Tải bản đầy đủ (.pdf) (12 trang)

Tài liệu Nguyễn Huệ (1753 - 1792) những cột mốc lớn của một sự nghiệp anh hùng ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (404.11 KB, 12 trang )

Nguyễn Huệ (1753 - 1792) những cột mốc lớn của một
sự nghiệp anh hùng



Nguyễn Huệ: Sinh năm 1753, mất ngày 16 tháng 9 năm 1792.
Cuộc đời chỉ có 39 tuổi xuân. Nhưng 21 năm cuối của cuộc đời ấy từ tuổi 18 đến tuổi 39
(1771 - 1792), là cả một bản anh hùng ca tiêu biểu cho khí phách và sức mạnh của dân
tộc trong một thời kỳ bão táp của lịch sử.
Đây là những mốc lớn trong sự nghiệp anh hùng của Nguyễn Huệ:
- Năm 1771, 18 tuổi, cùng với anh là Nguyễn Nhạc phất cờ khởi nghĩa, xây dựng căn cứ
đầu tiên ở Tây Sơn thượng đạo.
- Từ năm 1773 đến năm 1783, với chức vụ Tây Sơn hiệu Tiền phong tướng quân rồi Phụ
chính, rồi Long Nhượng tướng quân trong bộ chỉ huy nghĩa quân, đã lập nhiều chiến
công oanh liệt trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Đó là trận
Phú Yên năm 1775 - 22 tuổi, các trận tiến công vào Gia Định năm 1777 - 24 tuổi, năm
1782 - 29 tuổi, năm 1783 - 30 tuổi.
- Năm 1785, 32 tuổi, lãnh đạo cuộc phản công chiến lược quét sạch 5 vạn quân xâm lược
Xiêm ra khỏi Gia Định, lập nên chiến công Rạch Gầm - Xoài Mút nổi tiếng, trong một
ngày tiêu diệt gần 4 vạn quân Xiêm cùng hàng ngàn quân Nguyễn Ánh.
- Năm 1786, 33 tuổi, chỉ huy cuộc tiến công ra Đàng Ngoài, phế bỏ chế độ vua Lê chúa
Trịnh, chấm dứt tình trạng chia cắt kéo dài trên hai thế kỷ, bước đầu lập lại nền thống
nhất quốc gia.
Năm 1789, 36 tuổi, với cương vị Hoàng đế Quang Trung, lãnh đạo cuộc kháng chiến
chống Thanh, đại phá 29 vạn quân xâm lược Thanh cùng vài vạn quân Lê Chiêu Thống,
lập nên chiến công Ngọc Hồi - Đống Đa vang dội. Riêng trong trận quyết chiến chiến
lược này, dưới sự chỉ huy của Quang Trung, quân Tây Sơn đã tiêu diệt khoảng 5 vạn
quân Thanh trong buổi sáng ngày 5 tết Kỷ Dậu (ngày 30-l-1789). “Trẫm trỏ cờ lệnh, chỉ
trong một trận, quét sạch lũ các ngươi như kiến cỏ. Thua một trận, lũ các ngươi bị chết và
bị thương hàng vạn”. Đó là lời tuyên bố của Quang Trung trong một tờ chiếu gửi bọn tù
binh quân Thanh ngay sau khi cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi.


- Sau khi thù trong giặc ngoài đã bị đánh bại về cơ bản, Quang Trung lo tập trung mọi nỗ
lực của chính quyền mới vào công cuộc xây dựng lại đất nước. Trước hết Quang Trung
chủ trương nhanh chóng lập lại quan hệ bang giao với nhà Thanh rồi ban hành nhiều
chính sách tích cực nhằm phục hồi nông nghiệp, phát triển kinh tế hàng hóa và mở mang
giáo dục, văn hóa. Chiếu khuyến nông và Chiếu lập học là hai văn bản nhà nước thể hiện
rõ nhận thức và những giải pháp bức xúc của Quang Trung trên hai lĩnh vực trọng yếu
này. Đồng thời Quang Trung cũng rất coi trọng việc củng cố quốc phòng và trấn áp các
thế lực chống đối ở trong nước. Năm 1791, một âm mưu chống phá của Lê Duy Chỉ ở
Cao Bằng được phong kiến Xiêm và Nguyễn Ánh hỗ trợ bị đập tan. Năm 1792, Quang
Trung chuẩn bị một cuộc tấn công lớn vào Gia Định nhằm tiêu diệt thế lực Nguyễn Ánh
được tư bản Pháp ủng hộ mà ông coi là “cái thây ma Gia Định” và tuyên bố “đánh bại
quân giặc dễ như bẻ gãy cành khô củi mục”, thu hồi lại các vùng đất phía nam “trong
nháy mắt” (Hịch gửi quan lại và quân dân hai phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn). Ngày 10-7
năm Quang Trung thứ 5 (27-8- 1792), Quang Trung đã truyền hịch kêu gọi nhân dân hai
phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn tham gia, hưởng ứng cuộc tiến công qui mô lớn này, nhưng
chiến dịch chưa kịp thực hiện thì ngày 29-7 năm đó (giờ tý tức nửa đêm ngày 15 sang
ngày 16 tháng 9 năm 1792) Quang Trung từ trần đột ngột. Thời gian canh tân dựng nước
quá ngắn ngủi (1789- 1792) nên sự nghiệp của người anh hùng đành dang dở, để lại một
tổn thất lớn lao cho lịch sử Tây Sơn và cho cả dân tộc.
Người khởi xướng và thủ lĩnh đầu tiên của khởi nghĩa Tây Sơn là Nguyễn Nhạc. Nhưng
nhìn toàn bộ lịch sử Tây Sơn thì Nguyễn Huệ là người thủ lĩnh kiệt xuất nhất của phong
trào Tây Sơn, tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn liền với quá trình phát triển và thắng lợi
của phong trào nông dân và dân tộc rộng lớn đó. Nguyễn Huệ đã đưa phong trào Tây Sơn
vượt qua mọi gian nguy, thử thách, đạt đến đỉnh thắng lợi cao nhất của một phong trào
nông dân - phong trào dân tộc trong bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ XVIII của đất nước. Từ
một anh hùng nông dân, Nguyễn Huệ đã trở thành một anh hùng dân tộc có công lớn
trong sự nghiệp thống nhất đất nước và bảo vệ độc lập dân tộc
.
Quang Trung - Nguyễn Huệ trước hết là một nhà quân sự thiên tài. Cả cuộc đời chiến đấu
đánh bại biết bao thù trong giặc ngoài, người anh hùng đó chỉ có thắng, chưa hề thua.

Trong bài hịch gửi hai phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi năm 1792, Quang Trung đã từng tự
hào nhắc lại những chiến công nối tiếp chiến công: “Nơi đâu ta đã kéo quân đến là kẻ thù
đều bị đánh cho thất
bại và tan tác. Nơi đâu ta đã mở rộng chinh chiến là quân Xiêm và
quân
Thanh tàn bạo đều phải quy hàng. Về phận cái triều đình cũ còn rơi rớt kia (chỉ
Nguyễn Ánh) thì từ hơn ba mươi năm nay, ta chưa hề thấy chúng làm được điều gì hay.
Trong hơn năm trận giao tranh với ta, binh lính của chúng đều đã bị đánh cho tan tác,
tướng tá của chúng đều bị giết chết, đất Gia Định đã đầy rẫy xương khô của bọn chúng.
Các người đã từng được chứng kiến những điều ta nói, nếu chưa được nhìn tận mắt thì ít
ra cũng được nghe tận tai rồi”.
Phát huy sức mạnh quật khởi của nông dân kết hợp với sức mạnh yêu nước đoàn kết của
cả dân tộc, Quang Trung Nguyễn Huệ đã đưa phong trào Tây Sơn đến những đỉnh thắng
lợi cao nhất trong hoàn cảnh lịch sử lúc đó và phát triển nghệ thuật quân sự truyền thống
của nước ta lên một trình độ mới. Nét nổi bật nhất trong nghệ thuật quân sự của Quang
Trung Nguyễn Huệ là tinh thần tiến công liên tục mãnh liệt và lối đánh hết sức thần tốc
bất ngờ. Chính đối phương cũng phải thừa nhận, quân Tây Sơn “hành binh như bay, tiến
quân rất gấp… đi lại mau chóng vùn vụt như thần, chống không thể được, đuổi không thể
kịp” và “ẩn hiện như quỷ thần, tướng như trên trời rơi xuống, quân như dưới đất chui
lên” (Hoàng Lê nhất thống chí).
Cũng như các anh hùng dân tộc khác của ta, Nguyễn Huệ không chỉ là một thiên tài quân
sự đơn thuần. Sự nghiệp và tài năng của Nguyễn Huệ còn bao quát nhiều lĩnh vực chính
trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao.
Trong khởi nghĩa, Nguyễn Huệ thực hiện khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho dân
nghèo” để cổ vũ và tập hợp đông đảo quần chúng nông dân nghèo khổ. Khi tiến quân ra
Bắc Hà, ông nêu danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh” để phân hóa và cô lập kẻ thù. Sau khi
chính quyền mới được thành lập, Quang Trung đề ra hàng loạt chính sách và biện pháp
tích cực nhằm canh tân dựng nước, nhanh chóng phục hồi kinh tế, tăng cường sức mạnh
quốc phòng và mở mang văn hóa dân tộc. Trong quan hệ với nhà Thanh, Quang Trung
cũng áp dụng nhiều biện pháp ngoại giao mềm mỏng nhưng rất kiên quyết để bảo vệ độc

lập chủ quyền và giữ gìn mối bang giao hòa bình giữa hai nước.
Tất cả những hoạt động đối nội, đối ngoại đó chứng tỏ ý chí độc lập, tự chủ mạnh mẽ,
tầm mắt nhìn xa thấy rộng và năng lực tổ chức tài giỏi của Quang Trung - Nguyễn Huệ.
Từ tuổi 18 đến tuổi 39, Nguyễn Huệ đã cống hiến tất cả tài năng, nghị lực của mình cho
cuộc đấu tranh kiên cường vì lợi ích của nhân dân
“tưới mưa dầm kẻo cùng dân sa chốn
lầm than” (Hịch đánh Trịnh, 1786), “quét trừ loạn lạc, cứu dân trong vòng nước lửa”
(Chiếu lên ngôi), vì độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia “bỗng xui thế nước tranh ba,
tôi nhà Hạ phải thu hồi hai nước” (Hịch đánh Trịnh, 1786), “đánh cho sử tri Nam quốc
anh
hùng chi hữu chủ” (Hiệu dụ quân sĩ ở Thọ Hạc). Cuộc đời và sự nghiệp của Quang
Trung - Nguyễn Huệ là một bản hùng ca tuyệt vời mà công chúa Ngọc Hân, Bắc Cung
hoàng hậu của hoàng đế Quang Trung, một nữ sĩ tài hoa của văn học thế kỷ XVIII, đã
hiểu và nhìn nhận rất đúng:
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước xiết bao công trình.
(Ngọc Hân, Ai tư vãn)
Quê hương và gia đình
Tất cả các anh hùng dân tộc của ta đều gặp nhau ở lòng yêu nước, thương dân tha thiết,
chí cả tài cao về nhiều mặt. Nhưng mỗi người trong bối cảnh lịch sử cụ thể của cuộc sống
và thời đại, có dáng vẻ riêng và con đường hình thành, phát triển khác nhau.
Quê hương của Nguyễn Huệ thế kỷ XVIII là vùng đất phía tây của phủ Quy Nhơn được
gọi chung là Tây Sơn gồm Tây Sơn Thượng Đạo (An Khê, Gia Lai) và Tây Sơn Hạ Đạo
(Tây Sơn, Bình Định). Tổ tiên vốn họ Hồ ở Nghệ An. Hiện nay ở chân núi Đài Phong
gần núi Đài Hải thuộc làng Thái Lão, huyện Hưng Nguyên, còn một khu đất bằng phẳng
tương truyền là mộ tổ anh em Tây Sơn. Khoảng giữa thế kỷ XVII, tổ bốn đời của Nguyễn
Huệ bị quân Nguyễn bắt vào Đàng Trong và cùng với các tù binh Đàng Ngoài, chia đi
khai phá theo chính sách khai hoang lập làng của chúa Nguyễn. Ấp Tây Sơn gồm ấp Nhất
(thôn An Lũy, xã Phú An) và ấp Nhì (thôn Cửu An, huyện An Khê, tỉnh Gia Lai) thuộc
vùng Tây Sơn Thượng Đạo là thành quả khai hoang và là quê hương đầu tiên của tổ tiên

anh em Tây Sơn trên đất Đàng Trong. Đến đời cha là Hồ Phi Phúc thì dời về quê vợ ở
Phú Lạc, ấp Kiên Thành (xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, Bình Định) thuộc vùng Tây
Sơn Hạ Đạo. Ở đây còn di tích Gò Lăng tương truyền là vườn nhà, nền nhà và lăng mộ
của tổ tiên Tây Sơn. Gần đây, bảo tàng Quang Trung đã tìm thấy lăng và bia về phía đông
Gò Lăng trên một cánh đồng xưa kia cây cối um tùm. Lăng hình voi phục và bia bị
chuyển khỏi lăng, nằm cách lăng khoảng 15m
. Văn bia bị đục khoét một số chữ nhưng
vẫn có thể đọc được dòng chữ giữa bia “Việt Cố Hoàng Hiển Tổ Khảo Cương Nghị Mưu
Lược Minh Triết Công chi lăng” với niên đại “Tuế thứ Kỷ Hợi trọng xuân cốc nhật” bên
phải và dòng chữ “Ngự chế” bên trái. Rõ ràng đây là lăng ông nội của anh em Tây Sơn và
do Nguyễn Nhạc dựng năm Kỷ Hợi 1779, mùa xuân tháng 2 âm lịch. Năm Mậu Tuất
(1778) Nguyễn Nhạc đã xưng đế, đặt niên hiệu Thái Đức nên văn bia ghi “Ngự chế”. Tại
núi Ngang (Hoành Sơn) gần Phú Lạc có hai hố huyệt tương truyền là lăng mộ của ông bà
Hồ Phi Phúc - Nguyễn Thị Đồng, cha mẹ của ba anh em Tây Sơn.
Sau một thời gian trú ngụ tại quê vợ, Hồ Phi Phúc lại chuyển cư về ấp Kiên Mỹ bên bờ
sông Côn (nay là khối I, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, Bình Định) vừa khai hoang
làm ruộng vừa buôn bán. Qua bốn đời, khoảng hơn một thế kỷ, dòng dõi anh em Tây Sơn
đã di chuyển quê hương bốn lần: từ Nghệ An vào khai hoang lập ấp ở Tây Sơn Thượng
Đạo rồi chuyển về Phú Lạc, Kiên Mỹ ở Tây Sơn Hạ Đạo. Tây Sơn Thượng Đạo và Hạ
Đạo, quê hương của Nguyễn Huệ là vùng giáp ranh giữa núi rừng Tây Nguyên và đồng
bằng. Cư dân ở đó lúc bấy giờ phần đông là đồng bào Thượng, chủ yếu là người Ba Na,
vốn quen sống tự do, phóng khoáng và một số nông dân miền xuôi bị phá sản lên khai
hoang, buôn bán, làm ăn. Người Kinh, người Thượng sống xen kẽ, có nhiều quan hệ giao
lưu kinh tế, văn hóa mật thiết. Điều kiện thiên nhiên và cuộc sống đã rèn luyện nhân dân
vùng này nhiều đức tính quý như lòng dũng cảm, chí bất khuất, truyền thống trọng võ
...
Ai qua đây mà không nghe câu ca dao phổ biến:
Ai vào Bình Định mà coi,
Con gái cũng biết đánh roi đi quyền.
Quanh đấy, An Vinh, An Thái, Thuận Thuyền... là những lò võ nổi tiếng:

Roi Thuận Thuyền, quyền An Thái
Trai An Thái, gái Thuận Thuyền
Riêng ấp Kiên Mỹ, quê hương trực tiếp của Nguyễn Huệ, là một thôn ấp có điều kiện
giao thông thủy bộ thuận lợi và kinh tế nông-công-thương tương đối phát triển. Nằm bên
tả ngạn sông Côn và dưới chân đèo An Khê, từ Kiên Mỹ có thể qua đèo An Khê hay
ngược sông Côn lên Tây Nguyên bao la, cũng có thể xuôi sông Côn hay theo đường bộ
qua An Thái xuống An Nhơn tỏa khắp vùng đồng bằng ven biển Quy Nhơn. Vì vậy, cư
dân Kiên Mỹ vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề thủ công và buôn bán. Hiện nay
Kiên Mỹ còn dấu tích ba đập nước cổ còn đang sử dụng là đập Thủy Làng, đập Lỗ Ổi và
đập Văn Phong. Tên bẩy xóm của Kiên Mỹ phản ánh khá rõ nét cơ cấu kinh tế và nghề
nghiệp thôn ấp này: xóm Rèn (Hưng Nguyên), xóm Trầu (Hưng Hòa), xóm Đậu (Hưng
Hòa), xóm Bún (Hưng Bửu), xóm Chợ (Hưng Trung), xóm Ươm (Hưng Hóa), xóm Mía
(Hưng Thạch). Mỗi xóm mang tên một nghề thủ công hoặc buôn bán. Xóm Rèn ngày xưa
còn có tên xóm Lò Giấy hay xóm Giấy. Xóm Trầu có bến Trường Trầu bên bờ sông Côn
là một bến chợ chuyên buôn bán trầu, giữ vai trò trung chuyển trong quan hệ giao lưu
giữa miền đồng bằng và núi rừng Tây Nguyên, trầu cau từ Tây Nguyên chuyển về đây rồi
muối, đồ sắt, hải sản từ đây chuyển lên miền núi. Xóm Chợ có chợ Kiên Mỹ là một chợ
lớn trong vùng, mỗi tháng họp sáu phiên, cư dân có cả người Minh Hương (người Việt
gốc Hoa từ lâu đời).
Kiên Mỹ là một làng nông-công-thương khá phát triển trên một địa bàn mang tính giao
tiếp rộng rãi giữa đồng bằng và Tây Nguyên, giữa người Thượng và người Kinh.
Sau khi vương triều Tây Sơn thất bại, nhà Nguyễn đã tịch thu số ruộng đất của gia đình
Tây Sơn ở Kiên Mỹ là 4 mẫu 5 sào sung làm quan điền
(1)
. Đây là sở hữu của loại nông
dân khá giả, sống bằng nghề nông kết hợp với buôn bán. Nguyễn Nhạc đã từng buôn trầu
và nhân dân trong vùng quen gọi là
Anh Hai Trầu và có thời gian làm Biện lại, là một
nhân viên thu thuế ở tuần Vân Đồn. Nguyễn Huệ còn có tên là Thơm nên thường gọi là
Chú Ba Thơm. Nguyễn Lữ được gọi là Thầy Tư Lữ vì có thời gian đi tu. Qua cách gọi này

có thể xác định lại Nguyễn Huệ là con trai thứ hai, chứ không phải là con trai út như
chính sử triều Nguyễn ghi chép
(2)
.
Từ nhỏ, ba anh em Tây Sơn đều được đi học, vừa học văn vừa học võ. Người thấy học
đầu tiên là thầy giáo Hiến, vốn là môn khách của Nội hữu Trương Văn Hạnh đã bị quyền
thần Trương Phúc Loan giết hại, nên bất bình bỏ về An Thái (Nhơn Húc, An Nhơn, Bình
Định) mở trường dạy học. Tinh thần chống đối bọn quyền thần của ông đã ảnh hưởng
nhiều đến sự hình thành tư tưởng và chí hướng chính trị của anh em Tây Sơn. Sau đó, ba
anh em Tây Sơn còn về Bàng Châu (Đập Đá, An Nhơn, Bình Định) học võ với võ sư
Đinh Văn Nhưng mà nhân dân trong vùng quen gọi là ông Chảng. Đó là một người yêu
nước, trọng nghĩa, tính khí ngang tàng mà cho đến nay, những câu nói quen thuộc như

×