Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Tài liệu Thuốc điều trị thiếu máu trong suy thận mạn ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (197.21 KB, 7 trang )

Thuốc điều trị thiếu máu
trong suy thận mạn

Điều trị cho bệnh nhân suy thận mạn.
Thiếu máu là một triệu chứng quan trọng trong biểu hiện mức độ suy
thận. Suy thận càng nặng thì thiếu máu càng nhiều. Điều trị thiếu máu là một
trong các biện pháp tổng hợp điều trị bảo tồn suy thận mạn.
Tại sao khi bị suy thận mạn bệnh nhân có thiếu máu?
Khi bị bệnh thận mạn tính, lượng các nephron chức năng nguyên vẹn giảm
dần từ đó dẫn đến:
- Giảm chức năng ngoại tiết của thận. Nồng độ urê, creatinin, acid uric và
các sản phẩm của quá trình dị hóa protein trong máu tăng. Có thể coi đây là các
nội độc tố làm cho đời sống hồng cầu giảm, tan huyết.
- Giảm chức năng nội tiết của thận. Các tế bào quanh ống thận giảm sản
xuất erythropoietin (EPO). Nội tiết tố này kích thích cấu tạo hồng cầu từ giai đoạn
tiền nguyên hồng cầu đến hồng cầu non.
- Thiếu sắt, acid folic, các vitamin, protein là các nguyên liệu góp phần cấu
tạo hồng cầu do cung cấp không đủ hoặc kém hấp thu do bệnh đường tiêu hóa.
Trong quá trình điều trị thiếu máu do suy thận mạn cần theo dõi
những gì?
Để đánh giá kết quả điều trị thiếu máu cần nắm được các diễn biến:
Về lâm sàng: màu sắc da và niêm mạc, tình trạng phù và tăng huyết áp, các
biểu hiện ngoài thận ở đường tiêu hóa (nôn, ợ chua, đi lỏng, phân đen...).
Về cận lâm sàng:
Đánh giá chức năng thận qua xét nghiệm urê, creatinin huyết, từ đó ước
tính mức lọc cầu thận.
Các chỉ số huyết học: số lượng hồng cầu; nồng độ huyết cầu tố; thể tích
hồng cầu; hồng cầu lưới; tỷ lệ hồng cầu nhược sắc.
Nồng độ sắt huyết thanh.
Nồng độ ferritin huyết thanh.
Độ bão hòa transferrin huyết thanh.


Các thông tin trên ở các thời điểm trước, trong điều trị với các thuốc có tầm
quan trọng để xác định liều tấn công, duy trì hoặc ngừng thuốc.
Các thuốc điều trị thiếu máu do suy thận mạn
Dựa vào các cơ chế gây thiếu máu trong suy thận mạn, hai loại nhóm thuốc
được sử dụng điều trị tùy theo mức độ suy thận và tình trạng thiếu máu đó là:
Sắt bao gồm sắt dùng theo đường uống, sắt dùng theo đường tiêm tĩnh
mạch. Sắt dùng theo tiêm bắp ít sử dụng.
Thuốc có sắt dùng theo đường uống thường dùng sắt hóa trị 2 có thêm acid
folic hoặc vitamin C dưới dạng viên, gói hoặc dung dịch. Ví dụ: Fe-Folic,
Ferimax, Ferrovit, Feryfol, Ferrogreen, Ferrograd, Feroplex, Fumafer-B9,
Tardyferon-B9.
Liều dùng từ 50-100mg/ngày chia 2 lần. Nên uống trước bữa ăn. Các thuốc
trên có tác dụng ở giai đoạn suy thận nhẹ và vừa, ít tác dụng khi đã suy thận nặng.
Tác dụng không mong muốn của thuốc có sắt dùng theo đường uống là rối
loạn tiêu hóa, táo bón, phân màu nâu đen.
Thuốc có sắt dùng theo đường tĩnh mạch. Các dược phẩm thường dưới
dạng sắt - dextran, sắt - gluconat, sắt - sucrose. Hiện nay trên lâm sàng hay sử
dụng venofer là sắt - sucrose (ferrioxidum saccharafum) vì hiệu quả tốt và ít tác
dụng không mong muốn. Venofer có chỉ định bắt buộc khi đang điều trị với EPO.
Khi dùng pha venofer với dung dịch dextran hoặc dung dịch NaCl 0,9% để
truyền tĩnh mạch trong 30 phút. Khi truyền cần được theo dõi cẩn thận.
Liều dùng venofer phụ thuộc vào tuổi, giới, giai đoạn suy thận, chưa lọc
ngoài thận, đang lọc máu chu kỳ hoặc lọc màng bụng ngoại trú liên tục với liều tấn
công, liều duy trì.
Ngoài venofer còn có maltofer (hydroxyt ferric polymaltose). Trong quá
trình điều trị bằng sắt cần theo dõi và phát hiện quá tải sắt hoặc nhiễm sắt để quyết
định tăng, giảm liều hoặc ngừng.
Erythropoietin người tái tổ hợp (rHuEPO).
Từ năm 1988 rHuEPO được áp dụng trên thế giới để điều trị thiếu máu do
suy thận mạn. Đây là một phát minh lớn của y học trong thế kỷ XX. Người bệnh

bị suy thận mạn được điều trị thiếu máu với rHuEPO sẽ được cải thiện chất lượng
cuộc sống, giảm số lần nằm viện trong năm, giảm thời gian nằm viện từng đợt
cũng như làm chậm diễn biến nặng của bệnh.
Hiện nay có các loại EPO:
- rHuEPO: EPO alpha (epogen, eprex, epokine); EPO beta (neoRecormon).
Các thuốc trên được đóng trong các lọ nhỏ có sẵn bơm tiêm với hàm lượng
1.000UI hoặc 2.000UI, 3.000UI, 4.000UI, 10.000UI được bảo quản ở nhiệt độ
20oC ổn định vì là một sinh phẩm.
- Darbepoietin alpha (aranesp. 1mcg = 200UI đến 220UI) Aranesp được sử
dụng nhiều ở các nước Âu, Mỹ. Ở Việt Nam chưa có kinh nghiệm về thuốc này.
EPO được chỉ định cho các bệnh nhân bị suy thận mạn giai đoạn 3, 4 chưa
lọc ngoài thận hoặc đang lọc máu chu kỳ, lọc màng bụng ngoại trú liên tục hoặc đã
ghép thận có nồng độ huyết cầu tố dưới 100g/l. EPO không dùng trong các trường
hợp có suy tim, tăng huyết áp không khống chế được.
Đường dùng EPO được chọn:
Dưới da: Trong điều trị bảo tồn suy thận chưa lọc ngoài thận, trong lọc
màng bụng ngoại trú liên tục và sau ghép thận.
Tĩnh mạch: Khi kết thúc các buổi lọc máu trong chạy thận nhân tạo chu kỳ.

×