Tải bản đầy đủ (.pdf) (73 trang)

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Triết học: Hiện tượng học Edmund Husserl dưới góc nhìn của Trần Đức Thảo

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (815.66 KB, 73 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TRIẾT HỌC
KHOA TRIẾT HỌC
---------------------------------------------

NGUYỄN THỊ THU TRANG
LÊ THỊ DIỆU NGỌC

HIỆN TƢỢNG HỌC EDMUND HUSSERL
DƢỚI GĨC NHÌN CỦA TRẦN ĐỨC THẢO
TƢ TƢỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA N.MACHIAVELLI
TRONG TÁC PHẨM QUÂN VƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Khóa học: QH 2016 - X

NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH 2016 – X

HÀ NỘI
NỘI -– 2020
2020

1




ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TRIẾT HỌC
-----------------------

NGUYỄN THỊ THU TRANG

HIỆN TƢỢNG HỌC EDMUND HUSSERL
DƢỚI GĨC NHÌN CỦA TRẦN ĐỨC THẢO

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH 2016 - X

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: Th.s Trần Minh Hiếu

HÀ NỘI - 2020
2


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ...................................................................................................................5
CHƢƠNG 1. HIỆN TƢỢNG HỌC HUSSERL ..................................................11
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Edmund Husserl ............................................11
1.1.1 Tiểu sử.......................................................................................................11
1.1.2. Giai đoạn duy tâm lý ...............................................................................12

1.1.3. Giai đoạn phản duy tâm lý ......................................................................14
1.1.4. Giai đoạn Hiện tượng học .......................................................................15
1.2. Hiện tƣợng học Husserl ...............................................................................18
1.2.1. Bối cảnh hình thành Hiện tượng học Husserl .........................................18
1.2.2. Tiền đề tư tưởng của Hiện tượng học Husserl ........................................21
1.2.3. Một số nội dung cơ bản của Hiện tượng học Husserl .............................25
1.3. Một số ý nghĩa và ảnh hƣởng của Hiện tƣợng học Husserl đối với triết
học phƣơng Tây hiện đại ....................................................................................38
CHƢƠNG 2. QUAN ĐIỂM CỦA TRẦN ĐỨC THẢO ĐỐI VỚI HIỆN
TƢỢNG HỌC EDMUND HUSSERL .................................................................42
2.1. Đôi nét về Trần Đức Thảo và những hƣớng nghiên cứu của ơng. ..........42
2.2. Lập trƣờng nhìn nhận Hiện tƣợng học Husserl của Trần Đức Thảo.....44
2.2.1. Chủ nghĩa duy vật ở Trần Đức Thảo .......................................................44
2.2.2. Quan điểm của Trần Đức Thảo về “Bản chất” trong Hiện tượng học
Husserl ...............................................................................................................47
3


2.2.3. Quan điểm của Trần Đức Thảo về “Tính ý hướng” trong Hiện tượng học
Husserl ...............................................................................................................49
2.2.4. Quan điểm của Trần Đức Thảo về phương pháp quy giản Hiện tượng
học ......................................................................................................................54
2.3. Sự “vƣợt bỏ” của Trần Đức Thảo với Hiện tƣợng học Husserl ..............55
2.3.1. Quan điểm của Trần Đức Thảo về nguồn gốc và bản chất của ý thức ...55
2.3.2. Vấn đề con người và cuộc cách mạng ở Việt Nam ..................................61
KẾT LUẬN .............................................................................................................68

4



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhận thức luận - lý luận về bản chất, quá trình hình thành, phát triển của
nhận thức cũng như khả năng phản ánh thế giới của con người – vốn là một trong
những nội dung cơ bản của triết học. Trong nhiều vấn đề đặt ra, việc nhận thức vận
động như thế nào để đạt tới chân lý luôn là một đề tài thu hút sự chú ý và gây tranh
cãi. Nguyên nhân là vì, thứ nhất, ngay trong những nguyên lý mang tính nền tảng
của nhận thức vốn chứa đựng mâu thuẫn biện chứng nội tại, thứ hai, mỗi quan
niệm, dù đặc sắc đến thế nào, chỉ có giá trị khi giúp con người giải quyết được
những vấn đề cụ thể do thực tiễn đặt ra.
Thật vậy, trong khi chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng nhận thức là sự
phức hợp những cảm giác của con người thì chủ nghĩa duy tâm khách quan lại coi
nhận thức là sự “hồi tưởng lại” của linh hồn bất tử về “thế giới các ý niệm” hay là
sự vận động của “Ý niệm tuyệt đối” trong sự “chiêm ngưỡng” lại chính mình
(Hegel). Trong khi những người theo thuyết hoài nghi coi nhận thức là trạng thái
hoài nghi về sự vật và biến sự nghi ngờ về tính xác thực của tri thức thành một
nguyên tắc của nhận thức thì chủ nghĩa duy vật lại thừa nhận khả năng nhận thức
được thế giới của con người, coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan
vào trong đầu óc của con người…
Trong dịng chảy sôi động của lịch sử tư tưởng về nhận thức đó, Hiện tượng
học Husserl xuất hiện, một mặt là những suy tư nhằm giải quyết phần nào “nan đề”
của nhận thức, mặt khác, quan trọng hơn nhằm “đối mặt” với cuộc khủng hoảng
của xã hội Đức cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Với quan niệm về “Bản chất”,
“Tính ý hướng”, “Thế giới sống”…, Hiện tượng học Husserl đề xuất cách tiếp cận
mới, với phương pháp nhận thức đặc thù, giúp con người soi rọi sâu hơn vào thế

5


giới tinh thần, từ đó góp phần lý giải những vấn đề của xã hội đương thời, tạo nền

tảng cho triết học phương Tây hiện đại.
Trần Đức Thảo – một nhà nghiên cứu triết học Việt Nam - trong khi tìm thấy
những giá trị cốt lõi, khoa học trong Hiện tượng học của Hurrserl cũng nhận ra một
số hạn chế của nó, đặc biệt khi vận dụng vào việc lý giải, tìm đường cho hiện thực
Việt Nam những năm 1952. Trần Đức Thảo đã có một sự chuyển mình âm thầm,
đầy nội lực bằng sự kết hợp giữa Hiện tượng học và Chủ nghĩa duy vật biện chứng,
nhưng không phải theo kiểu “trung dung”, “hài hoà” mà bằng những trăn trở phản
tư đau đáu, bằng sự dấn thân mạnh mẽ vào thực tiễn với sự trở về, góp sức trong
cuộc kháng chiến chống Pháp, cho chúng ta nhận ra một cốt cách, một sự “sống
trải” đáng kính. Đó là lý do chúng tôi lựa chọn đề tài “Hiện tượng học Edmund
Husserl dưới góc nhìn của Trần Đức Thảo”.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
* Các cơng trình nghiên cứu về Hiện tượng học E. Husserl:
Hiện tượng học là học thuyết ra đời những năm đầu thế kỷ XX, tuy nhiên
việc tiếp cận nó ở Việt Nam và thể hiện những nghiên cứu thơng qua các cơng
trình, tài liệu chun khảo vẫn cịn khá ít.
Cơng trình đầu tiên cần phải kể đến chính là tác phẩm “Hiện tượng học và
chủ nghĩa duy vật biện chứng” của giáo sư Trần Đức Thảo, xuất bản lần đầu tiên
tại Paris năm 1951, được dịch và xuất bản sang tiếng Việt năm 2004. Tác phẩm là
những tiếp thu Hiện tượng học Husserl của Trần Đức Thảo với tư duy phê phán
độc đáo. Ở đó, tác giả đã cố gắng tìm kiếm điểm gặp nhau, bổ sung cho nhau của
hai học thuyết Hiện tượng học và biện chứng nói riêng, chủ nghĩa Marx nói chung.
Mặc dù đánh giá cao những thành tựu của Hiện tượng học, ông vẫn chỉ ra những
mâu thuẫn mà nó chưa thể giải quyết. Theo ông, Hiện tượng học chưa thể giúp con
6


người có được sự hiểu biết chính xác về thế giới hiện thực, đặc biệt là phương
hướng giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra, bởi sự thiếu hụt tính chất “thực
tiễn” và “thực hành” trong nó. Do đó, chủ nghĩa Marx sẽ là sự bổ sung cần thiết

cho những khoảng trống này. Đúng như lời nhận xét của Phan Ngọc: “Trần Đức
Thảo đến với chủ nghĩa duy vật sau khi trèo lên cái đỉnh cao nhất của chủ nghĩa
duy tâm thời đại này là Hiện tượng học, rồi lật ngược lại nó” [14, tr.17].
Cơng trình chun khảo đáng chú ý thứ hai là “Edmund Husserl” của tác giả
Diêu Trị Hoa người Trung Quốc, được dịch và xuất bản sang tiếng Việt vào 2006
thuộc dự án “Tủ sách triết học Đông Tây”. Trong tác phẩm này, tác giả Diêu Trị
Hoa đã đem đến cho độc giả một cách nhìn căn bản về Hiện tượng học Husserl.
Theo Diêu Trị Hoa, lộ trình gần 40 năm hoạt động nghiên cứu của Husserl gắn liền
với quá trình đi từ chủ nghĩa tự nhiên đến Hiện tượng học, từ tâm lý học mô tả đến
Hiện tượng học tiên nghiệm và dừng lại ở thế giới đời sống. Điều cơ bản nhất của
Hiện tượng học là một hệ thống khoa học chặt chẽ với lập trường triệt để. Sự
phong phú và đa dạng về các cơng trình nghiên cứu về Hiện tượng học Husserl đã
đem lại một bức tranh mới hơn về một trào lưu triết học lớn.
Tài liệu chuyên khảo đáng chú ý tiếp theo là “Hiện tượng học Husserl” của
nhóm tác giả Nguyễn Chí Hiếu, Đỗ Minh Hợp, Phạm Quỳnh Trang xuất bản năm
2008. Là một cơng trình nghiên cứu cơng phu, cuốn sách gồm 3 chương, trong đó
chương 2 khái quát toàn bộ nội dung Hiện tượng học với các khái niệm cơ bản
“Tính ý hướng”, “Ý thức tuyệt đối”, “Dòng ý thức”, “Hiện tượng”, và “Thế giới
sống”. Việc nghiên cứu một cách có hệ thống các khái niệm này giúp cho người
đọc có một cái nhìn khá tồn diện, có chiều sâu về một học thuyết làm nền tảng
cho các trào lưu triết học cũng như nền văn hoá phương Tây hiện đại.
* Các cơng trình nghiên cứu về Trần Đức Thảo và góc nhìn của ơng đối với
Hiện tượng học Husserl:
7


Không chỉ là một nhà nghiên cứu về Hiện tượng học Husserl, Trần Đức
Thảo còn là một triết gia. Bởi thế, những tác phẩm cũng như tư tưởng của ông trở
thành một đối tượng nghiên cứu đầy sức hút, và hơn thế, cực kỳ quan cũngtrọng,
cần thiết đối với những người nghiên cứu khác, ở cả Việt Nam và trên thế giới.

Trước tiên cần kể đến một số bài báo mang tính học thuật cao. Đó là bài viết
“Trần Đức Thảo với Hiện tượng học Husserl” của Nguyễn Anh Tuấn (in trong
sách “Những vấn đề phương Tây thế kỷ XX”, 2007), đã nêu lên cách thức mà Trần
Đức Thảo thoát khỏi mâu thuẫn và bế tắc trong việc luận giải về ý thức mà Hiện
tượng học Husserl đã mắc phải [xem 33]. Bài viết “Hiện tượng học và Hiện tượng
học của Trần Đức Thảo” của Ngô Hương Giang đưa ra nhận định, Trần Đức Thảo
đã mở ra một dòng “Hiện tượng” riêng tạm gọi là Hiện tượng học duy vật [xem 7].
Hội thảo khoa học “Trần Đức Thảo - cuộc đời và di sản” được tổ chức tháng
11/2007, tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, nhân kỷ niệm 90 năm
ngày sinh của Trần Đức Thảo tập hợp các bài viết quan tâm đến Hiện tượng học
Husserl cũng như các quan điểm kiến giải, phát triển, phê phán của Trần Đức Thảo
đối với Hiện tượng học Husserl.
Hội thảo khoa học quốc tế “Tư tưởng triết học và giáo dục của Trần Đức
Thảo” được tổ chức vào năm 2013, tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, nhân kỷ
niệm 20 năm ngày mất của giáo sư Trần Đức Thảo. Một số bài viết được lựa chọn
tại hội thảo này đã được in trong tập sách cùng tên vào năm 2015, cũng tập trung
chủ yếu vào chủ đề Hiện tượng học và Hiện tượng học của Trần Đức Thảo.
Qua tổng quan tài liệu chúng tôi nhận thấy vấn đề Hiện tượng học Husserl
và quan điểm của Trần Đức Thảo đối với Hiện tượng học Husserl đã thu hút sự
quan tâm của đông đảo học giả và người nghiên cứu. Dù vậy, theo cảm nhận,
dường như những khái niệm căn bản như “Hiện tượng”, “Ý thức sống trải”, “Bản
8


chất”, “Thế giới sống”… vẫn là những “ẩn số” chưa được khai thác hết. Một học
thuyết là kết tinh cả cuộc đời của một triết gia lớn, một học thuyết làm nền tảng
cho khơng chỉ triết học mà cịn cả nền văn hố phương Tây hiện đại chắc chắn sẽ
cịn nhiều điều thú vị, hấp dẫn, truyền cảm hứng cho người nghiên cứu, nhất là đối
với trình độ một sinh viên đang bước đầu tìm hiểu như chúng tơi. Mặt khác, là
người thế hệ sau, có điều kiện để cùng đặt lên bàn khơng chỉ Hiện tượng học

Husserl mà cịn cả sự phê phán Hiện tượng học từ một triết gia Việt Nam như Trần
Đức Thảo, chúng tôi không những được hiểu rõ hơn các nội dung của Hiện tượng
học mà còn hiểu được thế nào là một sự phê phán triết học. Đó là sự phê phán
khơng phải chỉ để phê phán mà cịn để tự “vượt bỏ” chính mình. Trong khn khổ
của một khố luận sinh viên, chúng tôi mong muốn nghiên cứu phần nào các nội
dung trên, qua đó làm rõ những đặc sắc trong tư tưởng của triết gia Trần Đức Thảo
khi “đọc” Hiện tượng học Husserl.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Phân tích, làm rõ một số nội dung cơ bản của Hiện tượng học
Husserl, đồng thời phân tích, làm rõ góc nhìn của Trần Đức Thảo về Hiện tượng
học Husserl cũng như sự “vượt bỏ” của ông về vấn đề Hiện tượng học.
Nhiệm vụ:
Phân tích điều kiện kinh tế, xã hội và tiền đề tư tưởng cho sự ra đời quan
niệm của Hiện tượng học Husserl
Phân tích, làm rõ những nội dung cơ bản của quan niệm về Hiện tượng học
Husserl.
Phân tích và làm rõ góc nhìn của Trần Đức Thảo về Hiện tượng học Husserl.
Đưa ra những đánh giá về sự lĩnh hội, vượt bỏ trong nghiên cứu của Trần
Đức Thảo.
9


4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những khái niệm cơ bản của Hiện tượng học Husserl
và quan điểm của Trần Đức Thảo về Hiện tượng học Husserl.
Phạm vi nghiên cứu: Một số tác phẩm như “Ý niệm Hiện tượng học” của
Edmund Husserl; “Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng”, “Tìm cội
nguồn ngơn ngữ, ý thức”, “Sự hình thành con người” của Trần Đức Thảo.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Khóa luận được thực hiện dựa trên những nguyên lý của chủ

nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm Marx – Lenin về
lịch sử tư tưởng và lịch sử triết học.
Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận vận dụng các phương pháp nghiên cứu
cụ thể như phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh, thống nhất lịch sử - logic,
khái qt hóa, trừu tượng hóa,…
6. Ý nghĩa của khố luận
Ý nghĩa lý luận: Khóa luận góp phần vào việc hiểu rõ hơn Hiện tượng học
Husserl và cách nhìn của Trần Đức Thảo đối với Hiện tượng học, qua đó cho thấy
giá trị tư tưởng của Trần Đức Thảo đối với hệ thống triết học Việt Nam và thế giới.
Ý nghĩa thực tiễn: Khóa luận sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho những
ai quan tâm đến vấn đề Hiện tượng học và tư tưởng Trần Đức Thảo.
7. Kết cấu của khố luận
Ngồi phần mở đầu và tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 2 chương và 5 tiết.

10


CHƢƠNG 1. HIỆN TƢỢNG HỌC HUSSERL
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Edmund Husserl
1.1.1 Tiểu sử
Edmund Husserl (1859 - 1938) là người sáng lập ra trường phái “Hiện
tượng” luận của thế kỷ XX. Ông sinh tại Prossnitz miền Movarie, lúc ấy đang
thuộc đế quốc Áo - Hung. Tốt nghiệp phổ thơng tại Áo, Husserl sau đó lần lượt học
đại học từ năm 1876 ở đại học Leipzing, Berlin và Viên.
Vào những năm 80 - 90 của thế kỷ XIX, ông chịu ảnh hưởng các nhà tư
tưởng theo chủ nghĩa Kant mới như F. A. Lange, H. L. F. Heimholtz, những người
ủng hộ chủ nghĩa tâm lý thịnh hành khi đó. Nhưng người có tầm ảnh hưởng lớn
đến con đường chuyển từ tốn học sang triết học của ơng là nhà tâm lý học, triết
học người Áo F. Brentano (1838 -1917). Vào năm 1886, Husserl bảo vệ luận án
tiến sĩ triết học với đề tài “Các vấn đề triết học của số học”.

Sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ vào năm 1887, Husserl trở thành phó giáo sư
đại học tổng hợp Halle. Từ năm 1901 đến năm 1916, ông giảng dạy tại Goettingen
và trở thành giáo sư vào năm 1906. Trong thời gian này tư tưởng Husserl đã có
bước chuyển to lớn. Ông phê phán gay gắt việc nghiên cứu tốn học, số học - một
mơn khoa học khách quan - dựa trên các lý thuyết của tâm lý học. Ông cho rằng
toán học, logic học là khoa học độc lập, thuần tuý không phụ thuộc vào bất kỳ nội
dung tâm lý nào, và xác định đây là khoa học làm nền tảng cho các môn khoa học
thực chứng khác. Đối với Husserl, logic học thuần t khơng gì khác là học thuyết
nghiên cứu “nhận thức”. Ông đặc biệt quan tâm tới những khái niệm “hiện tượng”,
“hiện tượng học”, “thời gian”, “ý thức” cũng như học thuyết về phép quy giản
Hiện tượng học.
Khi Hitle lên cầm quyền, luật phân biệt chủng tộc đối với viên chức nhà
nước có hiệu lực vào tháng 4/1933 và Husserl bị loại khỏi hàng ngũ giáo sư do
11


nguồn gốc Do Thái của mình, thậm chí ơng cịn không được phép đến trường đại
học và thư viện. Nếu trước đây, ơng ít quan tâm tới triết học xã hội thì giờ đây,
nhãn quan của ơng hướng vào những vấn đề thời sự bức thiết của xã hội và sự phát
triển của lịch sử nhân loại. Husserl mất ngày 27 tháng 4 năm 1938.
Cả cuộc đời mình, Husserl đã suy tư, nghiên cứu, lao vào biển cả triết học
đầy rẫy những khó khăn, thử thách. Q trình tư duy của Husserl là sự chuyển biến
từ chủ nghĩa tâm lý đến Hiện tượng học, từ Hiện tượng học mô tả đến Hiện tượng
học siêu nghiệm, từ chủ thể tiên nghiệm đến “Thế giới sống”. Tương ứng với 3 giai
đoạn: sơ kỳ, trung kỳ và hậu kỳ là giai đoạn duy tâm lý, giai đoạn phản duy tâm lý,
giai đoạn Hiện tượng học - Hiện tượng học siêu nghiệm trong tư tưởng của ông.
1.1.2. Giai đoạn duy tâm lý
Husserl sinh ra và lớn lên vào những năm cuối của thế kỷ XIX, những năm
này diễn ra nhiều xung đột giữa các luồng tư tưởng ở châu Âu. Trong thời gian
này, các ngành khoa học tự nhiên có nhiều bước phát triển vượt bậc, khẳng định vị

trí thống trị. Các bộ mơn thuộc ngành khoa học xã hội - nhân văn chủ yếu vận
dụng các phương pháp của ngành khoa học tự nhiên vào những nghiên cứu của
mình. Để chống lại sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ của các phương pháp khoa
học tự nhiên vào các nghiên cứu, nhiều nhà khoa học xã hội - nhân văn đã đề xuất
thiết lập môn “khoa học tinh thần”. Vấn đề đặt ra khi đó là đối tượng thực sự của
khoa học tự nhiên và “khoa học tinh thần” là gì? Khơng gì khác trước hết đó là vấn
đề logic học và tiếp sau đó là mối liên hệ của các cấu trúc tư duy và hiện thực.
Hai vấn đề cơ bản khi đó được đặt ra: thứ nhất, các cấu trúc logic có đưa
được về các cấu trúc tâm lý hay không?; thứ hai, các thao tác logic có phải là các
mơ hình về q trình tư duy hiện thực hay khơng? Khi trả lời hai vấn đề trên, hầu
hết các nhà theo chủ nghĩa tâm lý đều khẳng định tính chất mơ tả của logic học đối
với quá trình tư duy. Chủ nghĩa tâm lý cổ điển thế kỷ XIX (J. Mill) cho rằng, thứ
12


nhất, logic học được quy về tâm lý học tức là các khái niệm logic có thể được suy
ra từ các khái niệm tâm lý học, đồng thời các các quy luật logic học cũng có thể
được tách từ các quy luật của tâm lý học. Thứ hai, logic học là mơ hình về q
trình tư duy vì bản thân nó cũng là một bộ phận cấu thành nên quá trình ấy. Một số
quan điểm khác thì khơng đồng tình, phủ định vấn đề thứ nhất nhưng vẫn nhất trí
sự đồng nhất của cấu trúc logic và cấu trúc tâm lý theo một con đường kinh
nghiệm xác định nào đó. Lập trường nghiên cứu giai đoạn sơ kỳ của Husserl chịu
ảnh hưởng bởi thời đại và trực tiếp chịu ảnh hưởng từ nhà tâm lý học Brentano.
Trong tác phẩm “Tâm lý học xét từ góc độ kinh nghiệm” (1874), Brentano
đã xác định đối tượng của tâm lý học là những yếu tố ý thức của con người và
phương thức liên kết chúng cũng như các tiền đề và các điều kiện làm xuất hiện
những yếu tố ấy. Đối với Brentano thì khơng gì có thể thay thế được tâm lý học
trong việc nhận thức chân lý khoa học, nó đem đến cho nhà nghiên cứu nhận thức
chân thực và chính xác về ý thức con người. Brentano lần đầu tiên đưa ra khái
niệm “Tính ý hướng” (intentio). Đây là khái niệm quan trọng, mấu chốt đối với hệ

thống triết học phương Tây hiện đại sau này, mà người đang chịu ảnh hưởng trực
tiếp là Husserl. “Tính ý hướng” ln giả định phải có một cặp tương liên, một là
hành vi ý hướng, hai là cái mà hành vi ý hướng vào, trong đó chỉ hành vi ý hướng
là thực tồn. Sau này, Husserl sử dụng hai khái niệm noesis và noema để chỉ mối
tương liên này. Sự ra đời của khái niệm “Tính ý hướng’ đã giải quyết những mâu
thuẫn trong việc xác định đối tượng, cung cấp một nhãn quan mới mẻ hướng tới
đối tượng và cũng mở lối cho sự phát triển đường hướng triết học phi duy lý sau
này.
Husserl xây dựng các kết luận dựa trên cơ sở phân tích logic tốn thời bấy
giờ dựa trên sự đồng tình với Brentano về lý giải phénomène tâm lý trong tâm lý
học mô tả. Phénomène tâm lý là các “Bản chất” khơng địi hỏi phải viện dẫn các
13


khách thể bên ngồi mà chỉ địi hỏi được trải nghiệm từ bên trong. Một giai đoạn
mà người ta lý giải logic học trên tinh thần tâm lý học là vì thế. Husserl đã viết tác
phẩm “Các vấn đề triết học số học” với mong muốn lý giải các khái niệm số học,
các nguyên tắc, các nguyên lý số học dựa trên các kiến giải tâm lý học. Giai đoạn
này diễn ra trong thời gian không lâu. Sau này, Husserl gọi tác phẩm “Các vấn đề
triết học số học” là “vơ tội nhưng ấu trĩ” vì đã tiếp cận nhiều vấn đề mà không hiểu
rõ vấn đề. Đây là giai đoạn đánh dấu sự phê phán và tự phê phán trong suốt cuộc
đời ông.
1.1.3. Giai đoạn phản duy tâm lý
Đối lập với chủ nghĩa tâm lý là chủ nghĩa phản tâm lý, coi logic học là một
môn khoa học độc lập với tập lý học với mục đích, đối tượng, phương pháp nghiên
cứu riêng. Trước hai vấn đề1 nêu trên của thời đại, các nhà theo chủ nghĩa phản
tâm lý cổ điển (Frege, Husserl) đã trả lời như sau. Thứ nhất, không thể quy logic
học về tâm lý học, bởi lẽ không thể rút ra được các khái niệm logic học từ các khái
niệm tâm lý học, không thể tách các định đề logic từ các định đề tâm lý học, không
thể viện dẫn các sự kiện tâm lý để luận chứng cho các nguyên tắc logic học. Thứ

hai, logic hồn tồn khơng thể là mơ hình về tư duy, vì các kết quả và phương pháp
của logic khơng đem lại bất kỳ thông tin nào về tư duy tự nhiên của con người.
Trong khi đồng tình với lý giải của Brentano về quan hệ ý hướng là cái
thuần túy mô tả, là đặc thù nội tại của các trải nghiệm xác định, là tính quy định về
bản chất của các hiện tượng tâm lý hay hành vi tâm lý [xem 9, tr.165], Husserl lại
phê phán ông khi cho rằng có sự tách biệt giữa hành vi ý hướng và đối tượng ý
hướng, bởi Brentano luôn hướng tới triết học đạt tới sự đồng nhất chủ khách thể.
Ông hiểu ý hướng là hành vi quy định đối tượng nhờ phương pháp biểu tượng,
tưởng tượng, khát vọng,… “Khơng ai có thể suy luận, hy vọng hay sợ hãi nếu
1

Trong bài viết, tr. 4.

14


người ấy khơng biểu tượng một cái gì” [9, tr.166]. Trên thực tế có những khái niệm
khơng hề có ngoại diên, nhưng vẫn có nội hàm xác định. Theo cách lý giải của
Husserl, ngay cả khi đối tượng không tồn tại trên thực tế thì cũng hồn tồn khơng
ảnh hưởng tới tính thực tại của đối tượng ấy.
Trong tác phẩm “Những nghiên cứu logic” tập 1 Husserl đã kịch liệt phê
phám chủ nghĩa tâm lý. Bác bỏ các luận đề của chủ nghĩa tâm lý về sự phụ thuộc
của logic học vào tâm lý học, ông cho rằng đây là chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa
tương đối, chủ nghĩa hoài nghi. Husserl bày tỏ mong muốn xây dựng logic thuần
túy trở thành khoa học về những “Bản chất” tuyệt đối, không phụ thuộc vào chủ
thể.
Bước ngoặt tư tưởng Husserl chuyển từ chủ nghĩa logic tuyệt đối của khoa
học sang Hiện tượng học khi ông viết tập thứ 2 của “Những nghiên cứu logic”.
Chính Hiện tượng học đã in đậm dấu ấn Husserl trong sự phát triển của triết học
thế giới.

1.1.4. Giai đoạn Hiện tượng học
Xuất phát từ quan niệm Hiện tượng học như khoa học về ý thức thuần túy,
như dòng chảy của những “Hiện tượng” (phénomène) với tư cách sản phẩm của
hoạt động kiến tạo ý thức thuần túy, Husserl đã mang một hơi thở hoàn toàn mới
thổi vào khái niệm “Hiện tượng”.
Cho đến trước quan niệm của Husserl, khái niệm “Hiện tượng” đã được bàn
trong lịch sử triết học. Những tranh luận xoay quanh các câu hỏi như sau: “Hiện
tượng” là những tồn tại khách quan hay là những thứ được mang lại trong cảm
giác”? “Hiện tượng” tách rời hay đồng nhất với “Bản chất”?
Các nhà triết học thời kỳ Hy Lạp cổ đại chia thành hai trường phái khi đưa
ra quan điểm về “Hiện tượng”. Trường phái thứ nhất cho rằng “Hiện tượng” là
15


những gì khách quan, xuất hiện trước giác quan. Trường phái thứ hai cho rằng thế
giới các sự vật cảm tính (thế giới hiện thực) chính là “Hiện tượng” với tư cách là
cái bóng của thế giới ý niệm. Bản chất thật sự thuộc về thế giới ý niệm, không
thuộc về thế giới “Hiện tượng”. Ở đây, bắt đầu có sự tách rời giữa “Hiện tượng” và
“Bản chất”.
Triết học Cận đại, Berkeley, Hume và sau này là triết học cổ điển Đức, cho
rằng “Hiện tượng” khơng cịn phản ánh ý niệm đáng tin cậy nữa. Họ đưa ra các
khái niệm khác có quan hệ gần gũi với khái niệm “Hiện tượng”, biểu hiện các mức
độ đáng tin cậy, hiện ra khác nhau của tồn tại (cảm tưởng, vẻ bề ngoài,…) như là
cái đứng giữa ảo tưởng và chân lý. Kant cho rằng “Hiện tượng” khơng gì khác
chính là hiện thực hoạt động sống của con người, và năng lực nhận thức của con
người là có giới hạn. Hegel dành cả cuộc đời để nghiên cứu, biện giải cho tinh thần
tuyệt đối. Ông coi “Hiện tượng” là thế giới hiện thực bao gồm cả con người, là sự
phản ánh “Tinh thần tuyệt đối”. Nhưng trong khi “Tinh thần tuyệt đối” vận động
biện chứng, thì thế giới “Hiện tượng” lại chết cứng, không vận động. Trong triết
học, việc sử dụng từ hiện tượng là để nói đến một sự kiện có thể nhận biết được.

Có thể nhận biết qua giác quan hoặc trong tâm trí. Thuật ngữ này bắt đầu được sử
dụng trong triết học bởi triết gia người Kant, khái niệm “Hiện tượng” đã được Kant
sử dụng “vật tự nó” - Ding an sich hoặc "vật tự vật" - thing-in-itself) hoặc Tuyệt
đối. Kant bị ảnh hưởng bởi triết gia “tiền bối” Absolute về phần này trong triết lý
của ông. Hiện tượng và vật tự thể tương quan với nhau, ta không thể trực tiếp dùng
mắt mà thấy. Hiện tượng học tinh thần của Hegel là cội nguồn thực sự và “bí ẩn”
của học thuyết Hegel, tức là cái chìa khố mà có nó, người ta sẽ mở toang được
cánh cửa đi vào nội dung quý giá của học thuyết này. Đây là lãnh địa của tinh thần
tuyệt đối – bản chất, chi phối toàn bộ thế giới hiện thực. Mọi sự vật chỉ là hiện thân
cá biệt của tinh thần tuyệt đối. Theo Hegel, tinh thần thế giới trực tiếp hay gián tiếp
16


bị tha hoá thành tự nhiên, thành các thể chế và các đồ vật do con người tạo ra. Và,
tất cả các q trình tha hố đó dường như là mặt trái của sự vận động của ý niệm
tuyệt đối đến chính mình, đến sự hiện thân trọn vẹn như sự tự nhận thức. Quá trình
này diễn ra nhất thiết phải thơng qua mặt đối lập của mình, tức là qua vơ tri và
thậm chí, qua tri thức giả dối xuất hiện trên đường nhận thức một cách tất yếu như
tồn tại khác của nó, tức khơng phải như lỗi ngẫu nhiên, mà như sai lầm tất yếu và
cần thiết. Những giới hạn đó của các hiện tượng tha hố tương ứng với nguyên tắc
Hegel về đồng nhất tư duy và tồn tại vốn giống hệt như quá trình bản thể luận phổ
quát. Và, với bất kỳ quá trình nào trong số chúng - nhận thức luận hay bản thể
luận, thì theo Hegel, tha hố nhất định phải được vượt bỏ và được khắc phục: Tinh
thần quay trở về với chính mình qua đầy rẫy những đớn đau cực hình và những thử
thách trải nghiệm đầy thông thái. Chân lý đạt tới độ trọn vẹn và tuyệt đối, thế giới
được lý tính rọi sáng hồn tồn. Lập trường của Hegel trong vấn đề tha hoá đầy lạc
quan và chúng ta có thể cảm thấy điều đó ở khắp nơi trong Hiện tượng học tinh
thần.
Triết học Marx - Lenin khắc phục tính chất duy tâm của triết học cổ điển
Đức, đặt khái niệm “Hiện tượng” trong mối tương quan biện chứng với khái niệm

“Bản chất”. Bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua “Hiện tượng”, còn “Hiện tượng”
bao giờ cũng là sự thể hiện của “Bản chất” nhất định. Bản chất nào thì sẽ thể hiện
ra qua “Hiện tượng” ấy. Một “Bản chất” có thể được biểu hiện thơng qua nhiều
“Hiện tượng” và ngược lại một “Hiện tượng” có thể bộc lộ ra nhiều “Bản chất”.
Nhưng sẽ ln chỉ có một “Hiện tượng” là phù hợp hơn cả với “Bản chất” mà nó
thể hiện.
Khái niệm “Hiện tượng” cũng đóng vai trò quan trọng ở Brentano: tri thức
về con người (nhiệm vụ của tâm lý học) mà theo ông chỉ nhận được từ việc quan
sát đời sống tâm thần, còn cái gì đạt được từ nhờ sự quan sát như vậy là “Hiện
17


tượng” (phénomène). Theo nghĩa rộng, phénomène là tất cả những gì có thể trở
thành khách thể của sự nghiên cứu khoa học. Với nghĩa đó, ta có các phénomène
“nội tâm” - tâm lý và các phénomène “ngoại tâm” - vật lý. Cái đặc thù của các
phénomène tâm lý là sự tồn tại ý hướng vốn có của chúng.
Đối với Husserl, khái niệm “Hiện tượng” trở thành then chốt trong triết học
của ông. Bên cạnh cách hiểu truyền thống về “Hiện tượng” như trên, theo Husserl,
“Hiện tượng” không những biểu thị những phương diện xác định của sự vật được
đem lại trong trực giác cảm tính mà cịn đặc trưng cho “dòng ý thức”. Hiện tượng
ở Husserl là những “Bản chất” của ý thức được xây dựng dựa trên phương pháp
đặc thù của riêng nó. Ơng cho rằng, “Hiện tượng học: thuật ngữ này biểu thị một
môn khoa học, một phức hợp những bộ môn khoa học; nhưng đồng thời và trên hết
nó biểu thị một phương pháp và một thái độ tư duy: đó là thái độ tư duy triết học
riêng biệt và phương pháp triết học riêng biệt” [13, tr.23].
Như vậy, Hiện tượng học Husserl có ba đặc trưng cơ bản. Thứ nhất, học
thuyết Hiện tượng học là học thuyết về ý thức. Thứ hai, phương pháp riêng biệt,
độc đáo của Hiện tượng học là phương pháp quy giản Hiện tượng học. Thứ ba,
Hiện tượng học còn là học thuyết về “Thế giới sống” và sự khủng hoảng loài người
châu Âu. Thông qua Hiện tượng học, Husserl đã chuyển sự suy từ vấn đề khủng

hoảng của khoa học sang cuộc khủng hoảng của con người. Ông đã dành cả đời
mình để trăn trở, để suy ngẫm về khoa học, về con người, là nét chấm phá nhưng là
nét chấm phá quan trọng nhất trong bức tranh triết học muôn màu, mn vẻ.
1.2. Hiện tƣợng học Husserl
1.2.1. Bối cảnh hình thành Hiện tượng học Husserl
Vào nửa cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phát triển tới cực thịnh của nó,
chứng kiến sự biến đổi dữ dội nhất trong lịch sử châu Âu. Đây là thế kỷ của chủ
nghĩa duy lý, chủ nghĩa khoa học lên ngôi với những thành tựu khoa học, kỹ thuật,
18


các lý thuyết thực nghiệm chi phối toàn bộ đời sống xã hội, đem lại những ảnh
hưởng to lớn cho con người châu Âu.
Bước sang thế kỷ XX, một kỷ nguyên hưng thịnh chứng kiến sự phát triển
vượt bậc của khoa học, kỹ thuật vượt qua thời kỳ cổ điển bước sang thời kỳ hiện
đại. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai được đánh dấu bằng các nguồn năng
lượng được khai thác và sử dụng một cách phổ biến. Các ngành công nghiệp năng
lượng ra đời: khai thác dầu mỏ, sản xuất gang thép, sản xuất ô tô, đặc biệt là năng
lượng điện đã làm thay đổi cơ bản bộ mặt nhân loại thế kỷ XX trên mọi phương
diện đời sống kinh tế, văn hóa, tinh thần,…
Khoa học ngày càng phát triển, nền sản xuất phát triển kéo theo năng suất
lao động tăng nhanh, thúc đẩy chất lượng đời sống con người đi lên. Thế nhưng, do
cả quy mô sản xuất lẫn số lượng sản phẩm làm ra tăng nhanh một cách khơng thể
kiểm sốt, cần hạn chế cạnh tranh tự do, nên như một điều tất yếu chủ nghĩa tư bản
bắt buộc phải thực hiện bước chuyển mình sang chủ nghĩa tư bản độc quyền và
ngay sau đó là sang chủ nghĩa đế quốc. Khi nghiên cứu sâu vấn đề kỹ thuật, tiến bộ
kỹ thuật, Karl Marx đã chỉ ra mặt trái của nó trong xã hội tư bản “…Những thắng
lợi của kỹ thuật dường như đã được mua bằng cái giá của sự suy đồi về tinh thần”
[22, tr.10], hay Albert Einstein cũng nhận xét “sự phát triển về khoa học và kỹ
thuật đã khiến cho cuộc đấu tranh sinh tồn của con người ngày càng thêm gay gắt”

[6, tr.26] với biểu hiện rõ ràng nhất là chiến tranh thế giới thứ nhất.
Đầu thế kỷ XX, vật lý học Newton gặp thách thức to lớn. Vật lý học hiện đại
của A Einstein, L. Planck đập tan hòn đá tảng tưởng như không thể lay chuyển nổi
của vật lý học kinh điển. Các cơng thức tốn học mới ra đời phá vỡ quy luật tốn
học cổ điển. Tình hình trên làm cho người ta lo sợ trước nguy cơ của khoa học.
Nhưng cho đến những năm 30 của thế kỷ XX, từ đó trở đi thì người ta cũng hiểu ra
rằng cuộc khủng hoảng đó đã phá vỡ được phần sơ cứng của vật lý học cổ điển,
19


thúc đẩy vật lý học phát triển thêm một bước tiến mới. Với sự ra đời của định lý
bất toàn thì mọi người cũng thấy rõ hơn tính khơng thể của khoa học cho dù đó có
là một khoa học chính xác như tốn học. Những cố gắng khơng ngừng nghỉ của các
nhà khoa học, cơ bản khắc phục được những khủng hoảng trong lịng nó. Lúc này,
Husserl vẫn nói nhiều về khủng hoảng của khoa học châu Âu.
Khủng hoảng mà ông đề cập đến ở đây không đơn giản là cuộc khủng hoảng
vật lý, số học hay bản thân của bất kỳ khoa học nào mà khủng hoảng về nguồn gốc
của khoa học, là khủng hoảng của toàn bộ bầu khơng khí văn hố mà khoa học
hoạt động trong đó. Hơn ai hết, Husserl hiểu rõ cho dù Newton, Einstein, Planck
hay bất kỳ ai sau này là nhân vật tiêu biểu cho vật lý học thì vật lý học từ trước đến
nay và từ nay về sau vẫn luôn là một khoa học chính xác. Mọi người có thể phản
bác rằng sẽ khơng bao giờ có được một cấu trúc vật lý đúng tuyệt đối song đó chưa
từng là lý do ngăn cản vật lý học là môn khoa học chính xác. Cuộc khủng hoảng
ấy, khơng phải cá biệt cho một môn khoa học nào, một học thuyết cá biệt nào mà
là cuộc khủng hoảng chung, tức là khủng hoảng tính người châu Âu. Khủng hoảng
cá biệt xảy ra trong các lĩnh vực khác nhau, có những đặc trưng khác nhau nhưng
chúng vẫn ràng buộc nhau bởi cuộc sống con người. Cuộc sống con người được đề
cập tới là hoạt động sáng tạo có mục đích, sáng tạo văn hố được tiến hành trong
q trình lịch sử. Con người đánh mất tính người. Trong trạng thái mơ màng,
khơng mục đích con người khơng thể sáng tạo, cải tạo bản thân, cải tạo thế giới đã

dẫn đến sai lầm cả trong lý luận và thực tiễn. Husserl ví khủng hoảng như một con
bệnh mà triệu chứng bệnh nó biểu hiện ra là cuộc khủng hoảng khoa học. Khủng
hoảng của khoa học khơng phải ở chỗ bản thân nó được xây dựng không vững
chắc, không đồ sộ mà ở cái nền của nó xét về căn bản là khơng đạt tiêu chuẩn.
Đánh mất tính người đó là nguồn gốc thực sự cho mọi sự khủng hoảng. Và, vấn đề

20


ý thức, sự hiểu biết bản thân, hiểu biết lẫn nhau trở nên thiết yếu trong xã hội và
chính nó cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của Hiện tượng học.
1.2.2. Tiền đề tư tưởng của Hiện tượng học Husserl
Với tư cách là một triết gia, Husserl xây dựng triết thuyết của mình khi ơng
đứng trên “đơi vai của những người khổng lồ”, nhìn nhận, đánh giá và khai phá
những tri thức mới. Tiền đề tư tưởng của ông bao gồm: triết học hoài nghi của
Descates, chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm của Kant, và tư tưởng của Brentano.
Trước hết, Husserl học hỏi từ Descartes. Trong hệ thống triết học Descartes,
có hai ngun tắc để ơng đem ra khai thác, luận giải và phê phán: Một là, bất cứ
thứ gì ta biết thì phải biết một cách rõ ràng, phân minh, những gì xuất hiện một
cách trực tiếp. Hai là, những “Hiện tượng” là an toàn, là chắc chắn ở trên vì được
mang lại một cách trực tiếp, được đồng nhất với những tư tưởng, phụ thuộc vào
tâm lý của chủ thể nhận thức.
Husserl trước hết tán thành với việc nhận thức đối tượng một cách rõ ràng,
phân minh bằng con đường trực tiếp. Ơng cho rằng khơng được chấp nhận bất kỳ
một tồn tại nào như là có sẵn mà khơng có sự kiểm chứng rõ ràng minh bạch. Và
có thể hồn tồn chỉ ra được một tồn tại mà ta khơng có gì để phải nghi ngờ, được
mang lại một cách tuyệt đối, hoàn toàn rõ ràng, bất kỳ câu hỏi nào về nó đều có thể
đưa ra câu trả lời trực tiếp. Tiếp theo, Husserl đồng ý rằng đối tượng của Hiện
tượng học là những cogitations (những tư tưởng, những trạng thái tâm lý, những
hành vi và nội dung tư duy) của Tôi được mang lại một cách trực tiếp.

Tuy nhiên, Husserl cũng chỉ ra những hạn chế trong học thuyết Descartes.
Đầu tiên, Descartes coi cái Cogito (cái tôi tư duy) là cái tôi tâm lý. Husserl viết:
“Khi bắt đầu phê phán nhận thức thì tồn bộ giới tự nhiên vật lý và tâm lý, kể cả
bản ngã người của chính mình, cùng mọi ngành khoa học có quan hệ với những
21


đối tượng khách quan này, đều phải được đưa vào danh mục những điều khả vấn”
[13, tr.48]. Chừng nào vẫn cịn tồn tại cái tơi tâm lý, tức là vẫn có gì đó chưa minh
bạch hồn tồn. Với Husserl, cái Cogito của Descartes vẫn cần cần phải quy giản
nữa. Vậy “Cái tơi tư duy” mà Husserl hướng đến có gì khác biệt với Descates. Ơng
gọi đó là Tơi Hiện tượng học, cái Tôi đã được “epoché” khỏi mọi vấn đề tâm lý.
Cái Tôi Hiện tượng học chỉ là một điểm nhìn, và cái biết của nó là cái biết chắc
chắn, tuyệt đối. Cái tơi Hiện tượng học đóng vai trị như kẻ quan sát một cách
thuần túy.
Bên cạnh đó, Husserl đặt ra câu hỏi rằng “làm sao nhận thức có thể vượt ra
khỏi chính mình và được đối tượng của mình một cách đáng tin cậy” [13, tr.24].
Ơng đặt ra vấn đề về nội tại (immanenz) và siêu nghiệm (transzendenz). Đây là hai
thuật ngữ được riêng Husserl sử dụng mà khơng phải ở Descartes. Tính nội tại
thuộc về ý thức cịn siêu nghiệm là một đặc tính thiết yếu của nhiều đối tượng nhận
thức, làm sao để nhận thức được nó. Làm sao có thể nhận thức được sự nội tại là
điều dễ hiểu cịn làm sao có thể nhận thức được sự siêu nghiệm thì khơng dễ dàng.
Ơng lý giải hai thuật ngữ này theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất, nội tại và siêu
nghiệm đơn giản là ở bên trong và ở bên ngồi tâm trí, “nội tại (immanenz) có
nghĩa là nội tại một cách thực sự (reell/ really) trong trải nghiệm của nhận thức”
[13, tr.57]. Nghĩa thứ hai, nội tại có nghĩa “cái được mang lại một cách tuyệt đối và
rõ ràng, là cái tự mang lại theo nghĩa tuyệt đối” [13, tr.67]. Cịn siêu nghiệm là cái
khơng trình hiện một cách trực tiếp đích thân cho nhận thức mà cùng lắm là chỉ
được hình dung để chủ thể suy luận mới đến được đích. Rõ ràng, nếu nội tại được
hiểu theo nghĩa thứ hai và siêu nghiệm được hiểu theo nghĩa thứ nhất thì phá vỡ

rào cản khuôn khổ của Descartes về sự phụ thuộc vào cái Tơi tâm lý và có thể
tránh được thuyết duy ngã. Như vậy, đối tượng được phản ánh một cách chân xác,
tuyệt đối đáng tin cậy khơng có điều gì đáng phải nghi ngờ.
22


Husserl cũng chịu ảnh hưởng từ triết học cổ điển Đức đặc biệt là chủ nghĩa
duy tâm tiên nghiệm Kant. Kant chủ trương muốn dung hòa cả triết học duy lý và
triết học duy nghiệm truyền thống để giải quyết các vấn đề nảy sinh một cách có hệ
thống của “Bản chất” ý thức, các năng lực nhận thức của chủ thể. Kant khơng đặt
ra cho mình mục tiêu làm sáng tỏ “Bản chất” của thế giới, ông chỉ đặt ra cho mình
một mục tiêu khiêm tốn hơn là làm sáng tỏ chủ thể nhận thức có thể nhận thức
được gì và nhận thức như thế nào. Vậy, chúng ta có thể nhận thức được gì? Chúng
ta có thể nhận thức được mọi thứ trong giới hạn của nó. Kant trước sau chỉ xem xét
thế giới thông qua các hành vi và hình thức của tính chủ quan của con người. Tính
chủ quan này chính là cái mà nhờ đó thế giới mới được đem lại cho con người.
Husserl cho rằng ý thức luôn là ý thức về một cái gì đó, ý thức mang tính “tạo
dựng”, ơng coi tồn bộ thế giới hiện thực và các sự vật là do ý thức, ý đồ chủ quan
của con người sắp đặt. Nếu khơng có hành vi ý hướng của con người thì sự tồn tại
của mọi sự vật và “Hiện tượng” đều vơ nghĩa. Ơng viết: “Cả thế giới thời gian và
khơng gian, bao gồm con người và tính tự ngã của con người, xét về ý nghĩa mà
nói, là một thứ tồn tại của ý đồ. Nói thế cũng có nghĩa là, thế giới này đối với ý
thức chỉ là cái có sau, có ý nghĩa tồn tại tương đối. Nó là tồn tại của ý thức được bố
trí trong kinh nghiệm. Sự tồn tại như vậy, về nguyên tắc, chỉ là cái nhất trí trong
biểu tượng ý thức mà nhiều người có thể cảm nhận và quy định. Ngồi cái đó ra,
chẳng có gì khác” [5, tr. 485].
Tuy nhiên khi bàn đến tính chủ quan của ý thức, Husserl không đồng ý với
cách luận giải của Kant. Với Kant tri giác chủ quan khi kết hợp với các phạm trù
giác tính mới cho ra được một tri thức phổ quát và tất yếu. Những nỗ lực của Kant
không phải khơng đáng ghi nhận nhưng Kant khơng có sự quy giản Hiện tượng

học nên dưới con mắt Husserl, Kant chưa thoát khỏi các “Hiện tượng” tâm lý tự
nhiên. Và khi xem xét tính chủ quan dựa trên tâm lý tự nhiên, có thể áp dụng trong
23


nhận thức hiện thực khách quan, thế giới bên ngoài nhưng với việc nhận thức về
chính tính chủ quan liệu có cịn hợp lý. Điều kiện để nhận thức tính chủ quan lại là
tính chủ quan, nói cách khác bản thân khách thể nhận thức lại là chính điều kiện để
nhận thức khách thể ấy. Husserl cho rằng điều này là nhảm nhí. Tính chủ quan ở
Husserl thể hiện như là cơ sở thứ nhất là cái tuyệt đối mà triết học cần xuất phát từ
đó lý giải sự tồn tại của vạn vật thậm chí là cả bản thân nó. Tính chủ quan tồn tại
một cách hồn tồn đặc biệt, khơng có sẵn, khơng bộc lộ một cách trực tiếp như
khách thể mà hiện diện trong mọi hành vi nhưng lại khơng thể tách rời khỏi hành
vi, nó tạo ra bất kỳ sản phẩm nào của hoạt động con người nhưng khơng thể quy về
các sản phẩm đó, nó bao giờ cũng là khả năng nhưng không ở một sự kiện xác
định, tham gia vào các hình thức, phương pháp thực tồn nhưng không chịu sự quy
định trở lại của các hình thức, phương pháp đó. Và với tư cách là đối tượng thực
tiễn, tồn tại người là không thể thiếu quan niệm của con người về chính nó, như
vậy sự thấu hiểu tồn tại người là một trong các thành tố cấu thành nên nó.
Bước tiến lớn nhất của Husserl so với chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm Kant
là việc khám phá một cách tiếp cận đặc thù triết học chuyển từ bản thể luận siêu
nghiệm sang bản thể luận văn hóa - vạch ra và mơ tả cội nguồn văn hóa của tồn tại
người. Tính quy định văn hóa của tồn tại người là cơ sở của mọi hoạt động con
người kể cả hoạt động nhận thức, cũng là cơ sở bản thể của sự hiện sinh người.
Cách tiếp cận văn hóa, mở ra triển vọng cho việc xác định lại đối tượng và phương
pháp triết học trong triết học truyền thống. Và cũng với cách tiếp cận như vậy mà
Hiện tượng học Husserl đã trở thành cơ sở quan trọng nhất của toàn bộ triết học
phương Tây hiện đại, và vô số lĩnh vực nhân văn khác.
Bên cạnh nhị nguyên luận Descartes, chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm Kant,
thì Husserl cịn chịu ảnh hưởng trực tiếp từ người thầy của mình là Brentano.

Husserl tiếp thu quan điểm về “Tính ý hướng” và biến nó trở thành yếu tố quyết
24


định đối với Hiện tượng học. Tính ý hướng là tính chủ ý có định hướng, hoặc nói
“tơi nghĩ” thì phải nói “tơi nghĩ về vật nào đó”. Điều đó cũng có nghĩa là, ơng đã
phân biệt sự khác nhau giữa hoạt động mang “Tính ý hướng” của ý thức và đối
tượng của ý hướng. Sự phân biệt đó cho thấy rõ đằng sau nhiều biểu tượng hiển thị
trong quá trình nhận thức, cịn có “sự nhộn nhịp” của hoạt động mang “Tính ý
hướng” [xem 15]. Brentano là người ảnh hưởng nhiều nhất đến con đường triết học
của Husserl, hai tác phẩm “Về khái niệm con số” - 1887 và “Triết học của số học”
- 1891 là minh chứng cho sự ảnh hưởng của tâm lý, ơng muốn giải thích tốn học
dựa vào tâm lý.
Nhưng Husserl đã giải phóng học thuyết của mình ra khỏi chủ nghĩa tâm lý.
Khám phá ra “Bản chất” độc lập của các “Hiện tượng” (phénomène) tâm lý, sự
không phụ thuộc của chúng đối với hiện thực bên ngoài và cấu trúc thể xác, tâm
hồn con người đã đem lại một đối tượng nghiên cứu đặc biệt - nó nằm trong chính
nột tâm con người nhưng lại không phụ thuộc vào chủ thể tâm lý. Husserl đã đem
đến một cách tiếp cận khác về đối tượng nghiên cứu đặc biệt là phương pháp
nghiên cứu độc đáo - phương pháp quy giản Hiện tượng học để giải quyết các vấn
đề triết học truyền thống còn bỏ ngỏ và làm cơ sở cho nhiều trường phái triết học
phương Tây hiện đại sau này.
1.2.3. Một số nội dung cơ bản của Hiện tượng học Husserl
a. Khái niệm “Hiện tượng học”
Hiện tượng học (phénomènologie) là một trong những khuynh hướng tư
tưởng triết học có ảnh hưởng rất lớn đến tồn bộ tiến trình phát triển của triết học
phương Tây hiện đại.
Husserl đặt vấn đề như sau: “Trong tất cả các biểu hiện, nhận thức là một
biểu hiện tâm lý: đó là nhận thức của chủ thể nhận thức. Đối tượng được nhận thức
25



×