóng vai:
- Giáo viên chuẩn bị các lời thoại trong bài để học sinh nắm được.
- Phân vai cho mỗi học sinh với lời thoại và hướng dẫn học sinh cách thể hiện
điệu bộ, nét mặt của nhân vật.
- Sau khi học sinh nhận vai giáo viên cho tiến hành trò chơi.
- Học sinh theo các vai được phân thực hiện đóng vai cho phù hợp với lời thoại.
Ví dụ: Ở sự kiện: “Nghĩa quân Tây Sơn tiến ra Thăng Long”
Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh đóng vai:
+ Vai 1: Người dẫn truyện
+ Vai 2: Viên tướng thứ nhất
+ Vai 3: Viên tướng thứ hai
Tiến hành chơi:

- Vai 1: Người dẫn truyện đọc đoạn từ đầu đến chỗ ‘‘một viên tướng quả quyết”.
- Vai 2: Viên tướng thứ nhất - giọng cương quyết - “Tây Sơn kéo quân vào
sâu xứ lạ, đó là điều kiêng kị trong binh pháp. Nên nhử cho chúng tới gần nữa,
rồi đánh một trận mà tiêu diệt cho hết”.
- Vai 3: Viên tướng thứ hai - giọng ôn tồn “Bẩm chúa thượng! Xin chúa
thượng yên lịng, chín cha con tơi quyết đem cái chết để đền ơn chúa”.
Người dẫn truyện đọc tiếp từ “Nghe nói vậy… hết bài”.
2) Trị chơi ‘‘Giải ơ chữ”
* Cách thức tiến hành trị chơi ‘‘Giải ơ chữ”:
- GV chuẩn bị ô chữ với các yêu cầu:
+ Các ô ở dãy cột ngang nêu tên nhân vật tiêu biểu hoặc sự kiện lịch sử.
+ Ô ở dãy cột dọc là từ khóa của bài.
- GV chia lớp thành các đội chơi.
- Các đội lần lượt chọn từ hàng ngang, GV sẽ đọc gợi ý về từ hàng ngang, đội
chơi nhanh chóng đưa ra câu trả lời. Nếu sai, hoặc sau 30 giây khơng có câu trả
lời thì đội khác được quyền đoán.
- Mỗi từ hàng ngang được 10 điểm, từ hàng dọc được 30 điểm.
- Trị chơi kết thúc khi có đội tìm ra từ hàng dọc.
- Đội nào có điểm cao hơn là đội thắng cuộc.
Ví dụ: Ở sự kiện: “Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo”
Cách chơi như sau:
- Ô chữ gồm tám từ hàng ngang và một từ hàng dọc.
- GV chia lớp thành 4 đội chơi.
- Các đội lần lượt chọn từ hàng ngang, GV sẽ đọc gợi ý về từ hàng ngang, đội
chơi nhanh chóng đưa ra câu trả lời. Nếu sai, hoặc sau 30 giây khơng có câu trả
lời thì đội khác được quyền đoán.
- Mỗi từ hàng ngang được 10 điểm, từ hàng dọc được 30 điểm.
- Trò chơi kết thúc khi có đội tìm ra từ hàng dọc.
- Đội nào có điểm cao hơn là đội thắng cuộc.
15



Nội dung ô chữ và gợi ý cho từng ô:
1) Hậu quả mà quân Nam Hán phải nhận khi sang xâm lược nước ta năm 1938.
(Thất bại)
2) Nơi Ngô Quyền chọn làm kinh đơ. (Cổ Loa)
3) Vũ khí làm thủng thuyền giặc. (cọc gỗ)
4) Ngô Quyền đã dựa vào hiện tượng thiên nhiên này để đánh giặc.(thủy triều)
5) Quê của Ngô Quyền. (Đường Lâm)
6) Quân Nam Hán tấn công vào nước ta từ hướng này.(Bắc)
7) Người lãnh đạo trận Bạch Đằng. (Ngô Quyền)
8) Tướng giặc tử trận ở Bạch Đằng. (Hoằng Tháo)
Từ hàng dọc : BẠCH ĐẰNG
3) Trò chơi “Đi tìm sự kiện”
* Cách thức tiến hành trị chơi “Đi tìm sự kiện”
- Giáo viên cử mỗi tổ 1 học sinh đại diện lên tham gia trò chơi.
- Giáo viên có thể thay hình thức bấm chng bằng cách giơ tay (ai giơ tay
nhanh thì người đó giành quyền trả lời).
- Giáo viên chuẩn bị các mốc Lịch sử, ứng với mỗi mốc đó là các sự kiện Lịch
sử hoặc nhân vật Lịch sử tiêu biểu.
- Khi giáo viên nêu mốc thời gian học sinh phải nhanh chóng xác định đúng sự
kiện hoặc nhân vật Lịch sử đúng với mốc đó.
- Để trị chơi này được tiến hành tốt khi nêu mốc thời gian giáo viên phải nêu
nhanh, dứt khốt.
Ví dụ: Với sự kiện: “Quang Trung đại phá quân Thanh”
Giáo viên chuẩn bị các mốc thời gian xảy ra sự kiện.
Cách chơi như sau:
- Giáo viên nêu: Năm 1788 - HS: Quân Thanh chiếm thành Thăng Long, đô hộ
nước ta. Nguyễn Huệ lên ngôi, lấy niên hiệu là Quang Trung.
- GV: Ngày 20 tháng chạp năm Mậu Thân (tháng 1 năm 1789) - HS: 20 vạn

quân do vua Quang Trung chỉ huy ra đến Tam Điệp.
- GV: Đêm mồng 3 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789) - HS: Quân ta kéo tới sát
đồn Hà Hồi.
- GV: Vào lúc nửa đêm - HS: Quân ta vây kín đồn Hà Hồi.
- GV: Mờ sáng ngày mồng 5 - HS: Quân ta tấn cơng đồn Ngọc Hồi, qn giặc
thua to.
Trị chơi tiến hành cho đến khi giáo viên ngừng đưa ra các mốc thời gian,
học sinh nào có số lần trả lời đúng nhiều nhất là người thắng cuộc.
4) Trò chơi “Điền sơ đồ trống”.
* Cách thức tiến hành trò chơi “Điền sơ đồ trống”:
- GV lựa chọn đội tham gia trò chơi.
- GV chuẩn bị trước sơ đồ trống trên bảng lớp hoặc trên bảng phụ.
- GV yêu cầu HS nhanh chóng điền kết quả vào sơ đồ theo mẫu cho sẵn.
- Đội nào điền kết quả đúng, nhanh và đẹp thì đội đó giành phần thắng.
Ví dụ: Khi tìm hiểu về “Nước Văn Lang”.
16


Cách chơi như sau:
- GV chia lớp thành 3 đội chơi.
- GV treo hoặc viết sơ đồ trống lên bảng (3 sơ đồ) có nội dung như sau:

Các tầng lớp trong xã hội Văn Lang
- Khi có hiệu lệnh HS nhanh chóng lên điền nội dung kết quả vào sơ đồ trống.
- Đội nào điền đúng, nhanh và đẹp thì đội đó thắng cuộc.
(Thứ tự các từ cần điền là: Vua Hùng; Lạc hầu, lạc tướng; Lạc dân; Nơ tì).
5) Trò chơi “Điền lược đồ trống”
* Cách thức tiến hành trò chơi “Điền lược đồ trống”
- GV giới thiệu trò chơi.
- GV lựa chọn đội chơi.

- Mỗi đội chọn 2 em:
Em thứ nhất chọn kí hiệu thích hợp chuyền cho đồng đội của mình.
Em thứ hai dán kí hiệu lên lược đồ, sao cho đúng với nội dung lược đồ.
- Thời gian từ 3 đến 4 phút.
- Đội nào hoàn thành trị chơi xuất sắc đội đó sẽ được thưởng điểm.
Ví dụ: Tìm hiểu về sự kiện: “Chiến thắng Chi Lăng”
- GV chuẩn bị Lược đồ trận Chi Lăng gồm có 2 chiếc.
- GV chuẩn bị những kí hiệu mũi tên mầu có dán keo 2 mặt (lưu ý tới kích thước
trùng khớp với mũi tên có sẵn trong SGK).
- GV chia lớp thành 2 đội chơi, mỗi đội gồm 2 em HS và đặt tên cho mỗi đội
cho phù hợp.
- Kí hiệu học sinh phải dán (Quân ta mai phục: màu đỏ; quân địch hành quân:
màu xanh).
- Đội nào hồn thành chính xác trước đội đó thắng. Thời gian tối đa là 4 phút.
6) Trò chơi “Hái hoa” (Áp dụng đối với các tiết ngoại khóa).
* Cách thức tổ chức trò chơi “Hái hoa”
- GV chuẩn bị hệ thống câu hỏi với các chủ đề khác nhau cho HS lựa chọn.
- HS lên hái những bông hoa được gắn vào cành cây, đọc cho GV biết được chủ
đề mình đã lựa chọn.
- GV đọc câu hỏi gợi ý liên quan đến chủ đề HS vừa hái được. HS nhanh chóng
trả lời. Mỗi câu trả lời đúng HS sẽ nhận được phần quà hấp dẫn.
17


Ví dụ: GV tổ chức cho HS “Hái hoa”
+ HS 1: Hái được bông hoa với chủ đề về “Nhân vật lịch sử”.
- GV đọc câu hỏi gợi ý có nội dung như sau: Ai là người chỉ huy quân ta đánh
quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng?
- HS 1: Ngô Quyền.
+ HS 2: Hái được bông hoa với chủ đề về “Xã hội”.

- GV đọc câu hỏi có nội dung như sau: Xã hội Văn Lang có những tầng lớp nào?
- HS 2: Xã hội Văn Lang gồm có bốn tầng lớp: Vua Hùng; Lạc tướng, lạc hầu;
Lạc dân; Nơ tì.
+ HS 3: Hái được bơng hoa với chủ đề về “Sự kiện”.
- GV đọc câu hỏi gợi ý có nội dung như sau: Năm 1789 giúp bạn liên tưởng đến
sự kiên trọng đại nào?
- HS 3: Quang Trung đại phá Quân Thanh.
+ HS 4: Hái được bông hoa với chủ đề về “Văn hóa”.
- GV đọc câu hỏi gợi ý có nội dung như sau: Hãy kể tên các tác giả tiêu biểu của
văn học thời Hậu Lê?
- HS 4: Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tơng.
Và có thể tiếp tục trò chơi bằng một số câu hỏi khác cho đến khi học sinh
hái được hết các bông hoa trên cây.
4. Hiệu quả.
Với các giải pháp trên đưa vào vận dụng trong dạy học phân môn Lịch sử lớp
4. Trong suốt quá trình học tập từ đầu học kì I đến nay, qua kiểm tra, đánh giá, kết
quả ở các tháng được nâng lên rõ rệt. Kết quả khảo sát cuối học kì I đạt như sau:
Số HS
Đầu
năm
Cuối
kì I

27
27

Điểm 9-10
SL
TL
2

7,4
8

29,6

Kết quả khảo sát
Điểm 7-8
Điểm 5-6
SL
TL
SL
TL
8
29,6
10
37,0
11

40,7

7

25,9

Điểm dưới 5
SL
TL
7
25,9
1


3,7

Nhìn vào kết quả trên ta thấy: So với kết quả đầu năm thì tỉ lệ học sinh đạt
điểm 9-10 được nâng lên rõ rệt (đạt tới 29,6%, tăng 22,2%), tỉ lệ học sinh điểm
dưới 5 giảm đáng kể (chỉ còn 3,7%, giảm 22,2%). Học sinh thực sự hứng thú
học tập và nắm được các sự kiện lịch sử tương ứng với mốc thời gian; hiểu sâu
và nhớ lâu hơn về thời gian diễn ra, người đứng đầu, kết quả, ý nghĩa nổi bật của
các cuộc khởi nghĩa, chiến thắng; hay các triều đại với các sự kiện tiêu biểu; công
lao to lớn của các nhân vật lịch sử…Các em tự tin, biết hợp tác, có kỹ năng điều
hành tự quản trong nhóm; chủ động, sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức, kỹ
năng. Đó cũng là nền tảng để các em bước vào bậc học của các lớp cao hơn.

18


III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
1. Kết luận.
Để nâng cao chất lượng phân môn Lịch sử, mỗi giáo viên cần làm tốt
những nội dung sau:
- Giáo viên phải nắm chắc toàn bộ chương trình phân mơn Lịch sử. Nắm
vững kiến thức lịch sử trong tài liêu Hướng dẫn học, Chuẩn kiến thức, sưu tầm
tài liệu có liên quan đến bài giảng. Biết liên hệ thực tế chuyển từ kiến thức cũ
giúp học sinh khai thác kiến thức mới một cách khoa học, hấp dẫn. Biết tổ chức
các hình thức học gắn với cách xây dựng thiết kế bài tập thực hành, với hình
ảnh, lược đồ, mơ hình trong tài liệu Hướng dẫn học. Giúp học sinh mơ tả, trình
bày hoặc kể lại những sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử một cách chính xác. Đây
cũng là cách giúp các em ghi nhớ sâu sắc những sự kiện lịch sử, từ đó khi nhắc
tới những sự kiện đó là các em hình dung và tái hiện được ngay.
- Giáo viên cần gần gũi với học sinh hơn nữa và có sự linh hoạt trong cách

tổ chức hướng dẫn học sinh tự học, giúp các em biết tự giác tìm tịi, khám phá,
phát hiện cái hay, cái đẹp, sửa chữa điểm sai của mình. Giáo dục các em biết yêu
quê hương đất nước và tự hào về truyền thống hào hùng của dân tộc.
- Dạy học lịch sử cần được vận dụng bằng nhiều hình thức sinh động,
phong phú nhằm thấm sâu vào các em lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần tự hào
dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Lịch sử là cần chính xác tuyệt đối về thời gian, về số liệu minh chứng.
2. Kiến nghị.
Với mục tiêu là nâng cao chất lượng giảng dạy và hồn thành nhiệm vụ
chun mơn của người giáo viên Tiểu học, tơi xin có một số đề nghị sau:
2.1. Đối với Tổ chuyên môn:
- Tổ chuyên môn thường xuyên tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng
“Nghiên cứu bài học” và “Chuyên đề” để mỗi giáo viên có cơ hội học hỏi, trau
dồi chuyên môn, nghiệp vụ.
- Bồi dưỡng, khuyến khích và tạo điều kiện cho giáo viên tìm hiểu, nghiên cứu,
khai thác và ứng dụng có hiệu quả các phần mềm dạy học.
2.2. Đối với nhà trường:
- Ban giám hiệu nhà trường cần làm tốt công tác tham mưu đầu tư thêm trang
thiết bị dạy học như: băng hình, sa bàn…để giáo viên thiết kế và giảng dạy
nhằm đổi mới phương pháp dạy học phân môn Lịch sử nói riêng và các bộ mơn
khác nói chung vào thực tiễn dạy học ở nhà trường, góp phần đổi mới phương
pháp dạy học.
- Nhà trường nên tạo điều kiện tổ chức các tiết học ngoại khóa, vì đây là sân
chơi rất bổ ích cho hoạt động tập thể.
- Trang bị cho học sinh những kiến thức cần thiết về phương pháp trị chơi để
các em có thể chơi một cách chủ động, sáng tạo, tích cực mà đem lại hiệu quả
bài học.
- Nâng cấp hệ thống mạng Internet để giáo viên có thể sử dụng hàng ngày.
19



Thực tế cho thấy, giáo viên Tiểu học còn thiếu rất nhiều kiến thức cơ bản về
lĩnh vực Lịch sử. Do đó, cần tăng cường bồi dưỡng cho giáo viên về lí luận dạy
học bộ mơn, đặc biệt là việc nắm vững cách thức tổ chức trò chơi cho học sinh
một cách khoa học, nhằm đưa lại hiệu quả cao cho giờ học.
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ của bản thân và một số kiến nghị về giúp
học sinh học tốt hơn phân môn Lịch sử lớp 4. Tôi rất mong nhận được những ý
kiến đóng góp của bạn đồng nghiệp để các giải pháp trên khả thi hơn.
Hưng Lộc, ngày 15 tháng 5 năm
2021
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết,
khơng sao chép nội dung của người khác.
Ngêi
viÕt
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Lê Thị Thúy

20


PHỤ LỤC

Hình 1: Lược đồ chiến thắng quân Tống lần thứ nhất (Năm 981)
(Bài 3: Buổi đầu độc lập – HĐ4: Tìm hiểu diễn biến của cuộc kháng
chiến chống quân xâm lược Tống)

21



Hình 2: Lược đồ chiến thắng Chi Lăng
(Bài 7: Chiến thắng Chi Lăng và nước Đại Việt buổi đầu thời Hậu Lê – HĐ2:
Tìm hiểu về diễn biến và ý nghĩa của trận Chi Lăng)

Hình 3: Lược đồ địa phận Bắc triều - Nam triều và Đàng Trong, Đàng Ngoài.
(Bài 9: Trịnh – Nguyễn phân tranh. Công cuộc khẩn hoang và phát triển của
thành thị: Tìm hiểu về sự phân chia Đàng Trong – Đàng Ngoài)

22


Hình 4: Lược đồ Quang Trung đại phá quân Thanh
(Bài 10: Phong trào Tây Sơn và Vương triều Tây Sơn – HĐ3:Tìm hiểu Quang
Trung đại phá quân Thanh năm 1789)

Hình 5: Cọc gỗ đầu nhọn căm xuống noi hiểm yếu ở sơng bạch Đằng

Hình 6: Ngơ Quyền cho qn bơi thuyền nhẹ ra khiêu chiến.

23


Hình 7: Giặc hốt hoảng quay thuyền bỏ chạy
(Bài 2: Hơn một nghìn năm đấu tranh giành lại độc lập – HĐ 4: Tìm hiểu
nguyên nhân, diễn biến của trận Bạch Đằng)

Lê Thị Thúy


Hình 8: An Dương Vương cùng cơng chúa Mị Châu
chạy khỏi sự truy đuổi của quân Triệu Đà.
(Bài 1: Buổi đầu dựng nước và giữ nước – HĐ4: Tìm hiểu về cuộc kháng chiến
của nhân dân Âu Lạc chống quân xâm lược Triệu Đà)

24


Hình 9: Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa.
(Bài 2: Hơn một nghìn năm đấu tranh giành lại độc lập – HĐ3:Tìm hiểu về
cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng)

Hình 10: Ngơ Quyền
(Bài 2: Hơn một nghìn năm đấu tranh giành lại độc lập – HĐ4:Tìm hiểu nguyên
nhân, diễn biến của trận Bạch Đằng).

25


×