Tải bản đầy đủ (.doc) (35 trang)

090 một số giải pháp tổ chức hợp lý mạng lưới chợ trên địa bàn tỉnh hải dương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (240.48 KB, 35 trang )

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài “Chính sách quản lý nhà nước với việc
quản lý hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn”
1.1.

Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài

Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát triển và
quản lý chợ: “Chợ là một bộ phận quan trọng trong tổng thể kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội. Trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển thương mại của
từng địa phương phải bao gồm phát triển quy hoạch chợ”. Do vậy, chợ đã trở thành một
bộ phận cấu thành rất quan trọng trong mạng lưới thương mại ở từng địa bàn, cũng như
trong toàn tỉnh Lạng Sơn.
Thực tiễn tổ chức lưu thơng hàng hóa ở nước ta đã khẳng định: chợ là điểm nút
không thể thiếu trong lưu thơng hàng hóa, đặc biệt đối với hàng nông sản, thực phẩm tươi
sống. Chợ là nơi thu gom các sản phẩm hàng hóa phân tán, nhỏ lẻ để cung ứng, phát
luồng hàng nông sản – thực phẩm đến địa điểm tiêu thụ ở các đô thị, khu cơng nghiệp tập
trung, các thị trường lớn trong và ngồi nước và ngược lại cũng là nơi tập kết, phân phối
hàng công nghiệp tiêu dùng, vật tư nông nghiệp chủ yếu cho thị trường nông thôn, phục
vụ sản xuất và đời sống của nơng dân. Ngồi ra, chợ cũng là nơi giải quyết việc làm cho
người lao động. Toàn quốc hiện nay có hơn năm triệu người bn bán trên các chợ và số
người tăng thêm có thể tới 8% - 10%/năm. Ở Lạng Sơn, số hộ kinh doanh tại các chợ là
9.434 hộ mà mỗi một người trực tiếp bn bán có thêm từ 1 đến 2 người giúp việc thì số
liệu trên sẽ được nhân đơi hoặc nhân ba. Chợ còn là bộ mặt kinh tế xã hội của địa phương,
là nơi phản ánh trình độ dân cư, phong tục tập quán của người dân.
Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, hiệu quả hoạt động chợ tại một số địa bàn
huyện, xã còn thấp do dân cư phân tán còn nhỏ lẻ, năng suất lao động thấp, đời sống cịn
gặp nhiều khó khăn. Ngồi ra, ngành chức năng chưa phối hợp với chính quyền địa
phương có kế hoạch tạo nguồn hàng tập trung và hình thành chợ phiên để tạo điều kiện
lưu thơng hàng hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động chợ. Còn tại khu vực thành phố và
một số trung tâm huyện tuy hoạt động có hiệu quả nhưng cịn thiếu định hướng đầu tư dài
hạn, phát triển tự phát, chắp vá, ảnh hưởng xấu đến môi trường và cảnh quan của một tỉnh


biên giới với nhiều nét đặc thù. Cùng với đó là một số hoạt động kinh doanh trong chợ
chưa tuân thủ theo quy định pháp luật như: buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng ảnh
hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng hay buôn bán trái phép những mặt hàng mà Nhà
nước cấm hoặc hạn chế kinh doanh (pháo, thuốc nổ, dao, kiếm, đồ chơi trẻ em có tính bạo
lực…). Do đó, cần có sự quản lý của Nhà nước để giải quyết những vấn đề nêu trên.


Do vậy, để phát huy hơn nữa vai trò của chợ trong q trình phát trển kinh tế xã hội
nói chung, trong hoạt động thương mại nói riêng và khắc phục những hạn chế trong hoạt
động quản lý kinh doanh chợ em xin đề xuất đề tài: “Chính sách quản lý nhà nước với
việc quản lý hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn”.
1.2. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
1.2.1. Tổng quan các cơng trình nghiên cứu trước đây
Tác giả Đào Thị Hồng Phong (2003), “Thực trạng và giải pháp tổ chức hợp lý mạng
lưới chợ Hà Nội”, luận văn tốt nghiệp Đại học, khoa Kinh tế, trường Đại học Thương
Mại. Luận văn đã nêu lên thực trạng mạng lưới chợ ở Hà Nội, từ đó đã rút ra những tồn
tại trong việc tổ chức mạng lưới chợ và nêu lên được một số giải pháp khắc phục những
tồn tại đó. Tuy nhiên, thời gian nghiên cứu của đề tài là từ năm 1995 đến năm 2002 và
phương pháp nghiên cứu là phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, chưa có sự thâm nhập
thực tế để điều tra do vậy sẽ không nắm bắt được hết vấn đề nghiên cứu.
Tác giả Khổng Quốc Tuân (2003), “Một số giải pháp tổ chức hợp lý mạng lưới chợ
trên địa bàn tỉnh Hải Dương”, luận văn tốt nghiệp Đại học, khoa Kinh tế, trường Đại học
Thương Mại. Cũng như luận văn của tác giả Đào Thị Hồng Phong, tác giả Khổng Quốc
Tuân đã nêu lên thực trạng của mạng lưới chợ Hải Dương và một số hạn chế trơng cơng
tác tổ chức mạng lưới chợ, qua đó đề xuất các giải pháp để tổ chức mạng lưới chợ hợp lý
hơn. Nhưng thời gian nghiên cứu của đề tài đã từ năm 2003 và phương pháp nghiên cứu
cũng chỉ là phương pháp thu thập số liệu thứ cấp là chủ yếu.
Cả 2 luận văn tốt nghiệp trên đều đã khái quát được thực trạng phát triển mạng lưới
chợ trên địa bàn. Xong về nội dung, các luận văn chưa nghiên cứu về hệ thống những lý
luận cơ bản về chính sách quản lý nhà nước với việc quản lý hệ thống chợ. Về phương

pháp nghiên cứu thì hồn tồn là phương pháp tổng quan tài liệu, chưa có điều tra thực tế
để thu thập các dữ liệu sơ cấp. Ngoài ra, về thời gian, cả 2 luận văn đều phân tích mạng
lưới chợ trước năm 2003. Đến nay đã được gần 10 năm, các nhân tố khách quan và chủ
quan đều đã thay đổi, do vậy các đề tài trên không giải quyết được các vấn đề thời sự hiện
nay.
Liên quan đến vấn đề nghiên cứu trên có nhiều đề tài nghiên cứu, nhưng nhìn chung
các đề tài mới chỉ tập trung nghiên cứu một nội dung nhỏ trong chính sách quản lý nhà
nước về hệ thống chợ. Phương pháp nghiên cứu thì cịn nhiều hạn chế. Do vậy có thể
khẳng định đề tài “Chính sách quản lý nhà nước với việc quản lý hệ thống chợ trên địa


bàn tỉnh Lạng Sơn” có tính mới cả về nội dung và phương pháp nghiên cứu và có tính
thời sự cao.
1.2.2. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Xuất phát từ những vấn đề còn hạn chế trong công tác quản lý nhà nước với việc
quản lý hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, em xin đưa ra các vấn đề cần nghiên cứu
trong đề tài:
- Nghiên cứu những lý luận cơ bản về các chính sách quản lý nhà nước với hệ thống
chợ như: nội dung, ngun tắc, vai trị của chính sách quản lý nhà nước với hệ thống
chợ… làm căn cứ để đánh giá chính sách quản lý nhà nước với việc quản lý hệ thống chợ
của tỉnh Lạng Sơn.
- Nghiên cứu, phân tích thực trạng quản lý nhà nước với việc quản lý hệ thống chợ,
tìm ra nguyên nhân của hạn chế, thành công và bài học kinh nghiệm trong công tác quản
lý hệ thống chợ của tỉnh Lạng Sơn.
- Đưa ra các giải pháp, kiến nghị với cơ quan chức năng nhằm nâng cao hiệu quả
của công tác quản lý nhà nước với hệ thống chợ tỉnh Lạng Sơn.
1.3. Các mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách quản lý nhà nước đối với hệ thống
chợ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, mục tiêu nghiên cứu của đề tài là: đưa ra một số giải pháp
và kiến nghị nhằm hồn thiện chính sách quản lý nhà nước đối với hệ thống chợ trên địa

bàn tỉnh Lạng Sơn. Cụ thể:
- Giải pháp thu hút vốn đầu tư xây dựng, phát triển chợ.
- Giải pháp khuyến khích phát triển đội ngũ thương nhân kinh doanh tại chợ.
- Giải pháp khai thác hiệu quả cơ sở hạ tầng chợ.
- Giải pháp về tổ chức và quản lý chợ.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Về nội dung
Đề tài nghiên cứu về các chính sách quản lý nhà nước với việc quản lý hệ thống chợ
trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Trong đó, tập chung vào chính sách đầu tư, xây dựng khai
thác hệ thống chợ và công tác quản lý nhà nước về hệ thống chợ.
1.4.2. Về không gian
Hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
1.4.3. Về thời gian


Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước với hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
từ năm 2005 đến năm 2010, và đưa ra một số giải pháp hồn thiện chính sách phát triển
hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.
1.5. Một số khái niệm và phân định nội dung nghiên cứu
1.5.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu
a, Khái niệm chợ
- Theo khái niệm chung, chợ là nơi tập trung đông người mua, bán, trao đổi hàng
hóa, được hình thành do u cầu của sản xuất và đời sống xã hội, hoạt động hàng ngày
hoặc theo các chu kỳ thời gian nhất định (một số ngày trong tuần, trong tháng, theo âm
lịch hoặc dương lịch); thời gian họp chợ có thể kéo dài cả ngày hoặc chỉ trong một buổi
(sang hoặc chiều), thậm chí trong vài giờ.
- Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP quy định “Chợ được điều chỉnh trong Nghị
định này là loại chợ mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy
hoạch, đáp ứng các nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa và nhu cầu tiêu dùng của khu vực
dân cư”.

b, Khái niệm hệ thống chợ
- Hệ thống chợ là một tập hợp các chợ được xây dựng theo quyết định của UBND
tỉnh, thành phố, quận, huyện, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của một
địa bàn.
c, Các khái niệm khác
- Phạm vi chợ: là khu vực được quy hoạch dành cho hoạt động chợ, bao gồm diện
tích để bố trí các điểm kinh doanh, khu dịch vụ (như: bãi để xe, kho hàng, khu ăn uống,
vui chơi giải trí và các dịch vụ khác) và đường bao quanh chợ.
- Chợ đầu mối: là chợ có vai trị chủ yếu thu hút tập trung lượng hàng hóa lớn từ các
nguồn sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế hoặc của ngành hàng để tiếp tục phân
phối tới các chợ và các kênh lưu thông khác.
- Chợ kiên cố: là chợ được xây dựng bảo đảm có thời gian sử dụng trên 10 năm.
- Chợ bán kiên cố: là chợ được xây dựng bảo đảm có thời gian sử dụng từ 5 đến 10
năm.
- Điểm kinh doanh tại chợ: bao gồm quầy hàng, sạp hàng, ki-ốt, cửa hàng được bố
trí cố định trong phạm vi chợ theo thiết kế xây dựng chợ, có diện tích quy chuẩn tối thiểu
là 3m2/điểm.


- Chợ chuyên doanh: là chợ kinh doanh chuyên biệt một ngành hàng hoặc một số
ngành hàng đặc thù và tính chất riêng.
- Chợ tổng hợp: là chợ kinh doanh nhiều ngành hàng.
- Chợ dân sinh: là chợ hạng 3 (do xã, phường quản lý) kinh doanh những mặt hàng
thông dụng và thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày của nhân dân.
- Chợ tạm: là chợ nằm trong quy hoạch nhưng chưa được xây dựng kiên cố hoặc bán
kiên cố.
- Chợ nông thôn: là chợ xã của các huyện và ở khu vực ngoại thành, ngoại thị.
- Chợ biên giới: là chợ nằm trong khu vực biên giới trong đất liền (gồm xã, phường,
thị trấn có một phần địa giới hành chính phù hợp với biên giới quốc gia trên đất liền) hoặc
khu vực biên giới trên biển (tính từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành

chính xã, phường, thị trấn giáp biển và đảo, quần đảo).
- Chợ miền núi: là chợ xã thuộc các huyện miền núi.
- Chợ cửa khẩu: là chợ được lập ra trong khu vực biên giới trên đấtt liền hoặc trên
biển gắn với các cửa khẩu xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa nhưng khơng thuộc khu kinh tế
cửa khẩu.
- Chợ trong khu kinh tế cửa khẩu: là chợ được lập ra trong khu kinh tế cửa khẩu theo
các điều kiện, trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3
năm 2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế.
- Doanh nghiệp kinh doanh, quản lý chợ: là doanh nghiệp được thành lập, đăng ký
kinh doanh và hoạt động theo quy định của pháp luật được cơ quan có thẩm quyền giao
hoặc trúng thầu về kinh doanh, khai thác và quản lý chợ.
- Hợp tác xã kinh doanh, quản lý chợ: là hợp tác xã được thành lập, đăng ký kinh
doanh và hoạt động theo quy định của pháp luật được cơ quan cóc thẩm quyền giao hoặc
trúng thầu về kinh doanh, khai thác và quản lý chợ.
1.5.2. Phân định nội dung nghiên cứu
a, Nguyên tắc, yêu cầu của chính sách quản lý nhà nước đối với hệ thống chợ
 Nguyên tắc:
- Cần phải có sự tách bạch giữa chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động
thương mại và các loại hình tổ chức kinh doanh thương mại nói chung với chức năng
quản lý hoạt động kinh doanh trên chợ nhằm đảm bảo cân đối thu đối thu – chi và tái đầu
tư phát triển, đảm bảo trật tự công cộng và vệ sinh môi trường.


- Cần phải làm rõ quan hệ quản lý giữa các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan
với tổ chức hay cá nhân đang trực tiếp quản lý chợ. Đồng thời, cũng cần làm rõ quan hệ
quản lý của tổ chức hay cá nhân quản lý chợ với các đối tượng tham gia kinh doanh.
- Cần phải xây dựng một cách đầy đủ và chi tiết về chức năng và nhiệm vụ quản lý,
cũng như quyền hạn và nghĩa vụ của tổ chức quản lý chợ. Từ đó, xây dựng mơ hình tổ
chức quản lý một cách hợp lý.
- Tổ chức hình thức quản lý phù hợp với loại hình, quy mơ và đặc điểm hoạt động

từng loại chợ và trình độ quản lý của địa phương: tại địa bàn thành phố là doanh nghiệp
kinh doanh khai thác chợ hoạt động theo luật Doanh nghiệp. Tại các huyện, thị trấn hình
thức quản lý thích hợp là thành lập các Ban quản lý chợ chịu sự quản lý của phòng Kinh
tế Huyện. Tại các chợ trung tâm cụm xã, chợ xã hoạt động quản lý chợ do UBND xã trực
tiếp quản lý là thích hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh hiện nay cũng như trong
những năm tới.
- Thống nhất áp dụng Nội quy chợ trên địa bàn tỉnh. Nội quy được xây dựng trên các
cơ sở quy định của Nghị định 02/NĐ-CP và đặc điểm hoạt động chợ của địa phương.
 Yêu cầu:
- Phải hồn thành về cơ bản chương trình phát triển các loại hình chợ như chợ dân
sinh, chợ trung tâm, chợ đầu mối với nhiều quy mơ, tính chất và loại hình khác nhau phù
hợp với từng địa bàn, nhất là hệ thống chợ dân sinh ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng
xa, biên giới, chợ đầu mối ở các vùng sản xuất tập trung nhằm phục vụ ngày càng tốt hơn
nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân.
- Phải hồn thành cơ bản cơng tác chuyển đổi các ban quản lý chợ đối với các chợ
do Nhà nước đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư sang doanh nghiệp (hoặc hợp tác xã) kinh doanh,
quản lý chợ.
- Phải tạo ra sự chuyển biến mới trong hoạt động quản lý nhà nước đối với hệ thống
chợ, nhất là tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về văn minh thương mại trong các chợ, thể hiện
sự minh bạch, công khai của thị trường về chất lượng, giá cả, nguồn gốc của hàng hóa và
dịch vụ, đặc biệt là bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh mơi trường.
b, Nội dung chính sách quản lý nhà nước đối với hệ thống chợ
 Nội dung quản lý nhà nước về chợ:
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, phương hướng phát triển chợ từng thời kỳ phù hợp
với quy hoạch, kế hoạch, phương hướng phát triển kinh tế-xã hội ở từng địa phương, khu
vực, đáp ứng nhu cầu của sản xuất, lưu thơng hàng hóa và tiêu dùng của nhân dân.


- Ban hành các chính sách về đầu tư, xây dựng khai thác và quản lý hoạt động chợ.
- Quản lý các chợ do Nhà nước đầu tư xây dựng theo quy định về phân cấp quản lý.

- Chỉ đạo hướng dẫn các Ban Quản lý chợ, doanh nghiệp kinh doanh khai thác và
quản lý chợ về chính sách, nghiệp vụ quản lý chợ.
- Tổ chức công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và luật
pháp của Nhà nước cho mọi người trong phạm vi chợ.
- Tổ chức kiểm tra, khen thưởng và xử lý các vi phạm về hoạt động chợ.
 Quản lý điểm kinh doanh tại chợ:
- Điểm kinh doanh tại chợ bao gồm những loại sau:
+ Loại giao cho thương nhân sử dụng kinh doanh trong trường hợp có hợp đồng góp
vốn ứng trước để xây dựng đầu tư chợ hoặc trả tiền sử dụng một lần trong một thời hạn
nhất định sau khi chợ được xây dựng xong.
+ Loại cho thương nhân thuê để kinh doanh.
- Ban quản lý chợ hoặc doanh nghiệp kinh doanh khai thác chợ phải:
+ Lập phương án bố trí, sắp xếp ngành nghề kinh doanh, sử dụng điểm kinh doanh
tại chợ, trình UBND cấp có thẩm quyền phê duyệt.
+ Thực hiện quy định về đấu thầu khi số lượng thương nhân đăng ký sử dụng hoặc
thuê vượt q số lượng điểm kinh doanh có thể bố trí tại chợ theo phương án được duyệt.
+ Ký hợp đồng với thương nhân sử dụng hoặc thuê địa điểm kinh doanh theo quy
định của pháp luật.
- UBND tỉnh quy định cụ thể việc sử dụng, thuê, thời hạn và các biện pháp quản lý
địa điểm kinh doanh tại chợ phù hợp với tính chất từng loại chợ và tình hình cụ thể của
địa phương.
 Quy định về hoạt động kinh doanh tại chợ:
- Thương nhân có đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp với phạm vi ngành nghề
của từng loại chợ đều được quyền vào chợ kinh doanh sau khi có hợp đồng sử dụng điểm
kinh doanh hoặc hợp đồng thuê điểm kinh doanh tại chợ với Ban quản lý chợ hoặc với
doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ.
- Thương nhân kinh doanh tại chợ phải thực hiện theo phương án bố trí, sắp xếp
ngành nghề kinh doanh của chợ.



- Thương nhân kinh doanh tại chợ ngoài việc chấp hành các quy định của pháp luật
còn phải nghiêm chỉnh thực hiện Nội quy chợ và chịu sự quản lý của Ban quản lý chợ
hoặc của doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ.
- Thương nhân được sang nhượng điểm kinh doanh hoặc cho thương nhân khác thuê
lại điểm kinh doanh đang còn trong thời hạn hợp đồng.
- Thương nhân có điểm kinh doanh tại chợ được sử dụng điểm kinh doanh để thế
chấp vay vốn kinh doanh tại các ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật.
- Những người thuộc diện sản xuất nhỏ, tự tiêu thụ sản phẩm của mình (nơng dân,
thợ thủ cơng...) và những người buôn bán nhỏ, hàng rong, quà vặt được bố trí bán hàng
trong chợ ở khu vực riêng dành cho người kinh doanh không thường xuyên tại chợ và
phải chấp hành nội quy chợ.
- Về hàng hóa, dịch vụ kinh doanh tại chợ: hàng hóa, dịch vụ kinh doanh tại chợ là
hàng hóa, dịch vụ khơng thuộc danh mục pháp luật cấm kinh doanh và không thuộc các
loại sau đây:
+ Hàng hóa có chứa chất phóng xạ và thiết bị phát bức xạ i-on hóa.
+ Các loại vật liệu nổ, các loại chất lỏng dễ gây cháy nổ như xăng dầu (trừ dầu hỏa
thắp sáng), khí đốt hóa lỏng (gas), các loại khí nén.
+ Các loại thuốc bảo vệ thực vật thuộc danh mục hạn chế kinh doanh.
+ Các loại hóa chất độc hại thuộc danh mục kinh doanh có điều kiện
Để đảm bảo trật tự và văn minh thương mại, hàng hóa kinh doanh tại chợ cần được
sắp xếp theo ngành hàng, nhóm hàng và khơng bố trí gần nhau các loại hàng hóa có ảnh
hưởng xấu đến nhau.
- Xử lý các vi phạm tại chợ:
+ Các vi phạm pháp luật tại chợ được xử lý theo quy luật hiện hành của pháp luật.
+ Các vi phạm nội quy chợ do Ban quản lý chợ hoặc doanh nghiệp kinh doanh khai
thác chợ xử lý theo quy định về Nội quy chợ.
 Nội quy chợ:
- Tất cả các chợ đều phải có Nội quy chợ để áp dụng trong phạm vi chợ. Nội quy
chợ được xây dựng trên cơ sở các quy định của Nghị định số 02/2003/NĐ-CP và các quy
định hiện hành của pháp luật, bao gồm những nội dung chính sau đây: quyền và nghĩa vụ

của thương nhân kinh doanh tại chợ, quy định về hàng hóa, dịch vụ kinh doanh tại chợ,
người đến giao dịch mua bán tại chợ, bảo đảm an tồn phịng cháy chữa cháy, bảo đảm an
ninh trật tự tại chợ, bảo đảm vệ sinh mơi trường và an tồn thực phẩm, yêu cầu về xây
dựng chợ văn minh thương mại, yêu cầu về tổ chức tham gia các hoạt động văn hóa xã
hội tại chợ, quy định về xử lý các vi phạm tại chợ.


- Nội quy chợ phải được niêm yết công khai, rõ ràng trong phạm vi chợ và phải
được phổ biến đến mọi thương nhân kinh doanh tại chợ.
- Mọi tổ chức cá nhân tham gia các hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa và các dịch
vụ trong phạm vi chợ đều phải chấp hành Nội quy chợ.
- Bộ Công Thương phải ban hành Nội quy mẫu để thống nhất việc xây dựng nội quy
chợ và áp dụng cho tất cả các chợ. UBND tỉnh có trách nhiệm quy định cụ thể các điều
khoản trong Nội quy mẫu để phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương.
 Quy định về đầu tư xây dựng chợ
- Nguồn vốn đầu tư xây dựng chợ bao gồm: nguồn vốn của các doanh nghiệp, cá
nhân sản xuất kinh doanh và của nhân dân đóng góp; nguồn vốn vay tín dụng; nguồn vốn
đầu tư phát triển của Nhà nước, trong đó chủ yếu là nguồn vốn của các doanh nghiệp, cá
nhân sản xuất kinh doanh và nguồn vốn vay tín dụng.
- Nhà nước khuyến khích các tổ chức cá nhân và các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế đầu tư hoặc góp vốn cùng Nhà nước đầu tư xây dựng các loại chợ.
- Nguồn vốn đầu tư phát triển của Nhà nước bao gồm vốn từ ngân sách địa phương
và các nguồn viện trợ khơng hồn lại.
- Nguồn vốn hỗ trợ đầu tư chợ được ưu tiên đầu tư xây dựng theo thứ tự sau:
+ Chợ đang hoạt động, nằm trong quy hoạch đã được các cấp có thẩm quyền phê
duyệt nhưng là chợ tạm hoặc chợ có cơ sở vật chất kỹ thuật xuống cấp nghiêm trọng.
+ Chợ xây mới tại những xã chưa có chợ, những nơi có nhu cầu về chợ để phục vụ
sản xuất, xuất khẩu và đời sống sinh hoạt của nhân dân.
- Chủ đầu tư xây dựng chợ được quyền huy động vốn để xây dựng chợ trên cơ sở
thỏa thuận với thương nhân đăng ký sử dụng hoặc thuê điểm kinh doanh tại chợ và các

nguồn vốn khác của nhân dân đóng góp theo quy định của pháp luật và hướng dẫn cụ thể
của UBND tỉnh.
 Quy định về kinh doanh khai thác chợ
- Chợ do Nhà nước đầu tư hoặc hỗ trợ vốn đầu tư xây dựng được UBND cấp có
thẩm quyền giao cho các chủ thể tổ chức kinh doanh khai thác và quản lý hoạt động tại
chợ theo quy định sau:
+ Đối với chợ xây dựng mới, giao hoặc tổ chức đáu thầu để lựa chọn doanh nghiệp
hoặc hợp tác xã kinh doanh, khai thác và quản lý chợ hoạt động theo quy định tại Điều 9
Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2003 của Chính phủ.
+ Đối với chợ ở địa bàn nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, giao cho
các doanh nghiệp hoặc hợp tác xã đủ điều kiện theo quy định của UBND cấp tỉnh để tổ
chức kinh doanh, khai thác và quản lý.


- Đối với chợ do Nhà nước hỗ trợ đầu tư xây dựng có vốn góp của các hộ kinh
doanh, hợp tác xã, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các tổ chức cá nhân
khác, UBND cấp có thẩm quyền căn cứ mức độ, tỷ lệ góp vốn để lựa chọn chủ thể kinh
doanh, khai thác và quản lý chợ (ban quản lý chợ, doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc thành
lập công ty cổ phần theo quy định của pháp luật).
- Chợ do các tổ chức, cá nhân, hộ kinh doanh, hợp tác xã, doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế đầu tư xây dựng do các tổ chức, cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp
đó tổ chức kinh doanh, khai thác và quản lý dưới hình thức doanh nghiệp hoặc hợp tác xã
theo quy định của pháp luật.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng chính sách
quản lý nhà nước với việc quản lý hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
2.1. Phương pháp hệ nghiên cứu
2.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
a, Thu thập dữ liệu thứ cấp
Đề tài sử dụng phương pháp này nhằm xem xét và đưa ra các vấn đề thuộc tổng

quan về chính sách quản lý nhà nước với việc quản lý hệ thống chợ. Ngồi ra, cịn sử


dụng phương pháp này để tổng hợp và đánh giá thực trạng phát triển hệ thống chợ trên địa
bàn tỉnh Lạng Sơn.
Đề tài nghiên cứu các tài liệu có sẵn bao gồm: Niên giám thống kê Lạng Sơn, Báo
cáo tổng kết thực hiện Nghị định số 02/2003/NĐ-CP và Quyết định 559/QĐ-TTg về phát
triển và quản lý chợ, Báo cáo tình hình phát triển và quản lý chợ năm 2009, Dự án “Quy
hoạch phát triển và đầu tư xây dựng mạnh lưới chợ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đến năm
2015 và định hướng đến năm 2020”…
b, Thu thập dữ liệu sơ cấp
Phương pháp này chủ yếu được sử dụng nhằm tìm hiểu quan điểm của các chuyên
gia và cán bộ quản lý Nhà nước trong trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn về một số vấn đề trong
đề tài. Để thu thập dữ liệu sơ cấp đề tài có sử dụng mẫu phiếu điều tra, phỏng vấn (xem
phụ lục 1).
Nội dung các câu hỏi trắc nghiệm và phỏng vấn trong mẫu này tập trung vào các vấn
đề chính sau:
- Đánh giá mức độ quan trọng của một số nhân tố liên quan đến vấn đề thực hiện
chính sách quản lý nhà nước đối với hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
- Đánh giá kết quả thực hiện các nội dung của chính sách quản lý nhà nước đối với
hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
- Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của một số nhân tố mơi trường đến
việc thực hiện các chính sách quản lý nhà nước đối với hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh
Lạng Sơn.
- Làm rõ những thành công và hạn chế trong thực hiện các chính sách quản lý nhà
nước đối với hệ thống chợ trên địa bàn Tỉnh.
- Xin ý kiến về các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước với việc
quản lý hệ thống chợ.
Đối tượng điều tra phỏng vấn: Đề tài tập trung điều tra 3 nhóm đối tượng, bao gồm:
- Nhóm đối tượng 1: Các Sở, ngành và UBND các huyện. Đây là nhóm đối tượng

điều tra quan trọng khi tiến hành nghiên cứu đề tài này. Họ là những người tham gia vào
cả quá trình quản lý phát triển hệ thống chợ trên địa bàn Tỉnh (tham gia xây dựng các
chính sách quản lý hệ thống chợ; thanh tra, kiểm tra việc thi hành các chính sách trong
các chợ và hiệu quả hoạt động của các chợ). Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Sở


Cơng Thương Lạng Sơn là đơn vị chủ trì trong quản lý phát triển hệ thống chợ, ngồi ra
cịn có sự phối hợp của các sở ban ngành khác và UBND các huyện, thị.
- Nhóm đối tượng 2: Các Ban quản lý chợ. Đây là những người tham gia quản lý
trực tiếp tại các chợ và triển khai chi tiết các chính sách quản lý nhà nước tại chợ nên họ
hiểu rõ về thực trạng hoạt động kinh doanh khai thác chợ mà họ quản lý. Vì vậy các Ban
quản lý chợ cũng là đối tượng điều tra quan trọng.
- Nhóm đối tượng 3: doanh nghiệp kinh doanh, quản lý chợ. Đây là những tổ chức
kinh doanh các dịch vụ tại chợ, bố trí sắp xếp các khu vực kinh doanh đảm bảo các yêu
cầu về trật tự, văn minh thương mại, phổ biến chính sách quy định của pháp luật Nhà
nước. Vì vậy, các doanh nghiệp này có ảnh hưởng trực tiếp đến q trình thực hiện các
chính sách quản lý của nhà nước trong các chợ. Đặc biệt là Công ty cổ phần Chợ Lạng
Sơn khai thác và quản lý 3 chợ lớn trên địa bàn Thành phố: Đơng Kinh, Kỳ Lừa, Chi
Lăng. Cơng ty đã có nhiều đóng góp trong sự phát triển hệ thống chợ của Tỉnh.
 Số phiếu phát ra: Tổng số phiếu phát ra là 50 phiếu
- Nhóm đối tượng 1: 30 phiếu. Trong đó: Sở Cơng thương là đơn vị chủ trì nên phát
ra 10 phiếu, các Sở khác mỗi sở 2 phiếu, UBND Tỉnh 2 phiếu, UBND huyện mỗi UBND
là 1 phiếu.
- Nhóm đối tượng 2: 10 phiếu. Điều tra chọn mẫu tại 10 chợ trên địa bàn tỉnh, mỗi
chợ phát ra 1 phiếu
- Nhóm đối tượng 3: 10 phiếu. Trong đó Cơng ty Chợ Lạng Sơn 4 phiếu, cịn 6
doanh nghiệp còn lại mỗi doanh nghiệp 1 phiếu
Số phiếu thu về: 48 phiếu
2.1.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
Các dữ liệu sau khi được thu thập từ các nguồn khác nhau sẽ được phân chia thành

dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp để xử lý như sau:
- Đối với dữ liệu sơ cấp: Về phần điều tra trắc nghiệm: tổng hợp kết quả điều tra
thành bảng trong đó thống kê số phiếu, tỷ lệ phần trăm câu trả lời. Về phần phỏng vấn:
tổng hợp các ý kiến theo nội dung của phiếu phỏng vấn
- Đối với dữ liệu thứ cấp: Các dữ liệu thứ cấp thu thập từ nhiều nguồn khác nhau
được phân chia theo các nội dung khác nhau sử dụng trong đề tài. Loại bỏ những dữ liệu
khơng cần thiết. Có thể tổng hợp các dữ liệu thứ cấp để rút ra đánh giá chung.


2.2. Tổng quan hệ thống chợ và các nhân tố mơi trường ảnh hưởng đến việc thực
hiện chính sách quản lý nhà nước với việc quản lý hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh
Lạng Sơn
2.2.1. Tổng quan tình hình hoạt động và phát triển hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh
Lạng Sơn
a, Về mạng lưới và quy mô chợ
Tổng số chợ hiện có: 84 chợ. Trong đó có: 25 chợ thành thị, 59 chợ nông thôn
 Về mạng lưới và mật độ chợ (xem phụ lục 2)
- Mật độ chợ tính trên 10000 dân của tồn tỉnh cịn thấp: 0,88/ 1,08.
- Mật độ chợ tính trên số xã phường của toàn tỉnh cũng thấp hơn: 0,28/ 0,97.
- Mật độ chợ TP.Lạng Sơn cũng thấp hơn mật độ chợ bình quân khu vực đô thị cả
nước, số liệu tương ứng là: 0,64/1,05 và 0,62/ 1,30
 Về quy mô các loại chợ:
- Diện tích bình qn của 1 chợ:
Khu vực thành thị: 3579,6 m2
Khu vực nơng thơn: 1958,5 m2
- Diện tích bình quân cho mỗi người bán hàng tại chợ
Khu vực thành thị: 8,48 m2
Khu vực nông thôn: 16,79 m2
- Số người bán hàng bình quân /1 chợ:
Khu vực thành thị: 350 người/chợ

Khu vực nơng thơn: 200 người/chợ
(tính cả số người bán hàng tại các phiên chợ)
So với diện tích bình qn mỗi chợ thành thị của cả nước khoảng 3914 m 2, chợ nông
thôn khoảng 2248 m2 (kết quả điều tra năm 1999), thì diện tích bình qn của 1 chợ trên
địa bàn tỉnh vẫn cịn thấp. Về diện tích bình quân cho mỗi người bán trên chợ thành thị
cũng thấp hơn bình quân cả nước (cả nước: 11,7 m2; địa bàn tỉnh: 8,48 m2)
Về quy mô số người bán hàng trên chợ, ở khu vực thành phố, số người bán hàng
thường xuyên chiếm tỷ lệ tương đối cao (khoảng hơn 65%). Nhưng ở khu vực chợ nông


thơn, tỷ lệ này thấp hơn (khoảng 45%) vì số người trực tiếp sản xuất mang sản phẩm ra
chợ bán và những người buôn bán không thường xuyên chiếm tỷ lệ cao hơn khu vực chợ
thành phố.
b, Về cơ sở vật chất và đầu tư xây dựng chợ
 Kết quả khảo sát cơ sở vật chất của mạng lưới chợ Lạng Sơn cho thấy:
Bảng 1: SO SÁNH HIỆN TRẠNG CHỢ CỦA LẠNG SƠN VỚI CẢ NƯỚC VÀ KHU VỰC
Tên đơn vị
Cả nước
Khu vực Đông Bắc
Tỉnh Lạng Sơn

Tổng số
chợ
100%
100%
100%

Kiên cố
11,65%
11,69%

32,31%

Phân loại chợ
Bán kiên cố Lều quán
31,53%
33,83%
20,83%
39,11%
12,31%
20,00%

Ngoài trời
22,97%
28,35%
35,38%

(Nguồn: Cục Thống kê, Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn)
- Hầu hết các chợ đã được xây dựng kiên cố (hạng 1) và bán kiên cố (hạng 2), chiếm
44,62% tổng số chợ, trong đó chợ hạng 1 chiếm 32,31%. So với tỷ trọng chợ kiên cố trên
địa bàn cả nước và các tỉnh Đông Bắc, tỷ trọng chợ hạng 1 gấp 3 lần. Đây là thành tựu
đáng ghi nhận trong những năm đổi mới do việc tổ chức củng cố lại hệ thống chợ trên địa
bàn tỉnh ngay từ năm 1993 của UBND tỉnh
- Bên cạnh kết quả trên, số chợ tạm, chợ lều quán và chợ chưa được xây dựng trên
địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều. Tỷ trọng chợ tạm (chợ lều quán) tuy thấp hơn bình qn
chung của cả nước và vùng Đơng Bắc, nhưng tỷ trọng chợ chưa xây dựng trên địa bàn
tỉnh lại quá cao (35,38%) vượt xa mức bình quân chung cả nước (22,97%) và vùng Đơng
Bắc (28,35%). Điều đó đặt ra nhiệm vụ nặng nề trong những năm tới cần có những giải
pháp đồng bộ để sớm khắc phục tình trạng này.
 Về đầu tư xây dựng chợ:
Tổng số vốn đầu tư xây dựng chợ giai đoạn 2005-2010 là: 312.135 triệu đồng,

trong đó chia ra:
- Vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương: 12.400 triệu đồng
- Vốn đầu tư từ ngân sách địa phương: 52.235 triệu đồng
- Vốn do dân, doanh nghiệp, hộ kinh doanh đóng góp: 247.500 triệu đồng
Kết quả đầu tư phát triển chợ có nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương:
- Số chợ đã hoàn thành xây dựng và đưa vào hoạt động: 9 chợ
- Số chợ chưa hoàn thành xây dựng theo kế hoạch: 3 chợ. Do 1 chợ bị cắt giảm
nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương (chương trình 135), 2 chợ còn lại chỉ mới san


lấp được mặt bằng do các nguồn hàng nông lâm sản ở địa phương chưa nhiều và không
khai thác kinh doanh theo kế hoạch.
c, Về hiệu quả kinh doanh chợ
- Theo báo cáo của công ty Chợ TP.Lạng Sơn, Ban quản lý khu kinh tế cửa khẩu
Tân Thanh và tổng hợp số liệu của Chi cục thuế Tỉnh, tình hình nộp ngân sách kinh doanh
chợ trên địa bàn tỉnh là: 4.716 triệu đồng trong năm 2005 và năm 2009 là 7.248 triệu
đồng.
- Tỷ trọng hàng hóa và dịch vụ lưu thơng qua chợ (so với tổng lượng hàng hóa, dịch
vụ lưu thơng qua các loại hình phân phối): khoảng 55% - 65% so với các loại hình phân
phối khác (đối với thành phố Lạng Sơn khoảng 35%).
- Số chợ hoạt động không hiệu quả giai đoạn 2005-2010: 17 chợ. Do nhiều nguyên
nhân ảnh hưởng và mức độ ở mỗi chợ là khác nhau như: do không trong quy hoạch, cơ sở
hạ tầng khơng đồng bộ, tồn tại nhiều chợ cóc, chợ tạm, do điều chỉnh quy hoạch, do chờ
dự án cải tạo nâng cấp, do chưa có đường qua cửa khẩu (chợ biên giới Na Hình), giao
thơng đi lại khó khăn, dân cư phân bố không đều và xa trung tâm huyện (các chợ nơng
thơn và vùng 3 khó khăn), lượng người kinh doanh trong chợ và nguồn hàng hóa trao đổi
ít, đơn điệu chủ yếu là nơng lâm sản như: gỗ vườn, nơng sản có số lượng ít lại theo mùa
vụ …
d, Về quản lý nhà nước với hệ thống chợ
 Công tác quy hoạch:

Năm 2006 tỉnh Lạng Sơn đã có Quy hoạch phát triển thương mại. Tại Quyết định số
143/QĐ-UBND ngày 19/01/2009 UBND tỉnh đã có Quyết định điều chỉnh bổ sung quy
hoạch phát triển thương mại trên địa bàn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, trong
đó có quy hoạch hệ thống chợ, trung tâm thương mại và siêu thị trên địa bàn toàn tỉnh.
Ở thị trấn trung tâm các huyện, đã có 11 trong tổng số 15 chợ được xây dựng có
mái che. Riêng tại khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh, tỉnh đã đầu tư 3,8 tỷ đồng xây dựng 1
chợ chính và hệ thống kho, chợ phụ hoạt động theo quy chế chợ biên giới. Đây là một
trong những cơng trình trọng điểm, cùng với trung tâm giới thiệu sản phẩm và văn phịng
cho th sẽ tạo thành hệ thống hồn chỉnh để đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương
mại và trao đổi hàng hóa tại khu vực này.
Đối với các chợ xã, cụm xã, tỉnh đã huy động từ nhiều nguồn vốn xây dựng được 15
chợ mới, cụ thể: 11 chợ được xây dựng từ vốn chương trình 135, 1 chợ từ vốn ngân sách


huyện, 1 chợ từ Quỹ hỗ trợ của Công ty Chợ, 2 chợ từ vốn hỗ trợ xóa đói giảm nghèo của
Bộ Công Thương
Về các cặp chợ biên giới, tỉnh mới thí điểm xây dựng 1 chợ biên giới Ba Sơn bằng
nguồn vốn 135. Nhưng do đặc thù của khu vực này là giao thông không thuận tiện, xa các
trung tâm, nên hiện tại chợ chưa được khai thác đúng với mục đích xây dựng
 Tổ chức bộ máy quản lý chợ:
Các loại hình tổ chức quản lý chợ (tính đến ngày 30/06/2010):
- Ban quản lý chợ, tổng số ban quản lý chợ là 42 ban. Tổng số cán bộ trong ban
quản lý chợ: 339 người. Tổng số chợ do ban quản lý chợ quản lý: 44 chợ. Những ưu điểm
và hạn chế của loại hình ban quản lý chợ: là cơ quan chuyên môn, chuyên trách được
thành lập để quản lý hoạt động của chợ nên việc quản lý được kịp thời, thuận tiện. Tuy
nhiên năng lực, trình độ, chun mơn của các cán bộ quản lý chợ cịn hạn chế nên việc
quản lý chủ yếu là khâu trật tự, các công tác khác như xúc tiến thương mại, thúc đây lưu
thơng hàng hóa…cịn hạn chế nên đã ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả khai thác chợ.
- Tổ quản lý chợ: tổng số tổ quản lý chợ: 29 tổ. Tổng số cán bộ trong tổ quản lý chợ:
63 người. Số chợ do tổ quản lý chợ quản lý: 29 chợ. Những ưu điểm và hạn chế của loại

hình tổ quản lý chợ: loại hình này phù hợp với chợ có quy mơ nhỏ, hoạt động khơng
thường xun, áp dụng được rộng rãi đối với loại hình chợ họp theo phiên ở vùng nông
thôn miền núi và đơn thuần chỉ thực hiện việc thu phí và lệ phí. Nhược điểm là thiếu năng
động, không khai thác được các nguồn thu khác và lợi thế khác của chợ.
- Doanh nghiệp kinh doanh, quản lý chợ: tổng số doanh nghiệp kinh doanh, quản lý
chợ: 07 doanh nghiệp. Tổng số chợ do doanh nghiệp kinh doanh, quản lý: 11 chợ. Những
ưu điểm và hạn chế của loại hình doanh nghiệp kinh doanh, quản lý chợ: loại hình doanh
nghiệp quản lý chợ có quy mô lớn, hoạt động thường xuyên, quản lý tốt, khai thác chợ có
hiệu quả, cơng tác phịng cháy chữa cháy, vệ sinh mơi trường, vệ sinh an tồn thực phẩm,
an ninh trật tự được quan tâm và đảm bảo hơn. Hạn chế: không áp dụng rộng rãi được ở
chợ các xã.
- Hợp tác xã kinh doanh quản lý chợ: tổng số hợp tác xã kinh doanh quản lý chợ: 02
hợp tác xã. Tổng số chợ do hợp tác xã kinh doanh, quản lý: 02 chợ. Những ưu điểm và
hạn chế của loại hình hợp tác xã kinh doanh, quản lý chợ: so với ban quản lý, tổ quản lý
thì hợp tác xã quản lý có hiệu quả hơn, tổ chức kinh doanh và quản lý chợ tốt hơn, tăng
ngân thu cho ngân sách. Nhưng chủ yếu thực hiện mơ hình quản lý này tại các chợ xã.


2.2.2. Các nhân tố môi trường ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách quản lý nhà
nước với việc quản lý hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
a, Vị trí địa lý
- Lạng Sơn là tỉnh có vị trí địa lý đặc biệt, tiếp giáp với nước Cộng hịa Nhân dân
Trung Hoa về phía Bắc. Lạng Sơn cịn có đường biên giới với Trung Quốc dài hơn 200
km, là mắt xích quan trọng trong hành lang kinh tế Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải
Phòng. Với 2 cửa khẩu quốc tế: cửa khẩu Hữu Nghị-đường bộ và của khẩu Đồng Đăngđường sắt, 2 cửa khẩu chính Chi Ma, Bình nghi và các cửa khẩu phụ.
- Lạng Sơn là điểm nút của sự giao lưu kinh tế, văn hóa vùng Đơng Bắc, là đầu mối,
nơi khởi nguồn của các tuyến giao thông quan trọng 1A,1B,4A, 4B, 31, 279 nên Lạng
Sơn dễ dàng tiếp cận với hệ thống cảng biển của Quảng Ninh, Hải Phòng và gắn kết thuận
tiện với các tỉnh phía Tây là Cao Bằng, Thái Ngun, Bắc Cạn, với phía Đơng là tỉnh
Quảng Ninh, với phía Nam là Bắc Giang, Bắc Ninh, với vùng Đông Bằng sông Hồng, đặc

biệt với tam giác kinh tế động lực phía Bắc: Hà Nội – Hải Phịng – Quảng Ninh.
b, Điều kiện kinh tế - xã hội
- Về kinh tế: Nằm trên dải đất biên giới vùng Đông Bắc, với điều kiện địa lý, tự
nhiên và giao thông khá thuận lợi, từ lâu Lạng Sơn đã trở thành điểm hội tụ, giao lưu kinh
tế quan trọng ở phía Bắc. Nhờ phát huy hiệu quả các tiềm năng sẵn có, tốc độ tăng trưởng
GDP bình qn ước tính trong giai đoạn 2001-2009 tăng trên 10,42%.Cơ cấu kinh tế
chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng tăng từ 13,77 năm 2001
lên 21,39% năm 2009, nông lâm nghiệp giảm từ 49,7% năm 2001 xuống còn 39,34% năm
2009, tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 36,53% năm 2001 lên 39,27% năm 2009. Kim ngạch
xuất nhập qua địa bàn đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm trên 44,2%, trong đó hàng xuất
khẩu địa phương tăng bình qn hàng năm từ 15-16%. Tổng thu ngân sách trên địa bàn
năm 2009 đạt mức 1.937 tỷ đồng, gấp 1,9 lần năm 2001.
- Về xã hội: Kinh tế phát triển đã góp phần nâng cao đời sống của nhân dân. Thu
nhập bình quân đầu người tăng từ 3,44 triệu đồng năm 2001 lên 10,37 triệu đồng năm
2009, tăng gấp 3 lần; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện và từng
bước nâng cao, nhất là nhân dân ở các vùng đặc biệt khó khăn. Lạng Sơn có 757.650
người (năm 2009), bao gồm 7 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 15%, đồng bào các
dân tộc thiểu số Nùng, Tày, Dao, Hoa, Sán Chay, Mông chiếm gần 85%.
Cơ cấu dân số tỉnh Lạng Sơn trẻ. Nguồn lao động khá dồi dào, với số người dưới 50
tuổi chiếm 87,4%. Đây thực sự là nguồn nhân lực lớn trong tiến trình phát triển kinh tế -


xã hội và bảo vệ an ninh quốc phòng. Nhưng lực lượng lao động của Lạng Sơn chủ yếu là
lao động nông nghiệp, chiếm gần 80% trong tổng số lao động, mặt khác số lao động qua
đào tạo lại chiếm tỉ trọng rất nhỏ, khoảng 10,82% trong tổng số lao động, số lao động có
trình độ chun mơn, kỹ thuật cao rất ít… đó là cản trở lớn trong việc tiếp nhận các tiến
bộ khoa học kỹ thuật, thúc đẩy cơng nghiệp hố, hiện đại hố.
c, Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật
- Hệ thống giao thông:Trong những năm gần đây, cùng với việc triển khai thi công
hàng loạt các trục đường 4A, 4B, đường 279, đường 1B… tỉnh Lạng Sơn đã huy động

nhiều nguồn vốn tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông ở các vùng động lực
kinh tế, khu công nghiệp, khu du lịch, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới đến cửa khẩu.
Các tuyến đường huyết mạch trong tỉnh được đầu tư thoả đáng mang lại diện mạo mới
cho hệ thống đường giao thông ở 10 huyện và thành phố Lạng Sơn.
- Hệ thống điện: Lạng Sơn là tỉnh miền núi có nhiều sông, thác và suối nhưng tiềm
năng điện tại chỗ chưa được khai thác. Nguồn cung cấp điện hiện nay của Lạng Sơn hoàn
toàn dựa vào nguồn và hệ thống điện quốc gia, do các nhà máy thủy điện Hòa Bình, Thác
Bà và nhiệt điện Phả Lại sản xuất. Hệ thống cung cấp điện hiện có mạng lưới đường dây
tải điện 110Kv, 35 KV, 6 KV và 0,4KV. Có các trạm biến thế với nhiều loại dung lượng
khác nhau.Điện lực Lạng Sơn đã xây dựng và phát triển mạng lưới điện rộng khắp trên
phạm vi toàn tỉnh, đặc biệt các xã vùng sâu, vùng xa, các xã đặc biệt khó khăn.
- Hệ thống cấp thoát nước: ở Lạng Sơn các sông suối, nguồn nước mặt, nguồn nước
ngầm khá phong phú. Trong những năm qua ở các thị xã, thị trấn của Lạng Sơn chủ yếu là
dòng nước ngầm để cung cấp nước sạch.Theo thống kê, năm 2009 có 13 nghìn hộ dân và
300 cơ quan nhà nước và cơ sở sản xuất của thành phố được sử dụng nước sạch, đạt 90%
dân số nội thị. Trong nhiều năm qua, ngành cấp thoát nước Lạng Sơn liên tục đầu tư, cải
tạo, nâng cấp các đường ống dẫn nước…
- Bưu chính viễn thông: năm 2009, Bưu điện tỉnh Lạng Sơn đã đầu tư tăng số điểm
phục vụ của mạng lưới bưu cục tới các nơi tập trung dân cư như thị xã, thị trấn, huyện
lỵ… Hệ thống bưu điện gồm có: 1 bưu cục cấp I, 32 Bưu cục cấp II, III và các điểm kiốt,
đại lý. Bên cạnh những dịch vụ đang hoạt động tốt như: chuyển tiền nhanh, bưu chính uỷ
thác, bưu phẩm, điện hoa, chuyển phát nhanh EMS ,… Bưu điện tỉnh Lạng Sơn còn triển
khai các dịch vụ: chuyển tiền tới điểm bưu điện – văn hoá xã, mở thêm dịch vụ phát trong
ngày tại 6 bưu cục, các dịch vụ hộp thư thoại…


- Hệ thống ngân hàng tập trung ở địa bàn thành phố, các khu kinh tế cửa khẩu hoạt
động năng động và hiệu quả, thủ tục tương đối đơn giản, chặt chẽ, thuận lợi cho các hoạt
động kinh tế, hoạt động trao đổi bn bán hàng hố và ngoại tệ.
d, Các nhân tố khác

Ngoài các nhân tố trên việc thực hiện chính sách quản lý hệ thống chợ trên địa bàn
tỉnh Lạng Sơn còn chịu tác động của các nhân tố chủ quan và khách quan khác như: Quan
điểm, định hướng quy hoạch phát triển các loại hình thương mại hiện đại (quy hoạch siêu
thị, trung tâm thương mại). Khi mà nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống dân cư
được cải thiện thì cơ cấu chi tiêu của người dân thói quen và tập quán tiêu dùng của họ
cũng sẽ thay đổi theo. Cả người mua và người bán đều có thêm những sự lựa chọn về địa
điểm, phương thức giao dịch, mua bán. Do vậy nhu cầu giao dịch qua hệ thống chợ sẽ
chịu tác động lớn từ sự phát triển của các loại hình thương mại hiện đại khác.
Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách quản lý nhà
nước đối với hệ thống chợ: Nhân lực tham gia hoạch định chính sách quản lý hệ thống
chợ, đội ngũ quản lý chợ (trực tiếp và gián tiếp). Kết quả thực hiện các chính sách trên có
được kết quả tốt hay khơng còn phụ thuộc vào đội ngũ thương nhân tham gia kinh doanh
tại các chợ và quá trình giám sát, kiểm tra đôn đốc của Ban quản lý chợ…
2.3. Tổng hợp kết quả điều tra
2.3.1. Tổng hợp kết quả điều tra, phỏng vấn
a, Tổng hợp kết quả điều tra trắc nghiệm (xem phụ lục 3)
- Tất cả những người tham gia điều tra đều cho rằng hệ thống chợ có vai trò quan
trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh. Điều này cho thấy rằng mọi người đều ý
thức được vai trị của chợ trong q trình phát triển kinh tế xã hội.
- Về cách tiếp cận chính sách quản lý nhà nước về quản lý hệ thống chợ thì chủ yếu
thơng qua các văn bản do Chính phủ, Sở, ngành ban hành (45 phiếu chiếm 93,75%), một
số ít là qua các đợt tập huấn chuyên môn do các ngành chức năng tổ chức ( 3 phiếu chiếm
6,25%), số này rơi vào các doanh nghiệp kinh doanh, quản lý chợ.
- Hầu hết các đơn vị đã nắm rõ các chính sách quản lý nhà nước về hệ thống chợ (38
phiếu chiếm 79,17%) và có một số là chưa nắm rõ (10 phiếu chiếm 20,83%), số phiếu này
phần lớn rơi vào Ban quản lý chợ (6 phiếu chiếm 60% trong tổng số người chưa nắm rõ


chính sách quản lý nhà nước về hệ thống chợ). Điều này phản ánh công tác đào tạo cán bộ
quản lý chợ của Tỉnh.

- Về nội dung của chính sách quản lý nhà nước thì chỉ có 6 người cho là đầy đủ và
hợp lý (chiếm 12,5%), cịn lại thì cho rằng chưa đầy đủ ( 25 phiếu chiếm 52,08%) hoặc
khơng hợp lý (17 phiếu chiếm 35,42%). Có thể thấy rằng việc ban hành các chính sách
quản lý chợ của địa phương còn nhiều bất cập, chưa hợp lý là một nhân tố cản trở đến
việc phát triển hệ thống chợ.
- Tuy nội dung của chính sách quản lý nhà nước có nhiều bất cập nhưng việc thực
hiện các chính sách được đánh giá ở mức khá: 40 phiếu (83,33%). Đây là thành công của
hoạt động tuyên truyền, phổ biến và công tác thanh tra, kiểm tra, đôn đốc thực hiện các
chính sách quản lý nhà nước trong phạm vi các chợ.
- Đánh giá nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách quản lý nhà nước
với hệ thống chợ thì phần lớn người tham gia phỏng vấn đều cho rằng chính sách có được
thực hiện tốt hay không là do bản thân người thực hiện (28 phiếu chiếm 58,33%), tiếp đến
là do phương pháp phổ biến có khoa học, dễ hiểu hay không (12 phiếu chiếm 25%), cuối
cùng là do nội dung chính sách có hợp lý, phù hợp với thực tế hay không.
b,Tổng hợp kết quả phỏng vấn
 Theo kết quả phỏng vấn, những thành công của việc thực hiện các chính sách quản
lý nhà nước đối với hệ thống chợ trên địa bàn Tỉnh:
- Góp phần làm cho người dân hiểu được tầm quan trọng của hệ thống chợ đối với
sự phát triển kinh tế xã hội, nâng cao ý thức của người dân trong thực hiện chính sách
quản lý nhà nước với hệ thống chợ.
- Đã tiến hành đổi mới được phương thức tổ chức và quản lý chợ giúp cho việc quản
lý dễ dàng hơn.
- Góp phần đẩy mạnh hoạt động giao lưu bn bán trên địa bàn tỉnh, tăng mức đóng
góp vào ngân sách Tỉnh.
- Thu hút được nhiều nguồn đầu tư ở cả trong và ngoài nước, phát triển cơ sở vật
chất hệ thống chợ để tăng dung lượng hàng hóa, số lượng người tham gia kinh doanh tại
chợ.
- Đảm bảo cho hoạt động kinh doanh tại chợ diễn ra theo hướng văn minh, hiện đại.
 Những hạn chế trong công tác thực hiện các chính sách quản lý nhà nước đối với
hệ thống chợ trên địa bàn Tỉnh:

- Chính sách quản lý nhà nước đối với hệ thống chợ còn chưa đầy đủ và còn một số
điểm chưa hợp lý.



×