Tải bản đầy đủ (.doc) (49 trang)

Quyết định giám đốc về kinh doanh thương mại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (306.09 KB, 49 trang )

a
phần thứ hai
quyết định giám đốc thẩm về kinh doanh
thơng mại
Quyết định số 01/2002/HĐTP-KT Ngày 26-12-2002
Về vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
hàng hoá vận chuyển bằng đờng biển.
hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
252
43
........................
Tại phiên toà ngày 26-12-2002 xét xử giám đốc thẩm vụ án kinh tế về tranh chấp hợp đồng
bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đờng biển giữa các đơng sự:
Nguyên đơn: Công ty kinh doanh sản xuất Sài Gòn - Dăk Lăk, có trụ sở tại số 200 Bis Lý
Chính Thắng, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh;
Bị đơn: Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh, có trụ sở tại số 26 Tôn Thất Đạm, quận 1,
thành phố Hồ Chí Minh;
Ngời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ngân hàng Thơng mại cổ phần Sài Gòn công thơng, có trụ sở tại số 18 - 19 - 20 Tôn Đức Thắng,
quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
2. Công ty trách nhiệm hữu hạn đại lý và dịch vụ vận tải Sài Gòn, có trụ sở tại số 215F/16
Phan Đăng Lu, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.
Nhận thấy
Ngày l8-09-1995, theo đơn xin mua bảo hiểm của Công ty sản xuất kinh doanh Sài Gòn - Đăk
Lăk (sau đây viết tắt là SADACO), Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (sau đây viết tắt là Bảo
Minh) đã cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm số A 11 64/95 AAH để bảo hiểm cho lô hàng bột mỳ loại A
đóng trong bao HDPE đợc vận chuyển từ cảng Bom Bay (ấn Độ) về cảng thành phố Hồ Chí Minh
với số lợng 12.500 MT 5%, trị giá CIF của lô hàng + 10% là 3.486.656,6USD. Điều kiện bảo
hiểm theo INSTITUTE CARGO CLAUSES (A) 1.1.82 của Hội bảo hiểm Luân Đôn, trách nhiệm
bảo hiểm đợc chấm dứt khi hàng đợc dỡ khỏi lan can tàu biển tại cảng đến.
Do ký hợp đồng mua lô hàng bột mỳ với BANFUS FOUNDATION -LTD (sau đây viết tắt là


BFL) nên ngày 22- 11- l995 SADACO đã ký hợp đồng số 06/95-HĐĐLVT với Công ty trách nhiệm
hữu hạn đại lý và dịch vụ vận tải Sài Gòn (sau đây viết tắt là TRANCOSI) để thuê Công ty này vận
chuyển lô hàng về Việt Nam. Ngày 15-02-1996, SADACO và TRANCOSI ký tiếp phụ lục hợp
đồng, trong đó xác định hiệu lực của hợp đồng vận chuyển trên đợc kết thúc khi tàu Romashka (tàu
chở lô hàng bột mỳ) dỡ hàng xong tại cảng thành phố Hồ Chí Minh; SADACO phải chuyển trớc 1/3
tiền cớc là 100.000 USD để chủ tàu thanh toán các chi phí trớc khi tàu rời cảng Bom Bay (Số tiền
này là nằm ngoài hợp đồng vận chuyển, lý do chuyển trớc là do tàu neo đậu quá lâu tại cảng Bom
Bay). Để thanh toán tiền mua hàng cho BFL, theo yêu cầu của SADACO ngày 17-02-1996 Sài Gòn
Bank đã mở L/C (tín dụng th) không huỷ ngang với trị giá 1.755.480 USD.
Theo thông báo của SADACO về tên tàu, trọng lợng hàng, vận đơn..., ngày 01-03-1996 Bảo
Minh cấp tiếp Giấy sửa đổi bổ sung số BO 106/96 AAH với nội dung chủ yếu sau: Trọng lợng cả bì là
9.125,706 tấn; trị giá hàng đợc bảo hiểm là 24.764.441.994 đồng Việt Nam (CIF + 10%); tổng phí
bảo hiểm là 284.791.000 đồng gồm phí bảo hiểm hàng hoá 173.351.000 đồng do SADACO nộp và
phụ phí bảo hiểm tàu là 111.434.000 đồng do TRANCOSI nộp. Các điều khoản khác của Giấy chứng
nhận bảo hiểm số A1164/95 AAH không thay đổi. Theo yêu cầu của SADACO tại công văn số
194/CV ngày 04-03-1996, ngày 04-03-1996 Ngân hàng thơng mại cổ phần Sài Gòn công thơng (sau
đây viết tắt là Sài Gòn Bank - Ngân hàng mở L/C để SADACO thanh toán tiền hàng) có văn bản xác
định trách nhiệm bảo hiểm lô hàng bột mỳ 9.125,706 tấn của SADACO với trị giá bảo hiểm CIF +
10% là 2.243.969,01 USD và cam kết: ''Nếu lô hàng bị tổn thất toàn bộ hoặc tàu chở hàng bị mất tích,
khi ngời đợc bảo hiểm hội đủ các chứng từ liên quan gồm cả bản chính vận đơn thì trách nhiệm này
253
thuộc ngời bảo hiểm bồi thờng và Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh thanh toán tiền bồi thờng
u tiên pháp định thứ nhất, nếu có, cho Sài Gòn Bank đền số tiền mà Sài gòn Bank đã cho Công ty
SADACO vay, cộng tiền lãi do Sài Gòn Bank xác định bằng văn bản''.
Theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trên, SADACO và TRANCOSI đã nộp phí bảo hiểm. Ngày
08-03-1996 SADACO đã vay 100.000 USD của Sài Gòn Bank và chuyển cho TRANCOSI. Về
thanh toán tiền hàng, ngày 06-03-1996, Ngân hàng RAJAS. THAN LTD (ấn Độ - Ngân hàng thông
báo) đã cnuyển L/C do Sài Gòn Bank mở cho Ngân hàng STANDARD CHATTERED (sau đây viết
tắt là SCB - ngân hàng xác nhận và chiết khấu). Qua trao đổi giữa các ngân hàng, ngày 14-03-1996
SCB đã chiết khấu chứng từ và chuyển cho BFL số tiền 1.742.246,4 USD (tơng đơng 58 triệu Ru

Pi), đồng thời phát hành hối phiếu số CBN 852/965953 trị giá là 1.742.246,4 USD kèm theo bộ
chứng từ gửi đến Sài Gòn Bank yêu cầu thanh toán theo hối phiếu. Do bộ chứng từ thanh toán có 3
điểm bất hợp lệ (hối phiếu ký phát sai ngời trả tiền; vận đơn ghi không đúng với L/C; giấy chứng
nhận kiểm định thực vật không ghi ngày phát hành) nên SADACO và Sài Gòn Bank đã từ chối
thanh toán. Sau nhiều lần thơng lợng về sửa đổi các điểm bất hợp lệ không thành, ngày 30-05-l996,
SCB yêu cầu Sài Gòn Bank chuyển lại bộ chứng từ. Ngày 31 -05- 1996 Sài Gòn Bank đã chuyển bộ
chứng từ nêu trên cho SCB.
Sau sự việc trên, ngày 05-06-1996, SADACO có công văn số 598/CV gửi TRANCOSI thông
báo huỷ hợp đồng vận chuyển, xác nhận không còn là chủ sở hữu lô hàng đã xếp trên tàu
Romashka. Ngày 06-06-1996 TRANCOSI có công văn số 64/CV gửi SADACO với nội dung: xác
nhận quan hệ vận tải về thuê tàu của SADACO buộc phải chấm dứt, đồng thời cho rằng số tiền cớc
100.000 USD do SADACO đã thanh toán sẽ do các bên liên quan về quyền và nghĩa vụ bàn bạc giải
quyết trong quá trình thanh lý để chấm dứt hiệu lực của hợp đồng thuê tàu. Trong thời gian các bên
1iên quan tiếp tục thơng lợng thì ngày 23-07-1996, sau khi gặp bão, tàu Romashka bị mắc cạn và
chìm tại vùng biển Bom Bay (ấn Độ) dẫn đến lô hàng bột mỳ xếp trên tàu bị tổn thất toàn bộ. Ngày
31-07-1996, SADACO có Công văn số 747/TB thông báo sự kiện trên cho Bảo Minh. Ngày
03-08-1996, Bảo Minh có công văn số 741/HH96 gửi SADACO, từ chối bồi thờng tổn thất với lý do
SADACO không còn là chủ sở hữu lô hàng bột mỳ xếp trên tàu Romashka và hợp đồng bảo hiểm
giữa hai bên đã mặc nhiên chấm dứt theo Điều 48 Luật bảo hiểm Anh năm 1906.
Ngày 19-09-1996, SADACO gửi công văn số 891/KNBT-SDC yêu cầu Bảo Minh phải bồi th-
ờng tổn thất của lô hàng theo quy định về bảo hiểm.Ngày 01-10- l996, Bảo Minh có công văn số
608/BT 96 từ chối trách nhiệm bảo hiểm đối với lô hàng với lý do SADACO không còn là chủ sở
hữu lô hàng.
Do không tự giải quyết đợc tranh chấp trên, nên ngày 22-02-1997, SADACO có đơn khởi kiện
tại Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh với yêu cầu buộc Bảo Minh phải bồi thờng tổn thất
toàn bộ lô hàng bột mỳ là 24.776.441.994 đồng Việt Nam. Tại các phiên toà sơ thẩm ngày
01-10-1999 và ngày 26-10-1999, SADACO yêu cầu Bảo Minh phải bồi thờng tổn thất lô hàng trên
là 2.246.338,31 USD.
Tại Bản án kinh tế sơ thẩm số 36/KTST ngày 26-10-1999, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh đã quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu của SADACO, buộc Bảo Minh phải bồi thờng

cho SADACO số tiền là 22.554.820.497 đồng, ngoài ra còn quyết định về mức án phí kinh tế sơ
thẩm và quyền kháng cáo của các đơng sự theo quy định của pháp luật.
254
Ngày 01-11-1999, Bảo Minh có đơn kháng cáo với nội dung: Toà án cấp sơ thẩm áp dụng Quy
tắc chung 1990 (A) (Ban hành kèm theo Quyết định số 305/TC/BH ngày 09-08-l990 của Bộ Tài
chính) để giải quyết vụ án là không phù hợp với thoả thuận của các bên theo hợp đồng bảo hiểm và
từ chối trách nhiệm bảo hiểm với lý do SADACO không bị tổn thất và nếu có thì phải chứng minh
đợc ở thời điểm xảy ra tổn thất họ phải có quyền lợi trên đối tợng bảo hiểm; Hợp đồng bảo hiểm đã
hết hiệu lực; hàng hoá bị tổn thất tự nhiên và do chậm trễ trong vận chuyển; chủ tàu thiếu thốn về
khả năng tài chính; và có hành vi xấu của ngời đợc bảo hiểm.
Ngày 05-11-1999, SADACO có đơn kháng cáo với yêu cầu đợc tính số tiền bồi thờng theo tỷ
giá USD/ĐVN tại thời điểm xét xử sơ thẩm.
Tại Bản án kinh tế phúc thẩm số 20/PTKT ngày 11-07-2001 , Toà phúc thẩm Toà án nhân dân
tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Giữ nguyên Bản án kinh tế sơ thẩm nêu trên của
Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và buộc SADACO, BảO MINH phải chịu án phí kinh tế
phúc thẩm.
Sau khi vụ án đợc xét xử phúc thẩm, Bảo Minh có đơn khiếu nại giám đốc thẩm đối với Bản án
kinh tế phúc thẩm nêu trên.
Tại Bản kháng nghị số 03/2002/TK-KT ngày 05-4-2002, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã
kháng nghị Bản án kinh tế phúc thẩm số 20/PTKT ngày 11-07-2001 của Toà phúc thẩm Toà án
nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh với các lý do:
Về quyền sở hữu lô hàng của SADACO: Việc Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm
căn cứ Công văn số 598/CV ngày 05-06-l996 của SADACO và Công văn số 64/CV ngày
06-06-1996 của TRANCOSI về việc chấm dứt hợp đồng vận chuyển để đa TRANCOSI vào tham
gia trong vụ án này là đúng, nhng cha làm rõ trách nhiệm của TRANCOSI sau khi đã chấm dứt hợp
đồng vận chuyển với SADACO nh: Có thông báo cho BFL biết việc chấm dứt hợp đồng vận
chuyển? Nếu có thì BFL có ý kiến nh thế nào?
Về việc SADACO từ chối thanh toán tiền hàng do bộ chứng từ có những sai sót: Theo văn
bản ngày 24-08-1998 của SCB và văn bản ngày 25-10- 1999 của Luật s đại diện cho SCB thì giữa
SCB và BFL, COMODITIES ECHENGE CORPRATION LIMITED (Sau đây viết tắt là CECL - bên

thụ hởng của bên BFL) đã có thoả thuận về việc giao lại bộ chứng từ thanh toán và nhận lại số tiền
đã chiết khấu. SCB đã giao bộ chứng từ nhng mới nhận đợc 14.000.000 Ru Pi từ BFL và CECL. Khi
giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo hiểm hàng hoá, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm
không đa BFL và SCB vào tham gia tố tụng với t cách là ngời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
nên đã không làm rõ đợc các nội dung:
+ Vì sao BFL đã giao hàng, CECL đã nhận tiền bán hàng, nay lại thoả thuận trả lại tiền bán
hàng để nhận bộ chứng từ thanh toán?
+ Cha xác minh đợc những nội dung nêu trong văn bản ngày 24-08-1998 và văn bản ngày
25-10-1999 của SCB để từ đó làm rõ BFL đã chấp nhận lấy lại hàng, chấm dứt hợp đồng mua bán
với SADACO.
+ Vì sao SADACO lại có công văn số 598/CV ngày 05-06-1996 từ chối không còn là chủ sở
hữu lô hàng đã xếp lên tàu?
+ Vì sao ngày 11-10-1996 SADACO lại có thoả thuận với CECL nhận lại bộ vận đơn đờng
biển bản chính để khởi kiện yêu cầu Bảo Minh phải bồi thờng thiệt hại do lô hàng bị tổn thất?
255
Về tổn thất, mất mát và tranh chấp của SADACO theo hợp đồng mua bán đã ký với BFL thì
cha có căn cứ nào chứng minh SADACO đã phải chịu tổn thất, mất mát hay tranh chấp với BFL về
hợp đồng mua bán bột mỳ, cũng nh tranh chấp về thanh toán tiền hàng với BFL trong khi tổn thất
đã xảy ra từ tháng 7-1996.
Bản Kháng nghị còn cho rằng nếu có căn cứ xác định SADACO là chủ sở hữu lô hàng thì phải
xem xét các điều kiện Bảo Minh đợc miễn, giảm trách nhiệm bảo hiểm theo Điều khoản bảo hiểm mà
SADACO và Bảo Minh đã thoả thuận nếu SADACO là bên có lỗi.
Từ các lý do trên, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đề nghị Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân
dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tuyên huỷ Bản án kinh tế sơ thẩm số 36/KTST ngày
26-10-1999 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và Bản án kinh tế phúc thẩm số 20/PTKT
ngày 11-07-2001 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, giao hồ
sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung có sự
tham gia của SCB và BFL với t cách là ngời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Tại Kết luận số 12/KL-AKT ngày 30-05-2002, Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã nhất
trí với kháng nghị nêu trên của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

XéT THấY
Để xem xét trách nhiệm bảo hiểm của Bảo Minh đối với lô hàng bột mỳ bị tổn thất toàn bộ,
cần xác định đợc tại thời điểm xảy ra tổn thất ai là ngời có quyền lợi trên đối tợng bảo hiểm. Theo
các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì đối tợng của hợp đồng bảo hiểm đợc ký kết giữa Bảo Minh với
SADACO đợc hình thành từ hợp đồng mua bán hàng hoá ký giữa BFL với SADACO, tiền hàng đợc
thanh toán theo L/C (tín dụng th) không huỷ ngang thông qua Sài Gòn Bank (Ngân hàng mở L/C)
và SCB (Ngân hàng xác nhận). SCB đã chiết khấu hối phiếu (trả tiền hàng) cho BFL và nhận bộ
chứng từ, đồng thời đã chuyển bộ chứng từ đã chiết khấu cho Sài Gòn Bank để yêu cầu thanh toán,
nhng Sài Gòn Bank đã phát hiện thấy bộ chứng từ đó có nhiều sai sót, có sai sót rất nghiêm trọng
nên chủ động lấy ý kiến của SADACO - là ngời mua hàng. SADACO đã trả lời bằng văn bản cho
Sài Gòn Bank với nội dung không chấp nhận bộ chứng từ (không thanh toán). Sau thời gian thơng l-
ợng giữa hai ngân hàng trên không thành, Sài Gòn Bank đã trả lại bộ chứng từ trên cho SCB và đợc
SCB chấp nhận. Vào thời điểm tàu Romashka bị chìm thì SCB đang nắm giữ bộ chứng từ đã chiết
khấu. Theo thông lệ quốc tế thì ngời nắm giữ bộ vận đơn là ngời có quyền định đoạt lô hàng. Hơn
nữa, SADACO không những chỉ từ chối thanh toán bộ chứng từ mà còn có Công văn số 598/CV ngày
05-06-1996 gửi TRANCOSI (chủ tàu) thông báo không còn là chủ sở hữu lô hàng xếp trên tàu
Romashka và yêu cầu TRANCOSI chấm dứt hợp đồng vận chuyển. TRANCOSI cũng đã có Công văn
số 64/CV ngày 06-06-1996 gửi SADACO đồng ý chấm dứt hợp đồng vận chuyển.
Nh vậy, vào thời điểm tàu Romashka bị chìm, SADACO hay SCB là ngời có quyền lợi trên đối
tợng bảo hiểm. Toà án các cấp chỉ căn cứ vào việc SADACO là chủ hàng, lại mua bảo hiểm lô hàng
theo điều kiện bảo hiểm đã thoả thuận với Bảo Minh để xác định SADACO là ngời có quyền lợi
trên đối tợng bảo hiểm là cha thoả đáng, cần phải đợc xác minh làm rõ hơn vấn đề này.
Theo Điều 213 Bộ luật Hàng hải Việt Nam thì ''các quyền theo hợp đồng bảo hiểm hàng hải
chỉ đợc chuyển cho ngời đã đợc chuyển nhợng đối tợng bảo hiểm; nếu các quyền đó không đợc
256
chuyển cho ngời đợc chuyển nhợng đối tợng bảo hiểm, thì hợp đồng mặc nhiên chấm dứt và ngời
bảo hiểm vẫn có nghĩa vụ bồi thờng các tổn thất liên quan, xảy ra trớc khi đối tợng bảo hiểm đợc
chuyển nhợng''. Trong vụ án cụ thể này SCB đã chiết khấu trả tiền hàng và đã nắm giữ bộ chứng từ
có giá trị chuyển nhợng sau khi SADACO và Sài Gòn Bank từ chối thanh toán. Theo thông lệ quốc
tế thì SCB có toàn quyền đợc định đoạt lô hàng bột mỳ nêu trên và thực tế, SCB, sau khi nhận lại bộ

chứng từ, đã thơng lợng với BFL bằng một hợp đồng, theo đó BFL nhận lại bộ chứng từ sau khi
SCB đã ký hậu ô trống để chuyển nhợng và BFL đã trả lại cho SCB đợc 14 triệu/58 triệu Ru Pi mà
SCB đã chiết khấu cho BFL. Vậy trong trờng hợp này, đối tợng bảo hiểm (lô hàng bột mỳ và cũng
là bộ vận đơn) đã đợc chuyển từ SADACO cho SCB và từ SCB cho BFL có phải là đối tợng bảo
hiểm đã đợc chuyển nhợng hay không? Nội dung này cha đợc Toà án các cấp làm rõ. Mặt khác, cần
làm rõ việc tại sao BFL đã nắm giữ bộ vận đơn gốc, tức là chủ của lô hàng lại không kiện Bảo Minh
để đòi bồi thờng? lý do có phải là vì BFL không đợc SADACO chuyển giao quyền bảo hiểm nên
phải nhờ đến SADACO? .
Trong quan hệ mua bán, thanh toán bằng tín dụng th (L/C) thì ngời mua hàng chỉ có bộ vận
đơn sau khi đã thanh toán tiền mua hàng. SADACO đã từ chối thanh toán nên bộ chứng từ đã đợc
trả lại cho SCB, SCB đã chuyển cho BFL nhng nay SADACO lại có bộ chứng từ gốc để với t cách là
ngời định đoạt (sở hữu) lô hàng (mà trớc đây đã từ chối t cách chủ sở hữu ngay từ khi lô hàng cha bị
tổn thất toàn bộ do tàu Romashka bị chìm) kiện Bảo Minh yêu cầu bồi thờng tổn thất. Vậy việc
SADACO có đợc bộ chứng từ đó có phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc
tế hay không? Tại nhiều văn bản, Bảo MINH cho rằng đã có sự móc ngoặc giữa SADACO và BFL
để làm thiệt hại cho Bảo Minh. Tất cả những nội dung trên cha đợc Toà án các cấp làm rõ.
Với các lý do nh đã phân tích ở trên, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thấy cần
phải huỷ Bản án kinh tế sơ thẩm số 36/KTST ngày 26-10- 1999 của Toà án nhân dân thành phố Hồ
Chí Minh và Bản án kinh tế phúc thẩm số 20/PTKT ngày 11-07-2001 của Toà phúc thẩm Toà án
nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Hồ
Chí Minh điều tra, giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung. Trong quá trình điều tra, xác minh cần
xác định rõ t cách tham gia tố tụng của BFL, SCB theo quy định của pháp luật, bảo đảm việc giải
quyết vụ án đúng pháp luật.
Bởi các lẽ nêu trên và căn cứ vào khoản 3 Điều 80 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh
tế,
Quyết định
Huỷ Bản án kinh tế sơ thẩm số 36/KTST ngày 26-10-1999 của Toà án nhân dân thành phố Hồ
Chí Minh và Bản án kinh tế phúc thẩm số 20/PTKT ngày 11-07-2001 của Toà phúc thẩm Toà án
nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Hồ
Chí Minh giải quyết lại vụ án theo đúng qui định của pháp luật.

Một số lý do cơ bản mà các Bản án sơ thẩm và phúc thẩm bị huỷ:
1. Cơ sở pháp lý để xác định ngời có quyền lợi trên đối tợng đợc bảo hiểm là cha thoả đáng;
2. Xác định việc chuyển đối tợng đợc bảo hiểm cha rõ ràng;
3. Xác định cơ sở pháp lý để SADACO có đợc bộ chứng từ là cần đợc làm rõ.
257
Quyết định số 02/2002/HĐTP-KT
Ngày 26-12-2002 Về vụ ántranh chấp
hợp đồng cho thuê tài chính
hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
...................................
Tại phiên toà ngày 26 - 12 - 2002 xét xử giám đốc thẩm vụ án kinh tế về tranh chấp hợp đồng
cho thuê tài chính giữa các đơng sự:
Nguyên đơn: Công ty cho thuê tài chính KEXIM Việt Nam, có trụ sở tại tầng 9, Toà nhà
DIAMOND PLAZA, số 34 Lê Duẩn, quận I, thành phố Hồ Chí Minh;
Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn thơng mại Chí Đạt, có trụ sở tại số 394 Trần Hng Đạo B,
quận 5, thành phố Hồ Chí Minh.
Ngời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1- Công ty dịch vụ du lịch Phú Thọ, có trụ sở tại số 2/15 c xá Lữ Gia, quận 11, thành phố Hồ
Chí Minh.
2- Ông Trơng Quốc Huê, thờng trú tại 394 Trần Hng Đạo B, quận 5 thành phố Hồ Chí Minh.
3- Ông Trơng Chí Đạt, thờng trú tại số 394 Trần Hng Đạo B, quận 5 thành phố Hồ Chí Minh.
Nhận thấy
Ngày 16-02-1998, Công ty cho thuê tài chính KEXIM Việt Nam (sau đây viết tắt là Công ty
KEXIM- bên cho thuê) và Công ty trách nhiệm hữu hạn thơng mại Chí Đạt (sau đây viết tắt là
Công ty Chí Đạt- bên thuê) đã ký hai hợp đồng cho thuê tài chính với nội dung nh sau:
Hợp đồng số K97006:
+ Tài sản cho thuê: Hệ thống thiết bị chơi Bowling hoàn chỉnh và hệ thống máy phát điện của
Trung tâm Bowling Đầm Sen.
+ Tổng giá trị tài sản cho thuê: 1.584.000 USD và 2.000.000.000 đồng Việt Nam.
+ Thời hạn thuê: 36 tháng, với mức phí thuê là 51.494,23 USD/tháng đối với khoản tiền USD

và 71.468.900 đồng/tháng đối với khoản tiền Việt Nam đồng.
Hợp đồng số K98002:
+ Tài sản cho thuê: Hệ thống máy điều hoà nhiệt độ của Trung tâm Bowling Đầm Sen.
+ Giá trị tài sản thuê: 405.100 USD
+ Thời hạn thuê: 36 tháng với mức phí thuê là 13.169,39 USD/tháng.
Bên thuê phải thanh toán tiền thuê tài sản hàng tháng theo từng hợp đồng. Quyền sở hữu tài sản cho
thuê thuộc về bên cho thuê và chỉ đợc chuyển cho bên thuê khi bên thuê thanh toán toàn bộ các khoản tiền
thuê, lãi suất, các khoản phải thanh toán khác quy định trong hợp đồng và thanh toán hết giá trị còn lại của
tài sản cho thuê...
Để bảo đảm thực hiện hai hợp đồng cho thuê tài chính trên, Công ty Chí Đạt phải nộp tiền bảo
chứng bằng 10% của tổng chi phí mua tài sản cho thuê, có thế chấp toà nhà Trung tâm Bowling
Đầm Sen, đồng thời có th bảo lãnh của ông Trơng Quốc Huê và ông Trơng Chí Đạt. Kèm theo hai
hợp đồng này là các điều khoản và điều kiện chung quy định chi tiết việc thực hiện hợp đồng.
258
44
Thực hiện hai hợp đồng cho thuê tài chính nêu trên, ngày 18-02-1998, ông Trơng Quốc Huê và
ông Trơng Chí Đạt đã ký các giấy cam kết bảo lãnh cho hệ thống thiết bị Bowling và hệ thống điều
hoà nhiệt độ nhằm bảo đảm việc thanh toán nợ theo hai hợp đồng của Công ty Chí Đạt. Các giấy
cam kết bảo lãnh trên đều không ghi giá trị tài sản cụ thể để bảo lãnh và không đợc xác nhận của cơ
quan công chứng Nhà nớc. Ngày 24-02-1998, Công ty dịch vụ du lịch Phú Thọ (sau đây viết tắt là
Công ty Phú Thọ) ký văn bản cam kết sẽ thế chấp Toà nhà Trung tâm Bowling Đầm Sen cho Công
ty KEXIM sau khi hoàn tất việc xây dựng. Công ty Chí Đạt đã nộp tiền bảo chứng 10% tơng đơng
208.200,84 USD trong đó cho hợp đồng số K97006 là 1.378.711.000 đồng Việt Nam và 69.000
USD; cho hợp đồng số K98002 là 216.674.000 đồng Việt Nam và 25.000 USD.
Về việc bàn giao và lắp đặt các hệ thống thiết bị: Ngày 20-02-1998 Công ty KEXIM, Công ty
Phú Thọ và Công ty Chí Đạt có ký biên bản cam kết với nội dung: Công ty Phú Thọ nhập khẩu thiết
bị Bowling, việc thanh toán tiền hàng và chi phí liên quan do Công ty KEXIM chịu trách nhiệm,
quyền sở hữu tài sản vẫn thuộc Công ty KEXIM. Ngày 21-02-1998, Công ty Phú Thọ đã ký hợp
đồng nhập khẩu uỷ thác số K97006 với Công ty thuỷ sản Chiến Thắng để Công ty này nhập khẩu hệ
thống thiết bị Bowling. Sau khi hệ thống thiết bị trên đợc nhập khẩu vào Việt Nam, ông Trơng Chí

Trọng - Phó giám đốc Trung tâm Bowling Đầm Sen (do Giám đốc Công ty Phú Thọ bổ nhiệm) đã
nhận, Công ty Phú Thọ tổ chức lắp đặt thiết bị tại Trung tâm Bowling Đầm Sen.
Về hệ thống máy điều hoà nhiệt độ và máy phát điện: Thông qua các hợp đồng nhập khẩu uỷ
thác ký với Công ty du lịch Bình Dơng và Công ty thông tin điện tử 7, Công ty KEXIM đã nhập
khẩu, bàn giao và đợc Công ty Phú Thọ tổ chức lắp đặt tại Trung tâm Bowling Đầm Sen. Sau khi
hoàn tất việc lắp đặt các hệ thống thiết bị nêu trên, các bên liên quan đến hai hợp đồng cho thuê tài
chính thoả thuận ngày 27-02-1999 là ngày bắt đầu thuê, Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công
ty Chí Đạt đã thanh toán cho Công ty KEXIM tổng số tiền thuê là 834.520.000 đồng Việt Nam (t-
ơng đơng 59.925,675 USD). Số tiền trên thực chất là do Trung tâm Bowling Đầm Sen - Đơn vị trực
thuộc Công ty Phú Thọ thanh toán, trong đó khoản 368.000.000 đồng Công ty Phú Thọ cho Trung
tâm vay, số còn lại lấy từ hoạt động kinh doanh của Trung tâm.
Do Công ty Chí Đạt không thanh toán tiếp tiền thuê nên ngày 18-08-1999 Công ty KEXIM có
đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh với yêu cầu buộc Công ty Chí Đạt phải
thanh toán tổng số tiền là 2.740.266,93 USD, gồm giá trị tài sản thuê (có lãi) là 2.576.135,27 USD
và tiền phạt do vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 164.131,66 USD, đồng thời buộc Công ty Phú Thọ,
ông Trơng Chí Đạt và ông Trơng Quốc Huê phải chịu trách nhiệm do đã thế chấp, bảo lãnh.
Tại Bản án kinh tế sơ thẩm số 114/KTST ngày 22-5-2000, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh đã quyết định:
1- Hợp đồng cho thuê tài chính số K97006 và số K98002 ký ngày 16-02-1998 giữa Công ty
KEXIM với Công ty Chí Đạt bị vô hiệu toàn bộ. Các bên phải chấm dứt ngay việc tiếp tục thực hiện
hợp đồng.
2- Việc xử lý tài sản đối với hợp đồng bị vô hiệu toàn bộ nh sau:
a- Công ty Chí Đạt phải hoàn trả lại cho Công ty KEXIM các hệ thống: Thiết bị chơi Bowling,
máy phát điện, máy điều hoà nhiệt độ đang lắp đặt tại Trung tâm Bowling Đầm Sen.
b- Công ty KEXIM phải hoàn trả lại cho Công ty Chí Đạt số tiền là 1.595.385.700 đồng Việt
Nam và 94.000 USD.
259
c- Công ty Phú Thọ phải bàn giao các hệ thống thiết bị nêu trên cho Công ty Chí Đạt để hoàn
trả lại cho Công ty KEXIM .
d- Bác yêu cầu của Công ty KEXIM về trách nhiệm bảo lãnh đối với hai hợp đồng số K97006 và

số K98002 của Công ty Phú Thọ, của ông Trơng Quốc Huê và của ông Trơng Chí Đạt.
3- Tranh chấp về tài sản và phân chia lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh tại Trung tâm Bowling
Đầm Sen giữa Công ty Chí Đạt, Công ty Phú Thọ và Công ty KEXIM đợc giải quyết bằng một vụ kiện
khác.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về mức án phí kinh tế sơ thẩm Công ty Chí Đạt và
Công ty KEXIM phải nộp và quyền kháng cáo của đơng sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 30-05-2002, Công ty KEXIM có đơn kháng cáo đối với Bản án kinh tế sơ thẩm nêu trên.
Tại Bản án kinh tế phúc thẩm số 59/KTPT ngày 16-10-2000, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân
tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Sửa Bản án sơ thẩm, và xử:
1- Công nhận các hợp đồng số K97006 và số K98002 ký ngày 16-02-1998 giữa Công ty KEXIM
và Công ty Chí Đạt là các hợp đồng có hiệu lực pháp luật.
Công ty KEXIM đợc chấm dứt hợp đồng thuê số K97006 và số K98002 đã ký với Công ty Chí
Đạt ngày 16-02-1998 trớc khi kết thúc thời hạn cho thuê. Thời điểm chấm dứt hai hợp đồng số
K97006 và số K98002 là ngày 16-10-2000.
Buộc Công ty Chí Đạt có nhiệm vụ thanh toán cho Công ty KEXIM số tiền 2.412.364,88
USD...
Công ty Chí Đạt có quyền sở hữu dây chuyền thiết bị hệ thống Bowling và các thiết bị kèm
theo đặt tại Trung tâm Bowling Đầm Sen...
2- Buộc ông Trơng Chí Đạt, ông Trơng Quốc Huê thực hiện việc thanh toán thay các khoản nợ
của Công ty Chí Đạt cho Công ty KEXIM trong trờng hợp Công ty Chí Đạt không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán tiền nợ cho Công ty KEXIM.
3- Bác kháng cáo của Công ty KEXIM trong việc đòi Công ty Chí Đạt phải trả tiền lãi tích luỹ
tính từ ngày giải ngân đến ngày thông báo bắt đầu thuê: 161.821,78 USD và khoản tiền chi phí đòi
nợ: 7.580.000 USD.
Bác yêu cầu kháng cáo của Công ty KEXIM về việc buộc Công ty Phú Thọ phải thế chấp toà
nhà Trung tâm Bow1ing Đầm Sen cho Công ty KEXIM để bảo lãnh cho hai hợp đồng thuê số K97006
và số K98002,
Ngoài ra, Bản án phúc thẩm còn quyết định về mức án phí kinh tế sơ thẩm và án phí kinh tế
phúc thẩm các đơng sự phải nộp.
Sau khi vụ án đợc xét xử phúc thẩm, Công ty Chí Đạt có đơn khiếu nại giám đốc thẩm đối với

Bản án kinh tế phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định số 19/KN ngày 13-07-2001, Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã
kháng nghị Bản án kinh tế phúc thẩm số 59/KTPT ngày 16-10-2000 của Toà phúc thẩm Toà án
nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh với lý do: Hai hợp đồng cho thuê tài chính số K97006
và số K98002 ký ngày 16-02-1998 giữa Công ty KEXIM với Công ty Chí Đạt bị vô hiệu toàn bộ vì
Công ty Chí Đạt không đăng ký ngành nghề kinh doanh dịch vụ vui chơi giải trí và không trực tiếp
sử dụng hệ thống thiết bị Bow1ing và các thiết bị khác kèm theo để kinh doanh, vi phạm điểm b
khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế; khoản 2 Điều 1 và Điều 4 Nghị định số 64-CP ngày
260
09- 10- 1995 của Chính phủ. Mặt khác, hợp đồng thành lập Công ty liên doanh ký ngày 12-10-1996
giữa Công ty Phú Thọ với Công ty Chí Đạt đã vi phạm Điều 4 Quyết định số 38-HĐBT ngày
10-04-1989 của Chính phủ quy định về liên kết kinh tế. Từ đó đề nghị Uỷ ban Thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm theo hớng sửa toàn bộ Bản án kinh tế phúc thẩm nêu trên,
kết luận hai hợp đồng cho thuê tài chính số K97006 và số K98002 ký ngày 16-02-1998 giữa Công
ty KEXIM với Công ty Chí Đạt bị vô hiệu toàn bộ và xử lý tài sản theo khoản 1, khoản 2 Điều 39
Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế.
Xét thấy
Theo quy định tại khoản 11 Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng và Điều 1 Quy chế tạm thời về
tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định số
64-CP ngày 09-10-1995 của Chính phủ thì cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung, dài
hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị và các động sản khác. Cũng theo khoản 2 Điều 2 Quy
chế nêu trên thì bên thuê tài sản phải là ''Doanh nghiệp đợc thành lập theo pháp luật Việt Nam, trực
tiếp sử dụng tài sản thuê trong thời hạn thuê theo mục đích kinh doanh hợp pháp của mình'' tại thời
điểm ký kết. Hai hợp đồng cho thuê tài chính số K97006 và số K98002 với Công ty KEXIM, trong
Giấy phép thành lập số 1921/GP-UB ngày 07-11-1994 do Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh cấp và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 041327 ngày 11-11- 1994 do Sở kế hoạch và
đầu t thành phố Hồ Chí Minh cấp, thì Công ty Chí Đạt đều cha đăng ký ngành nghề kinh doanh
dịch vụ vui chơi giải trí để có thể trực tiếp sử dụng các tài sản cho thuê trong thời hạn thuê theo hai
hợp đồng cho thuê tài chính số K97006 và số K98002 đúng với những quy định nêu trên, đồng thời
không thực hiện đúng nghĩa vụ của công ty đợc quy định tại Điều 13 của Luật Công ty là: ''Kinh

doanh theo ngành nghề ghi trong giấy phép''. Do đó, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Pháp
lệnh Hợp đồng kinh tế thì hai hợp đồng cho thuê tài chính số K97006 và số K98002 ký ngày
16-02-1998 giữa Công ty KEXIM với Công ty Chí Đạt là hợp đồng kinh tế bị vô hiệu toàn bộ. Toà
án cấp phúc thẩm viện dẫn hợp đồng số 07/HĐ về việc góp vốn hợp tác kinh doanh tại Trung tâm
Bow1ing Đầm Sen ký ngày 01-06-1997 giữa Công ty Phú Thọ với Công ty Chí Đạt là hợp đồng hợp
pháp nên việc kinh doanh dịch vụ Bow1ing của Công ty Chí Đạt phù hợp với khoản 2 Điều 2 Quy chế
nêu trên và công nhận hiệu lực của hai hợp đồng cho thuê tài chính số K97006 và số K98002 là không
đúng. Mặt khác, nếu theo quy định tại Điều 1 , Điều 2 và Điều 4 của Quyết định số 38-HĐBT
ngày10-04-1989 của Chính phủ về liên kết kinh tế thì những thoả thuận tại hợp đồng số 07/HĐ không
phù hợp với công việc sản xuất kinh doanh của Công ty Chí Đạt và cha đợc cơ quan Nhà nớc có thẩm
quyền cho phép thực hiện.
Về xử lý tài sản đối với hai hợp đồng cho thuê tài chính bị vô hiệu toàn bộ nêu trên, theo điểm
a khoản 2 Điều 39 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế, về nguyên tắc thì: ''Các bên có nghĩa vụ hoàn trả
cho nhau tất cả những tài sản đã nhận đợc từ việc thực hiện hợp đồng, trong trờng hợp không thể
hoàn trả đợc bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền, nếu tài sản đó không bị tịch thu theo quy định của
pháp luật''. Nh vậy, nếu áp dụng nguyên tắc hoàn trả bằng hiện vật thì Công ty Chí Đạt sẽ phải hoàn
trả lại toàn bộ những tài sản đã nhận cho Công ty KEXIM và Công ty KEXIM phải hoàn trả lại cho
Công ty Chí Đạt số tiền đã nhận từ Công ty Chí Đạt. Tuy nhiên, trong tranh chấp hợp đồng kinh tế
cụ thể này, căn cứ vào hồ sơ vụ án cho thấy, dây chuyền thiết bị đồng bộ phục vụ kinh doanh
Bowling đã đợc lắp đặt và khai thác tại Trung tâm Bow1ing Đầm Sen thuộc Công ty Phú Thọ. Dây
chuyền này hoạt động có hiệu quả từ năm 1999 đến nay, tạo việc làm cho hơn 400 cán bộ công
261
nhân viên. Do đó, nếu xử lý tài sản theo hớng hoàn trả bằng hiện vật thì sẽ phá vỡ hoạt động sản
xuất kinh doanh, ảnh hởng đến đời sống, việc làm của ngời lao động và làm giảm giá trị thiết bị
máy móc nếu bị tháo dỡ khỏi công trình. Vì vậy, cần xác định đây là trờng hợp không thể hoàn trả
tài sản bằng hiện vật.
Theo hai hợp đồng cho thuê tài chính thì Công ty Phú Thọ không có quan hệ hợp đồng trực
tiếp với Công ty KEXIM, nhng căn cứ vào hồ sơ dự án đầu t Trung tâm Bow1ing do Uỷ ban nhân
dân thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Kế hoạch và Đầu t, Bộ Thơng mại cho phép Công ty Phú Thọ triển
khai thực hiện dự án thì nguồn vốn thực hiện dự án này là nguồn vốn tín dụng, không có hình thức

liên kết góp vốn. Hơn nữa hồ sơ vụ án thể hiện hệ thống thiết bị Bowling đợc nhập khẩu theo giấy
phép miễn thuế của Công ty Phú Thọ, toàn bộ hệ thống thiết bị đồng bộ đã đợc lắp đặt và đợc Công
ty Phú Thọ quản lý, vận hành, khai thác và hởng lợi từ trớc tới nay. Mặt khác, Công ty Phú Thọ
cũng có liên quan đến việc hình thành hai hợp đồng cho thuê tài chính số K97006 và số K98002 ký
giữa Công ty KEXIM với Công ty Chí Đạt, thể hiện tại Biên bản cam kết tay ba số K97006 ngày
20-02-1998 giữa Công ty KEXIM, Công ty Phú Thọ và Công ty Chí Đạt, Bản cam kết ngày
24-02-1998 của Công ty Phú Thọ về việc sẽ thế chấp toà nhà Trung tâm Bowling sau khi hoàn tất
việc xây dựng. Việc không xem xét trách nhiệm của Công ty Phú Thọ không những là thiếu sót về
mặt tố tụng của Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm, mà về nội dung cũng cha phản ánh
đúng các mối quan hệ pháp lý phát sinh giữa các bên liên quan đến dây chuyền thiết bị toàn bộ này,
cha đánh giá đợc mức độ hao mòn, giảm giá trị của hệ thống thiết bị sau một thời gian dài đợc
Công ty Phú Thọ khai thác, sử dụng.
Vì vậy, trong vụ án cụ thể này cần xử lý tài sản đối với hai hợp đồng cho thuê tài chính bị vô
hiệu toàn bộ nêu trên theo hớng hoàn trả bằng tiền theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 39 Pháp
lệnh Hợp đồng kinh tế, và cần thiết phải làm rõ trách nhiệm liên đới về tài sản của Công ty Phú Thọ
và Công ty Chí Đạt trong việc nhập khẩu, giao nhận và sử dụng toàn bộ hệ thống thiết bị. Cụ thể,
cần xác định giá trị hoàn trả là giá gốc của hệ thống thiết bị kinh doanh Bow1ing đã đợc lắp đặt tại
Trung tâm Bowling Đầm Sen theo giá Công ty KEXIM đã mua theo từng thời điểm; xác định t cách
trách nhiệm của các bên liên quan trong việc giao nhận tài sản thuê, qua đó làm rõ và cụ thể hoá
trách nhiệm của Công ty Phú Thọ và Công ty Chí Đạt đối với Công ty KEXIM, cũng nh trách
nhiệm của Công ty KEXIM đối với các công ty này. Ngoài ra, cũng cần xác định rõ số lợng cũng
nh giá trị các tài sản khác mà Công ty Chí Đạt và Công ty Phú Thọ đã góp để đầu t tại Trung tâm
Bowling Đầm Sen theo hợp đồng số 07/HĐ ký ngày 01-06-1997 giữa hai bên, làm cơ sở cho việc
thực hiện nghĩa vụ của mỗi công ty đối với việc hoàn trả giá trị gốc của toàn bộ hệ thống thiết bị
cho Công ty KEXIM.
Về trách nhiệm bảo lãnh của ông Trơng Chí Đạt và ông Trơng Quốc Huê, Toà án cấp phúc
thẩm buộc hai ông này phải chịu trách nhiệm thực hiện thanh toán thay các khoản nợ của Công ty
Chí Đạt cho Công ty KEXIM trong trờng hợp Công ty Chí Đạt không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ thanh toán tiền nợ cho Công ty KEXIM cũng cần đợc xem xét lại vì các giấy
cam kết bảo lãnh này cha hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các nhận định nêu trên và tài liệu chứng cứ hiện đang có trong hồ sơ vụ án thì cần
phải huỷ Bản án kinh tế sơ thẩm số 114/KTST ngày 22-05-2000 của Toà án nhân dân thành phố Hồ
Chí Minh và Bản án kinh tế phúc thẩm số 59/KTPT ngày 16-10-2000 của Toà phúc thẩm Toà án
nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Hồ
Chí Minh giải quyết lại theo hớng điều tra, xác minh, thu thập thêm chứng cứ nhằm xác định và
262
phân chia cụ thể trách nhiệm liên đới về tài sản giữa Công ty Chí Đạt và Công ty Phú Thọ đối với
Công ty KEXIM, cũng nh trách nhiệm của Công ty KEXIM đối với hai công ty này trong việc hoàn
trả cho nhau bằng tiền những tài sản đã nhận đợc của nhau trên cơ sở quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên, và căn cứ vào khoản 3 Điều 80 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế,
QUYếT ĐịNH
l- Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị số 19/KN-AKT ngày 13-07-2001 của Viện tr-
ởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đối với Bản án kinh tế phúc thẩm số 59/KTPT ngày
16-10-2000 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
2- Huỷ Bản án kinh tế sơ thẩm số 114/KTST ngày 22-05-2000 của Toà án nhân dân thành phố Hồ
Chí Minh và Bản án kinh tế phúc thẩm số 59/KTPT ngày 16-10-2000 của Toà phúc thẩm Toà án
nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo đúng
quy định của pháp luật.
Lý do cơ bản các Bản án sơ thẩm và phúc thẩm bị huỷ:
1. Cần xử lý tài sản đối với hợp đồng vô hiệu toàn bộ theo hớng hoàn trả bằng tiền;
2. Sai sót về thủ tục tố tụng khi không xem xét trách nhiệm của Công ty Phú Thọ;
3. Nội dung Bản án cha phản ánh đúng mối quan hệ pháp lý phát sinh giữa các bên tranh chấp;
4. Cần làm rõ trách nhiệm liên đới về tài sản của Công ty Phú Thọ và Công ty Chí Đạt trong
việc nhập khẩu, giao nhận và sử dụng toàn bộ hệ thống thiết bị.
Quyết định số 03/2003/HĐTP- KT
Ngày 24-02-2003 Về vụ án tranh chấp
hợp đồng mua bán xe ô tô trả chậm
Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
.................

Tại phiên toà ngày 24-02-2003 xét xử giám đốc thẩm vụ án kinh tế về tranh chấp hợp đồng
mua bán xe ô tô trả chậm giữa:
Nguyên đơn: Công ty liên doanh ô tô Việt Nam Daewoo (tên giao dịch là VIDAMCO); có trụ
sở tại xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội;
Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng giao thông thơng mại Tân á (tên giao dịch là
TANACO); có trụ sở tại số 576A Lê Quang Định, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh;
Ngời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Thơng mại cổ phần các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh (sau đây viết tắt là VP.Bank); có trụ sở tại số 18B Lê Thánh Tông, thành phố Hà
Nội.
NHậN THấY
Ngày 07-07-1995, Công ty liên doanh ô tô Việt Nam Daewoo (sau đây viết tắt là Công ty
VIDAMCO) đại diện là ông Chong Gi Lee Tổng giám đốc đã ký hợp đồng mua bán số VID-
263
45
TNC/95702 bán xe ô tô theo phơng thức trả chậm cho Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng giao
thông thơng mại Tân á (sau đây viết tắt là Công ty TANACO) với nội dung chủ yếu nh sau:
Tên hàng : Xe tô Daewoo mới
Số lợng : 100 xe
Đơn giá: 18.200 USD/chiếc
Tổng giá trị hợp đồng: 1.820.000 USD (cha tính lãi).
Ngời mua (Công ty TANACO) có thể thanh toán bằng tiền đồng Việt Nam theo tỷ giá bán ra của
USD do Ngân hàng nhà nớc ấn định vào ngày thanh toán tới hạn.
Điều kiện thanh toán:
Trong trờng hợp ngời mua lấy đợc th bảo đảm cho số tiền còn lại 1.638.000 Mỹ kim cùng với
tiền lãi có liên quan từ VP. Bank (Ngân hàng Thơng mại Cổ phần các Doanh nghiệp ngoài quốc
doanh Việt Nam) hoặc EXIMBANK trong vòng 10 ngày kể từ ngày ký hợp đồng và th bảo đảm đó
phải đợc tổng giám đốc của VP. Bank tại Hà Nội hoặc EXIMBANK tại thành phố Hồ Chí Minh ký
nhận thì điều kiện thanh toán nh sau:
+ 10% trả trớc (182.000 USD): Trong vòng 10 ngày kể từ ngày ký hợp đồng.
+ 90% (1.638.000 USD): Ngời mua thanh toán 6 tháng/lần kể từ năm đầu tiên đợc trả chậm

cùng với tiền lãi có liên quan theo phụ kiện số 01.
+ Tiền phạt: Lãi phạt do không thực hiện việc thanh toán đúng hạn là 2%/tháng cho mỗi kỳ trễ
hạn.
Cùng ngày 07-07-1995 hai bên ký phụ kiện số 01, quy định số tiền và ngày thanh toán. Tiền
lãi (trả chậm) sẽ đợc thanh toán cùng với số tiền gốc vào ngày thanh toán tới hạn.
Để bảo đảm cho việc thanh toán số tiền 1.638.000 USD theo hợp đồng và phụ kiện nêu trên,
VP. Bank đã phát hành Giấy bảo lãnh số 165/VPB-TTQT ngày 25-09-1995.
Theo tiến độ thực hiện của hợp đồng, Công ty VIDAMCO đã giao đủ 100 xe cho Công ty
TANACO theo Biên bản bàn giao xe ngày 31- 01-1997. Hai bên không có tranh chấp khiếu nại gì
về chủng loại, số lợng, chất lợng, thời gian và địa điểm giao hàng, nhng tranh chấp về việc thanh
toán. Theo biên bản đối chiếu xác định nợ ngày 06-07-1998 thì Công ty TANACO đã thanh toán
cho Công ty VIDAMCO tổng số tiền mua xe ô tô theo hợp đồng số VID-TNC/961146 ngày
09-11-1996 và hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 là: 12.256.856.100 đồng, số tiền
còn nợ của hai hợp đồng: Theo Công ty TANACO nợ gốc và lãi trả chậm còn 1.966.313,62 USD;
Theo Công ty VIDAMCO nợ gốc và lãi trả chậm còn 1.967.266,37 USD (trong đó nợ quá hạn là
1.301.017,37 USD);
Do hai bên không thống nhất đợc với nhau về số liệu công nợ, cách áp dụng tỷ giá thanh toán
(giữa USD/ĐVN) và số tiền lãi phạt của hợp đồng nêu trên, nên từ đó phát sinh tranh chấp.
Ngày 21-09-1998 Công ty VIDAMCO có đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân thành phố Hồ
Chí Minh với yêu cầu buộc Công ty TANACO thanh toán toàn bộ số tiền bao gồm tiền nợ gốc, lãi
chậm trả và tiền phạt do vi phạm nghĩa vụ thanh toán là l.267.738,39 USD (Tính đến ngày
15-09-1998); và yêu cầu VP.Bank phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả thay cho Công ty TANACO
nếu Công ty TANACO không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình.
Tại các buổi hoà giải không thành, hai bên vẫn không thoả thuận đợc với nhau về tỷ giá quy
đổi giữa đồng USD/ĐVN và số tiền nợ, lãi phạt của hợp đồng, sau đó hai bên nhất trí trng cầu giám
264
định các số liệu mà hai bên đa ra. Tuy nhiên, đến ngày 14-09-2000 hai bên đã thống nhất lấy tỷ giá
USD/ĐVN do Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh công bố (tại Công
văn số 889/NHTP 99 ngày 02-12-1999).
Tại Kết luận giám định số 134/KLGĐ-KTTC ngày 20-10-2000 và kết luận bổ sung số

77/KLGĐ-KTTC ngày 05-07-2001 của Tổ chức giám định kế toán- tài chính thành phố Hồ Chí
Minh xác định công nợ giữa Công ty VIDAMCO và Công ty TANACO tính đến ngày 05-07-2001
cụ thể là:
Tổng số tiền Công ty TANACO phải thanh toán là: 2.127.425,30 USD,
Số tiền Công ty TANACO đã thanh toán là: 1.508.316,95 USD,
Số tiền Công ty TANACO còn phải thanh toán là: 619.108,35 USD.
Tại Bản án kinh tế sơ thẩm số 116/KTST ngày 06-07-2001, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh đã nhận định hợp đồng mua bán số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 ký giữa Công ty
VIDAMCO và Công ty TANACO là hợp đồng hợp pháp.
Công ty TANACO thanh toán cho Công ty VIDAMCO tổng số tiền là: 1.063.787,03 USD bao
gồm:
Tiền hàng (kể cả lãi trả chậm): 619.108,35 USD;
Tiền phạt do chậm thanh toán: 444.678,68 USD.
Việc thanh toán thực hiện bằng tiền đồng Việt Nam theo tỷ giá bán ra của Ngân hàng ngoại
thơng thành phố Hồ Chí Minh vào thời điểm thanh toán.
Nếu Công ty TANACO không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán thì VP.Bank với
trách nhiệm ngời bảo lãnh phải trả thay trong phạm vi giá trị số tiền bảo lãnh là 1.638.000 USD.
Chi phí giám định là: 5.000.000 đồng, Công ty TANACO và Công ty VIDAMCO đều phải
chịu mỗi bên 50%, thành tiền là 2.500.000 đồng, nộp cho Tổ chức giám định kế toán, tài chính
thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về mức án phí kinh tế sơ thẩm các đơng sự phải
nộp và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 11-07-2001 Công ty TANACO có đơn kháng cáo với nội dung: Hợp đồng số VID-TNC/
95702 ký ngày 07-07-1995 giữa Công ty VIDAMCO và Công ty TANACO là hợp đồng bị vô hiệu
toàn bộ vì đại diện của Công ty VIDAMCO khi ký hợp đồng nêu trên cha có thẩm quyền; Công ty
TANACO khi ký hợp đồng cha có chức năng kinh doanh vận tải hành khách và kết quả giám định
của Tổ chức giám định kế toán - tài chính thành phố Hồ Chí Minh là không khách quan, thiếu chính
xác...
Ngày 17-07-2001 VP.Bank có đơn kháng cáo với nội dung: Không phải chịu trách nhiệm bảo
lãnh vì thời hạn bảo lãnh đã hết hiệu lực và số tiền Công ty TANACO đã thanh toán vợt quá số tiền

bảo lãnh của Ngân hàng.
Tại Bản án kinh tế phúc thẩm số 02/KTPT ngày 10- 01- 2002 Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân
tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TANACO và sửa Bản án kinh tế sơ thẩm số 116/KTST
ngày 06-07-2001 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh nh sau:
Vô hiệu toàn bộ hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 giữa Công ty TANACO với
Công ty VIDAMCO.
265
Các bên ký kết hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 phải chấm dứt việc tiếp tục
thực hiện hợp đồng này.
Xử lý tài sản đối với hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 nh sau:
+ Công ty TANACO phải giao trả cho Công ty VIDAMCO 100 xe ô tô du lịch 4 chỗ ngồi hiệu
DAEWOO CEILO xuất xứ Hàn Quốc (giao đúng loại xe mà Công ty TANACO đã nhận của Công ty
VIDAMCO).
+ Công ty VIDAMCO phải thanh toán trả lại cho Công ty TANACO số tiền 1à 728. 137,99
USD. Việc thanh toán thực hiện bằng tiền đồng Việt Nam theo tỷ giá bán ra của Ngân hàng ngoại th-
ơng thành phố Hồ Chí Minh vào thời điểm thanh toán.
Chi phí giám định là: 5.000.000 đồng, Công ty TANACO và Công ty VIDAMCO mỗi bên phải
chịu 50%, thành tiền là 2.500.000 đồng, nộp cho Tổ chức giám định kế toán - tài chính thành phố
Hồ Chí Minh.
Hủy Giấy bảo lãnh số 165/VPB-TTQT của VP.Bank đối với hợp đồng số VID-TNC/95702
ngày 07-07-1995 giữa Công ty TANACO và Công ty VIDAMCO.
Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định sửa mức án phí kinh tế sơ thẩm các đơng sự
phải nộp; Công ty TANACO không phải chịu án phí phúc thẩm nên đợc nhận lại tiền tạm ứng án phí
kháng cáo đã nộp là 200.000 đồng.
Sau khi xét xử phúc thẩm, Công ty VIDAMCO và Công ty TANACO đều có đơn khiếu nại đối
với Bản án kinh tế phúc thẩm nêu trên.
Tại Kháng nghị số 10/2002/TK-KT ngày 08-10-2002 đối với Bản án kinh tế phúc thẩm số 02/
KTPT ngày 10-01-2002 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh,
Chánh án Toà án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử

theo thủ tục giám đốc thẩm, sửa Bản án kinh tế phúc thẩm nêu trên, với lý do: Việc Toà án cấp
phúc thẩm tuyên bố hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 giữa Công ty VIDAMCO với
Công ty TANACO là hợp đồng vô hiệu và xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu là không có căn cứ.
Tại Kết luận số 03/KL-AKT ngày 17/01/2003, Viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
nhất trí với kháng nghị số 10/2002/TK-KT ngày 08-10-2002 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao đối
với Bản án kinh tế phúc thẩm số 02/KTPT ngày 10-01-2002 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao
tại thành phố Hồ Chí Minh.
XéT THấY
Toà án cấp phúc thẩm vì cho rằng việc bổ nhiệm ông Chong Gi Lee làm Tổng Giám đốc của
Công ty VIDAMCO đã không đảm bảo trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật Việt Nam
(không đúng về thủ tục họp Hội đồng quản trị, cha hoàn tất thủ tục có xác nhận của cơ quan có
thẩm quyền về t cách ngời đứng đầu pháp nhân để hoạt động đúng pháp luật) và vì cho rằng: Vào
thời điểm hai bên ký hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 thì Công ty TANACO cha có
chức năng mua bán xe ô tô, ngày 08-07-1995 mới bổ sung chức năng mua bán xe ô tô, ngày
17-10-1995 mới bổ sung chức năng vận chuyển hành khách bằng xe taxi. Nh vậy, đến ngày ký hợp
đồng thì Công ty TANACO cha đăng ký kinh doanh vận chuyển hành khách bằng xe taxi thì việc
mua bán xe này là cha hợp pháp, nên đã kết luận hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995
giữa Công ty TANACO với Công ty VIDAMCO là hợp đồng bị vô hiệu toàn bộ theo điểm c khoản
1 Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (do ngời ký hợp đồng không đúng thẩm quyền, và cha đăng ký
266
kinh doanh theo pháp luật đối với mặt hàng mà các bên thực hiện mua bán) và xử lý hợp đồng vô
hiệu là không đúng và cha phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi vì:
Về lý do đại diện của Công ty VIDAMCO khi ký hợp đồng cha có đầy đủ thẩm quyền.
Ngày 31-03-1995, với t cách là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty VIDAMCO, ông Kyung
Hoon Lee gửi ông Ngô Đình Vấn - Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị, văn bản với nội dung Nên
triệu tập một phiên họp chính thức của Hội đồng quản trị nh là kỳ họp đột xuất để phê chuẩn việc bổ
nhiệm đối với ông Chong Gi Lee làm Tổng Giám đốc và cử ông W. Lee làm Phó Tổng Giám đốc
(trớc đó ông W. Lee đã là Tổng Giám đốc Công ty VIDAMCO). Tuy nhiên, để tiết kiệm thời gian và
triển khai sớm, đề nghị Hội đồng quản trị quyết định việc cải tổ này bằng một văn bản có hiệu lực
nh là sự phê chuẩn của một phiên họp Hội đồng quản trị. Thực hiện đề nghị trên, Hội đồng quản

trị Công ty VIDAMCO có văn bản ngày 10-04-1995 theo đó cả 5 thành viên Hội đồng quản trị đã
ký đồng ý cử ông Chong Gi Lee làm Tổng Giám đốc Công ty VIDAMCO. Toà án cấp phúc thẩm
viện dẫn Điều 7 điều lệ của Công ty VIDAMCO là: Các cuộc họp của Hội đồng quản trị về
nguyên tắc đợc tổ chức tại trụ sở của Công ty liên doanh. Trong trờng hợp đặc biệt có thể tổ chức ở
những địa điểm khác nhau nhng phải đợc các bên thoả thuận. Và quy định tại phần I khoản 2
Thông t số 238-HTĐT-VP ngày 17-05-1992 của Uỷ ban Nhà nớc về hợp tác và đầu t: Biên bản
phiên họp Hội đồng quản trị đầu tiên phải đợc gửi đến Uỷ ban Nhà nớc về hợp tác đầu t" (trong đó
có vấn đề cử Giám đốc), để cho là việc bổ nhiệm ông Chong Gi Lee làm Tổng giám đốc của Công ty
VIDAMCO đã không bảo đảm trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật Việt Nam. Nhận định
này của Toà án cấp phúc thẩm cha đánh giá một cách toàn diện và hiểu một cách cứng nhắc quy
định tại Điều 7 (và không tham khảo Điều 8) điều lệ của Công ty VIDAMCO; cha hiểu đúng tinh
thần quy định tại phần I khoản 2 Thông t số 238-HTĐT-VP nói trên. Mặt khác, tham khảo Công
văn số 8136/BKH-QLDA ngày 29-11-2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu t, thì Bộ Kế hoạch và Đầu
t, (cơ quan quản lý nhà nớc trong lĩnh vực này) đã xác nhận ông Chong Gi Lee là Tổng Giám
đốc Công ty VIDAMCO trong thời gian từ ngày 10-04-1995 đến ngày 25-01-1999. Nh vậy, vào
thời điểm ký hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 ông Chong Gi Lee đã là Tổng
Giám đốc hợp pháp của Công ty VIDAMCO, và việc ông Chong Gi Lee đại diện cho Công ty
VIDAMCO ký hợp đồng nêu trên là đúng thẩm quyền.

Về lý do Công ty TANACO khi ký hợp đồng cha có đăng ký kinh doanh về ngành nghề kinh
doanh vận tải hành khách.
Trớc khi ký hợp đồng nêu trên, Công ty TANACO là doanh nghiệp đợc thành lập hợp pháp đã
có đăng ký kinh doanh cấp ngày 09-11-1994 (xây dựng công nghiệp..., sửa chữa phơng tiện vận
tải..., đại lý ký gửi hàng hoá cho các doanh nghiệp trong nớc). Hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày
07-07-1995 là hợp đồng mua bán xe ô tô nhằm chuẩn bị cho việc kinh doanh tắc xi vận tải hành
khách... Công ty TANACO mua xe để sử dụng chứ không phải là mua xe để bán (kinh doanh xe
nguyên chiếc). Mặt khác, ngay sau ngày ký hợp đồng, ngày 08-07-1995 Công ty TANACO đã có
đăng ký bổ sung ngành nghề: Mua bán hàng nông lâm sản, xe tải, ô tô, xe gắn máy, phân bón và
ngày 17- 10- 1995 TANACO đã đăng ký bổ sung ngành nghề vận chuyển hành khách bằng taxi.
Hơn nữa, sau khi ký hợp đồng, ngày 07-08-1995 hai bên còn ký phụ kiện và bản sửa đổi hợp đồng.

Bản sửa đổi này có hiệu lực từ ngày 24-01-1996. Nh vậy, vào thời điểm có hiệu lực của bản sửa đổi
phụ lục hợp đồng Công ty TANACO không những đã có đăng ký bổ sung ngành nghề mua bán xe ô
267
tô, mà còn có đăng ký bổ sung ngành nghề vận chuyển hành khách bằng taxi. Vì vậy, hợp đồng số
VID-TNC/95702 Ngày 07-07-1995 cũng không bị vô hiệu vì lý do nêu trên.
Ngoài ra, yêu cầu kháng cáo của công ty TANACO đối với Kết luận giám định của Tổ chức
giám định kế toán - tài chính thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu kháng cáo của VP.Bank (không
phải chịu trách nhiệm bảo lãnh...) cũng cha đợc Toà án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết cũng là
không đúng pháp luật.
Bởi các lẽ trên và căn cứ vào khoản 3 Điều 80 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế,
QUYếT ĐịNH
Huỷ toàn bộ Bản án kinh tế phúc thẩm số 02/KTPT ngày 10-01-2002 của Toà Phúc thẩm Toà
án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh. Giao hồ sơ vụ án về Toà Phúc thẩm Toà án nhân
dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.
Lý do cơ bản mà Bản án phúc thẩm bị huỷ:
- Toà án cấp phúc thẩm cho rằng hợp đồng số VIDTNC/95702 ngày 07-07-1995 giữa Công
ty TANACO với Công ty VIDAMCO là hợp đồng vô hiệu toàn bộ là không phù hợp với quy định
của pháp luật. Bởi vì đại diện của Công ty VIDAMCO có đủ thẩm quyền ký kết hợp đồng, đồng
thời Công ty TANACO khi ký hợp đồng đã bổ sung đăng ký ngành nghề phù hợp với quy định của
pháp luật.
Quyết định số 04/2003/HĐTP-KT Ngày 24-02-2003
về vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán
xe ô tô trả chậm
hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
......................
Tại phiên toà ngày 24-02-2003 xét xử Giám đốc thẩm vụ án kinh tế về tranh chấp hợp đồng
mua bán xe ô tô trả chậm giữa:
Nguyên đơn: Công ty liên doanh ô tô Việt Nam Daewoo (tên giao dịch là VIDAMCO); có trụ
sở tại xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội;
Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng giao thông thơng mại Tân á (tên giao dịch là

TANACO); có trụ sở tại số 576A Lê Quang Định, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh;
NHậN THấY
Ngày 09-11-1996 Công ty liên doanh ô tô Việt Nam Daewoo (sau đây viết tắt là Công ty
VIDAMCO), đại diện ông Chong Gi Lee, Tổng giám đốc đã ký hợp đồng kinh tế số VID-TNC/961146
bán xe ô tô theo phơng thức trả chậm cho Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng giao thông thơng
mại Tân á (sau đây viết tắt là Công ty TANACO) với nội dung nh sau:
Số lợng là 50 xe ô tô Daewoo, Model CIELO GL, giá 16.500 USD/chiếc, tổng giá trị hợp
đồng: 825.000 USD (cha tính lãi). Ngời mua Công ty TANACO có thể thanh toán bằng tiền đồng
Việt Nam theo tỷ giá bán ra của USD do Ngân hàng Nhà nớc ấn định vào ngày thanh toán tới hạn.
268
46
Điều kiện thanh toán nh sau:
+ 15 % trả trớc (123.750 USD)
+ 85% còn lại (701.250 USD): Ngời mua thanh toán 6 tháng/lần kèm lãi xuất, trong 3 năm có
liên quan đến bản phụ lục kèm theo.
Tiền phạt: Lãi phạt do không thực hiện việc thanh toán đúng hạn là 2%/tháng cho mỗi kỳ
trễ hạn.
Để bảo đảm cho việc thanh toán số tiền 701.250 USD theo hợp đồng và phụ lục nêu
trên, Công ty VIDAMCO và Công ty TANACO ký hợp đồng cầm cố số VID-
TNC/91146/PLEDG với nội dung cầm cố (50 xe ô tô nhận từ hợp đồng VID-TNC/961146 ngày
09-11-1996) hợp đồng cầm cố này có xác nhận của Phòng công chứng nhà nớc.
Theo tiến độ thực hiện của hợp đồng, Công ty VIDAMCO đã giao đủ 50 xe cho Công ty
TANACO theo giấy biên nhận ngày 16-11-1996. Hai bên không có tranh chấp khiếu nại gì về chủng
loại, số lợng, chất lợng, thời gian và địa điểm giao hàng, nhng tranh chấp về việc thanh toán. Theo biên
bản đối chiếu xác định nợ ngày 06-07-1998 thì Công ty TANACO đã thanh toán cho Công ty
VIDAMCO tổng số tiền mua xe ô tô theo hợp đồng số VID-TNC/961146 ngày 09-11-1996 và
hợp đồng số VID-TNC/95702 ngày 07-07-1995 là: 12.256.856.100 đồng, số tiền còn nợ của hai
hợp đồng: Theo Công ty TANACO nợ gốc và lãi trả chậm còn 1.966.313,62 USD; Theo công ty
VIDAMCO nợ gốc và lãi trả chậm còn 1.967.266,37 USD (trong đó nợ quá hạn là 1.301.017,37
USD);

Do hai bên không thống nhất đợc với nhau về số liệu công nợ, cách áp dụng tỷ giá thanh toán
(giữa USD/ĐVN) và số tiền lãi phạt của hợp đồng nêu trên, nên từ đó phát sinh tranh chấp.
Ngày 21-09-1998 Công ty VIDAMCO có đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân thành phố Hồ
Chí Minh với yêu cầu buộc Công ty TANACO thanh toán toàn bộ số tiền là 313.430,75 USD (tính
đến ngày 15-09-1998). Trờng hợp Công ty TANACO không thanh toán thì đề nghị Toà xử lý tài sản
theo hợp đồng cầm cố nêu trên.
Tại các buổi hoà giải không thành, hai bên vẫn không thoả thuận đợc với nhau về tỷ giá quy
đổi giữa đồng USD/ĐVN và số tiền nợ, lãi phạt của hợp đồng, sau đó hai bên nhất trí trng cầu giám
định các số liệu mà các bên đa ra. Tuy nhiên đến ngày 14-09-2000 hai bên đã thống nhất lấy tỷ giá
USD/ĐVN do Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh công bố (tại Công
văn số 889/NHTP 99 ngày 02-12-1999).
Tại Kết luận giám định số 134/KLGĐ-KTTC ngày 20-10-2000 và Kết luận bổ sung số
77/KLGĐ-KTTC ngày 05-07-2001 của Tổ chức giám định kế toán - tài chính thành phố Hồ Chí
Minh xác định công nợ giữa Công ty VIDAMCO và Công ty TANACO, tính đến ngày 05-07-2001,
cụ thể là:
Tổng số tiền Công ty TANACO phải thanh toán: 932.080,32 USD;
Số tiền Công ty TANACO đã thanh toán: 415.102,02 USD;
Số tiền Công ty TANACO còn phải thanh toán: 516.978,31 USD.
Tại Bản án kinh tế sơ thẩm số 117/KTST ngày 06-07-2001, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh đã nhận định hợp đồng mua bán số VID-TNC/961146 ngày 09- 11-1996 giữa Công ty
VIDAMCO và Công ty TANACO là hợp đồng hợp pháp.
269
Công ty TANACO phải thanh toán cho Công ty VIDAMCO (tính đến ngày 05-07-2001) tổng số tiền
là: 732.185,77 USD bao gồm:
Tiền hàng (kể cả lãi trả chậm): 516.978,31 USD.
Tiền phạt do chậm thanh toán: 215.207,46 USD.
Việc thanh toán thực hiện bằng tiền đồng Việt Nam theo tỷ giá bán ra của Ngân hàng ngoại th-
ơng thành phố Hồ Chí Minh vào thời điểm thanh toán.
Nếu Công ty TANACO không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán thì phát mãi tài
sản cầm cố là lô xe 50 chiếc theo hợp đồng cầm cố số VID-TNC/961146/PLEDG ngày 09-11-1996

theo chứng nhận số 04231 ngày 27-01-1997 của Phòng công chứng nhà nớc số 2 thành phố Hồ Chí
Minh. Nếu phát mãi tài sản cầm cố vẫn không đủ thanh toán nợ thì Công ty TANACO vẫn có trách
nhiệm thanh toán cho đến khi thanh toán xong số nợ.
Chi phí giám định là 5.000.000 đồng Công ty TANACO và Công ty VIDAMCO đều phải chịu
mỗi bên 50%, thành tiền là 2.500.000 đồng, nộp cho Tổ chức giám định kế toán - tài chính thành phố
Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, Bản án kinh tế sơ thẩm còn quyết định về số tiền án phí kinh tế sơ thẩm các đơng sự
phải nộp và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 11-07-2001 Công ty TANACO có đơn kháng cáo với nội dung: Hợp đồng số VID-
TNC/961146 ngày 09-11-1996 bị vô hiệu toàn bộ vì đại diện của Công ty VIDAMCO khi ký hợp
đồng nêu trên cha có thẩm quyền và kết quả giám định của Tổ chức giám định kế toán - tài chính
thành phố Hồ Chí Minh là không khách quan, thiếu chính xác...
Tại Bản án kinh tế phúc thẩm số 01/KTPT ngày 10-01-2002 Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân
tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TANACO và sửa Bản án kinh tế sơ thẩm số 117/KTST
ngày 06-07-2001 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh nh sau:
Vô hiệu toàn bộ hợp đồng số VID-TNC/961146 ngày 09- 11-1996 giữa Công ty TANACO
với Công ty VIDAMCO.
Các bên ký kết hợp đồng số VID-TNC/961146 ngày 09-11-1996 phải chấm dứt việc tiếp tục
thực hiện hợp đồng này.
Xử lý tài sản đối với hợp đồng số VID-TNC/961146 ngày 09-11-1996 nh sau:
+ Công ty TANACO phải giao trả cho Công ty VIDAMCO 50 xe ô tô du lịch 4 chỗ ngồi hiệu
DAEWOO CEILO xuất xứ Hàn Quốc (giao đúng loại xe mà Công ty TANACO đã nhận của Công ty
VIDAMCO).
+ Công ty VIDAMCO phải thanh toán trả lại cho Công ty TANACO số tiền là 59.048,02 USD.
Việc thanh toán thực hiện bằng tiền đồng Việt Nam theo tỷ giá bán ra của Ngân hàng ngoại thơng
thành phố Hồ Chí Minh vào thời điểm thanh toán.
Chi phí giám định là 5.000.000 đồng Công ty TANACO và Công ty VIDAMCO mỗi bên phải
chịu 50%, thành tiền là 2.500.000 đồng, nộp cho Tổ chức giám định kế toán- tài chính thành phố Hồ
Chí Minh.

270

×