Tải bản đầy đủ (.doc) (93 trang)

Giáo án dạy học tác phẩm văn chương ở trường THPT hiện nay luận văn tốt nghiệp đại học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (378.31 KB, 93 trang )

bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh

giáo án dạy học tác phẩm văn chơng
ở trờng thpt hiện nay

khóa luận tốt nghiệp đại học
chuyên ngành: phơng pháp dạy học văn

Giáo viên hớng dẫn

:

ths. lê sử

Sinh viên thực hiện

:

mai thị lu

Lớp

:

48A - Ngữ Văn

Vinh - 2011


Lời cảm ơn


Trong quá trình học tập ở trường Đại học Vinh, tôi đã tiếp thu được những
tri thức quý báu của các thầy cô giáo trong khoa ngữ văn. Khóa luận này được
hồn thành ngồi sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tơi cịn nhận được sự giúp
đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn ThS. Lê Sử, những ý kiến đóng góp của
các thầy cơ giáo trong khoa Ngữ văn và sự động viên của bạn bè. Nhân dịp
này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo hướng dẫn, cùng tất cả các
thầy cô trong khoa Ngữ văn và bạn bè đã giúp tôi hồn thành khóa luận này./
Vinh, tháng 5 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Mai Thị Lưu

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT


SGK :

Sách giáo khoa

GV

:

Giáo viên

HS

:

Học sinh


THPT :

Trung học phổ thông

Nxb :

Nhà xuất bản


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU .......................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài …………………………………………………............1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ……………………………………………….2
3. Đối tượng nghiên cứu ……………………………………………………3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ……………………………………………………3
5. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………………...4
6. Cấu trúc của khóa luận ……………………………………………..........4
Chương 1: GIÁO ÁN DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG Ở NHÀ
TRƯỜNG THPT ………………………………………………………….5
1.1. Khái niệm giáo án ………………………………………………….....5
1.2.

Vai

trò

của

giáo


án

dạy

học

tác

phẩm

văn

chương

……………………………………………………………………………....6
1.3. Giáo án giảng văn truyền thống và giáo án dạy học tác phẩm văn
chương ………………………………………………………. …………...8
1.3.1. Giáo án giảng văn truyền thống ……………………………………..8
1.3.1.1. Cơ chế dạy học văn cũ ………………………………………….....8
1.3.1.2. Giáo án giảng văn truyền thống …………………………………..11
1.3.2. Giáo án dạy học tác phẩm văn chương hiện nay .………………….14
1.3.2.1. Cơ chế dạy học văn mới ………………………………………… 14
1.3.2.2. giáo án dạy học tác phẩm văn chương hiện nay ………………….18
1.4. Thực trạng thiết kế giáo án ở trường THPT hiện nay ……………22
Chương 2: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ PHƯƠNG PHÁP VẬN DỤNG
ĐỂ THIẾT KẾ GIÁO ÁN DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG Ở
TRƯỜNG THPT HIỆN NAY ……………………………………………25
2.1. Đặc trưng của phần đọc hiểu văn bản……………………………….25



2.1.1. Khái quát phần đọc hiểu văn bản trong chương trình Ngữ
văn…………………………………………………………………………..25
2.1.2. Các văn bản được sắp xếp theo cụm thể loại ………………………..25
2.1.3. Cấu trúc đơn vị bài học phần đọc hiểu ………………………………26
2.1.4. Ngồi văn bản văn học chương trình còn đua thêm nhiều kiểu văn bản
văn học khác như nhật dụng - thuyết minh- nghị luận ……………………..27
2.2. Một số định hướng để chiếm lĩnh một tác phẩm văn chương và thiết
kế giáo án …………………………………………………………………..27
2.2.1. Điều kiện để giáo viên thay đổi cách chiếm lĩnh một tác phẩm văn
chương và thiết kế giáo án ……………………………………………….....27
2.2.2. Một số định hướng cơ bản để thiết kế giáo án dạy học tác phẩm văn
chương ………………………………………………………………….......29
2.2.2.1. Nắm vững đặc trưng từng thể loại và thiết kế giáo án
………………………………………………………………………………29
2.2.2.2. Giáo viên phải tập trung thiết kế các tình huống học tập cho học sinh
………………………………………………………………………………42
2.2.2.3. Bám sát văn bản, SGK để thiết kế giáo án ………………………...46
2.3. Một số phương pháp vận dụng thiết kế giáo án dạy học tác phẩm văn
chương …………………………………………………………………......48
2.3.1. Phương pháp gợi mở ………………………………………………...48
2.3.2. Phương pháp nêu vấn đề …………………………………………….53
2.3.3. Phương pháp tổ chức nhóm …………………………………………57
Chương

3:

THIẾT

KẾ


GIÁO

ÁN

THỂ

NGHIỆM

………………………………………………………………………………61
Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài ………………………………………………...62
Từ ấy ……………………………………………………………………....74
KẾT LUẬN …………………………………………………………….....85
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………….86


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay khi nhân loại bước vào nền kinh tế tri thức phát triển cao.
Đảng và Nhà nước coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, phấn đấu cho mục tiêu
“nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” thì vấn đề nâng cao
chất lượng hiệu quả giáo dục nói chung và giáo dục bộ mơn Văn nói riêng
được đặt ra cấp thiết.
Bên cạnh phân mơn Tiếng Việt, Làm văn thì phần đọc hiểu cũng có
một vị trí quan trọng trong nền văn học. Nhìn nhận vấn đề dạy và học phần
đọc hiểu văn bản từ góc độ vai trị của người giáo viên. Theo chúng tôi việc
thiết kế giáo án là một trong những hướng tiếp cận có thể mang lại nhiều ý
nghĩa trong quan niệm về vai trò của người giáo viên và học sinh trong giờ
giảng văn. Quan niệm đúng đắn về vấn đề này sẽ là một tiền đề quan trọng
cho việc đề xuất phương pháp dạy học văn một cách hiệu quả, đáp ứng yêu

cầu và nhiệm vụ của môn văn trong nhà trường phổ thông hiện nay.
Mặt khác, xuất phát từ vai trò của giáo án. Giáo án có vai trị rất quan
trọng đối với tiến trình dạy và học văn. Nó định hướng cho giờ học. Giúp giáo
viên có sự chủ động nắm bắt kiến thức, làm chủ tri thức để truyền thụ và
hướng dẫn học sinh tìm hiểu thâm nhập sâu vào tác phẩm. Qua đó rèn luyện
năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh.
Hiện nay nhiều giáo viên phổ thông vẫn xem nhẹ việc soạn giáo án,
không ý thức được vai trị quan trọng của giáo án nên khơng có sự chú trọng
và đầu tư vào việc thiết kế giáo án. Vì thế dễ làm cho giáo viên hồn tồn
khơng có sự chủ động về kiến thức, còn học sinh sẽ chán học văn dẫn tới chất
lượng giờ học sẽ bị kém.


Việc nghiên cứu thiết kế giáo án đã được một số nhà nghiên cứu quan
tâm. Tuy nhiên, các cơng trình vẫn cịn ít và mới chỉ là những vấn đề lý thuyết
rất chung chung ở dạng ý tưởng, hoặc các tác giả đưa ra những giáo án mẫu,
giáo án cụ thể mà chưa đề xuất được những biện pháp, phương pháp cụ thể để
thiết kế giáo án. Vì vậy vơ hình trung giáo viên chỉ thụ động bám vào những
giáo án soạn sẵn mà không hề nghiên cứu đào sâu tìm tịi khi thiết kế giáo án.
Với đề tài này, chúng tôi cố gắng làm nổi bật một số định hướng và
một số phương pháp cụ thể được áp dụng trong thiết kế giáo án theo cơ chế
dạy học văn mới, giúp giáo viên có những định hướng và khơng quá thụ động
vào giáo án mẫu khi thiết kế giáo án. Mặt khác, là một giáo viên tương lai, tôi
ý thức được tính chất khó khăn phức tạp của hoạt động giảng dạy bộ mơn văn
nói chung và việc thiết kế giáo án nói riêng. Từ đó chúng tơi cố gắng tìm tịi
những phương pháp thích hợp cho việc thiết kế giáo án mới. Đồng thời việc
lựa chọn đề tài này sẽ giúp tơi có được những kiến thức về phương pháp nói
chung và cách thiết kế giáo án nói riêng trong môn Ngữ văn để tổ chức giảng
dạy giờ đọc hiểu văn bản được tốt hơn.
Hy vọng với đề tài này nó sẽ góp thêm một tiếng nói nhỏ bé trong việc

giúp giáo viên thiết kế giáo án .
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có thể nói việc nghiên cứu thiết kế giáo án vẫn là một vấn đề mới mẻ,
và cịn là một bài tốn nan giải. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn dành được sự quan
tâm nghiên cứu của một số tác giả. Trước hết phải kể đến tác giả Phan Trọng
Luận trong cơng trình Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường
THPT (tập 1, 2). Ở chuyên luận này tác giả đã dành cho việc trình bày lý
thuyết về phương pháp dạy học văn trong thời kỳ hiện đại, khảo sát sơ qua về
mơ hình thiết kế giáo án kiểu cũ và đặt ra những yêu cầu thiết kế giáo án theo
cơ chế dạy học văn mới. Đồng thời ở chuyên luận này tác giả đã dành một
phần lớn cho việc thiết kế giáo án thể nghiệm. Thiết kế những giáo án mẫu cụ


thể. Tuy nhiên ở cơng trình này, ở phần lý thuyết tác giả mới chỉ đưa ra vấn
đề và dừng lại ở những ý tưởng mà chưa có những định hướng cụ thể và chưa
mang tính chất gợi mở nhiều. Cịn phần thiết kế giáo án thể nghiệm ơng vẫn
chưa áp dụng được đa dạng các phương pháp.
Tiếp theo Đỗ Ngọc Thống trong chuyên luận Tìm hiểu chương trình và
sách giáo khoa Ngữ văn THPT đã cung cấp cho giáo viên một số định hướng
và đưa ra một số mô hình giáo án thử nghiệm
Ngồi ra trong bộ sách Thiết kế bài giảng (Nguyễn Văn Đường chủ
biên), Thiết kế giáo án (Nguyễn Hải Châu chủ biên) cũng đã đề cập tới giáo
án. Tuy nhiên các bộ sách này chưa đề xuất những định hướng, những
phương pháp chung cho việc thiết kế giáo án dạy học tác phẩm văn chương ở
trường phổ thơng mà nó mới chỉ dừng lại hướng dẫn giáo viên các bài thiết kế
cụ thể.
Nhìn chung các cơng trình nghiên cứu nêu trên đã có những đóng góp
khá quan trọng cho giáo viên thiết kế giáo án dạy học tác phẩm văn chương ở
trường phổ thông hiện nay. Tuy nhiên các cuốn sách vẫn còn tồn tại những
hạn chế nhất định, chưa đưa ra những định hướng chung và các phương pháp

giúp giáo viên thiết kế giáo án. Vì thế chúng chưa trở thành những tài liệu có
ý nghĩa chỉ đạo chung về mặt nguyên tắc để định hướng cho việc thiết kế giáo
án dạy học tác phẩm văn chương ở trường phổ thông.
Như vậy lịch sử nghiên cứu của đề tài giáo án dạy học tác phẩm văn
chương ở trường THPT cịn khá mới mẻ. Chính vì vậy khóa luận của chúng
tơi hứa hẹn sẽ cung cấp hướng đi mới trong việc thiết kế giáo án dạy học tác
phẩm văn chương ở trường phổ thông hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu
Ở khóa luận này, chúng tơi đi sâu tìm hiểu vấn đề Giáo án dạy học tác
phẩm văn chương ở trường THPT trên một số phương diện định hướng và
phương pháp thiết kế giáo án hiện nay.


4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Do đề tài này là một đề tài vốn khá mới và có ý nghĩa lớn trong hoạt
động dạy học văn nói chung và việc thiết kế giáo án cho giáo viên hiện nay
nói riêng. Nên tiến hành đề tài này chúng tôi sẽ thực hiện một số nhiệm vụ
sau:
- Tìm hiểu cơ chế dạy học văn cũ, cơ chế dạy học văn mới. Đặc điểm
của giáo án giảng văn truyền thống, đặc điểm giáo án theo cơ chế dạy học văn
mới.
- Chỉ ra những định hướng để thiết kế giáo án mới và một số phương
pháp mới được vận dụng để thiết kế giáo án mới.
- Thiết kế giáo án thể nghiệm.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
- Phương pháp khảo sát - đánh giá

- Phương pháp thiết kế - thể nghiệm.
6. Cấu trúc của khóa luận
Ngồi phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của khóa luận được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Giáo án dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường THPT
Chương 2: Một số định hướng và phương pháp vận dụng để thiết kế
giáo án dạy học tác phẩm văn chương ở trường THPT hiện nay.
Chương 3: Thiết kế giáo án thể nghiệm


Chương 1
GIÁO ÁN DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG Ở NHÀ
TRƯỜNG THPT
1.1. Khái niệm giáo án
Giáo án là một khái niệm rất phức tạp. Tùy theo quan niệm dạy học của
thời đại hay sự thay đổi phương pháp dạy học mà cách hiểu về giáo án cũng
thay đổi. Giáo án trước đây được hiểu như là một bản kế hoạch lên lớp của
thầy. Nhưng về sau nó càng được mở rộng cho phù hợp với quan niệm dạy
học mới. Chẳng hạn, giáo án là một tập hợp các học liệu được tổ chức lại theo
một kết cấu sư phạm để có thể cung cấp kiến thức, hình thành kỹ năng cho
người học một cách hiệu quả thông qua sự trợ giúp hướng dẫn của giáo viên.
Hay giáo án được hiểu như là một bản thiết kế, trong đó thầy đóng vai trị
thiết kế chủ đạo, học sinh đóng vai trị thi cơng và do đó giáo án là việc thiết
kế một chuỗi hành động việc làm cho học sinh.
Từ nhiều cách hiểu trên, chúng tôi đưa ra một cách hiểu chung nhất về
giáo án. Giáo án là một bản kế hoạch trong đó nó xác định về cơ bản nội
dung, phương pháp dạy và học của thầy và trò trong tính thống nhất và sự tác
động qua lại lẫn nhau. Trong đó thầy giáo với tư cách là người chủ đạo để
phát huy tính tích cực, tự giác sáng tạo và độc lập của học sinh. Mỗi giáo án
phải thể hiện được mục tiêu của bài học trong chương trình. Giáo án trình bày

được những kiến thức cơ bản, cách thức tổ chức hoạt động dạy và hoạt động
học. Một giáo án muốn đạt chất lượng cao thì địi hỏi người giáo viên phải có
sự đầu tư đồng thời phải quán triệt tinh thần cơ bản của chương trình.
Các bước chung thiết kế một giáo án:
* Xác định mục tiêu của bài học. Để xác định mục tiêu cụ thể của một
bài học giáo viên cần phải:


- Dựa vào nội dung chương trình và thực trạng nhận thức của học sinh
nêu những điều kiện có thể thực hiện được. Do vậy tùy từng bài học mà mục
tiêu có thể đầy đủ các mặt (kiến thức, kỹ năng, thái độ) hay không.
- Nêu mục tiêu phải sát hợp với chương trình và được thể hiện trong
nội dung bài học. Dựa vào các mục tiêu bài học có thể khảo sát đánh giá bài
học.
* Xác định nội dung bài học. Đó là xác định những nội dung cơ bản
trên cơ sở dự kiến các tình huống trả lời của học sinh.
* Làm dàn bài tiết học. Tức là làm kế hoạch chi tiết của bài học và giáo
viên phải vạch ra từng nét đặc thù trong từng khâu của tiết học, những chi tiết
cụ thể. Dự kiến phân thời gian cho từng bước, chú ý tới những đối xử có phân
hóa tới học sinh.
* Viết giáo án bài học. Giáo án được viết thành văn là kết quả chuẩn bị
của tất cả các bước trên.
1.2. Vai trò của giáo án dạy học tác phẩm văn chương
Giáo án giờ học tác phẩm văn chương là bản kế hoạch nhằm chương
trình hóa vật chất hóa hoạt động của thầy và trị trên lớp để chiếm lĩnh một tác
phẩm. Trong đó hoạt động của giáo viên là thiết kế các tình huống học tập,
hướng dẫn học sinh giải quyết các vấn đề liên quan đến văn bản. Còn hoạt
động của trò là dưới sự định hướng của giáo viên tự mình tìm tịi chiếm lĩnh
nội dung kiến thức của tác phẩm cũng như những tư tưởng trong tác phẩm.
Thiết kế một giáo án dạy học một tác phẩm văn chương là điều khơng

dễ dàng bởi lý thuyết đã khó và thiết kế vào các bài văn lại khó gấp bội. Khi
thiết kế giáo án của một tác phẩm chúng ta phải đương đầu với những tác
phẩm văn chương cụ thể (nhất là những tác phẩm xuất sắc lại đa nghĩa).
Có được kết quả trên trang giáo án để dạy học một tác phẩm văn
chương là cả một quá trình lao động, sự nỗ lực cố gắng tìm tịi sáng tạo của
giáo viên cùng những băn khoăn trăn trở. Vì thế trong dạy học văn chúng ta


khơng thể khơng nhắc tới vai trị to lớn của giáo án mà giáo viên đã dày cơng
thiết kế.
Về phía giáo viên: Có được giáo án trong tay với đầy đủ kiến thức,
những tình huống học tập, những dự kiến về các phương án trả lời của học
sinh. Từ đó giáo viên sẽ vững vàng tự tin khi lên bục giảng bởi kiến thức về
một tác phẩm, một bài học, những tình huống sư phạm đã được trang bị đầy
đủ. Vì thế giờ học văn sẽ đạt hiệu quả cao nhất. Người giáo viên có thể khẳng
định được năng lực, khả năng sư phạm của bản thân trước học trò... Ngược lại
nếu khơng có sự chuẩn bị chu đáo về giáo án, hay không chuẩn bị giáo án
trước khi lên lớp thì có thể giáo viên sẽ khơng tự tin, khơng khẳng định được
năng lực, thậm chí do khơng có sự tìm tịi chuẩn bị thì chính bản thân giáo
viên cũng chưa thông hiểu hết về tác phẩm, và trước những băn khoăn trăn trở
thắc mắc của học trò, giáo viên khó mà giải đáp. Như vậy nhờ những giáo án
với sự chuẩn bị, giáo viên có thể trở thành một nhà đạo diễn, nhà soạn kịch tài
ba, người dẫn đường cho học trị. Nhưng nếu khơng chuẩn bị giáo án trước,
giáo viên cũng có thể trở thành chú hề tự đánh mất mình trước học trị.
Về phía học sinh: Những trang giáo án mà giáo viên đã chuẩn bị với
biết bao tình huống học tập từ đó đặt học sinh trước những thử thách, buộc
các em phải suy nghĩ tư duy và sẽ kích thích được tư duy, rèn luyện kỹ năng
đọc văn của người học, đặc biệt là gieo niềm say mê, yêu văn chương trong
mỗi học sinh. Đồng thời trên cơ sở giải đáp những tình huống học tập, học
sinh sẽ từng bước nắm bắt tác phẩm tiến tới chiếm lĩnh trọn vẹn tác phẩm và

các em sẽ có cơ hội nói lên được những suy tư rung động của chính trái tim
mình về “đứa con tinh thần của nhà văn”. Thơng qua đó, học sinh có thể trao
đổi trò chuyện với giáo viên, với nhà văn, làm cho tác phẩm văn chương thực
sự trở thành đối tượng “động” chứ không phải “tĩnh”.
Như vậy giáo án được xem như là chiếc chìa khóa để nâng cao chất
lượng dạy học văn trong nhà trường phổ thơng. Đó là cầu nối tạo nên mối


quan hệ đa phương trong dạy học hiện đại đáp ứng yêu cầu của giáo dục hiện
nay.
1.3. Giáo án giảng văn truyền thống và giáo án dạy học tác phẩm
văn chương hiện nay
1.3.1. Giáo án giảng văn truyền thống
Giáo án giảng văn truyền thống là sản phẩm của cơ chế dạy học văn cũ.
Để tìm hiểu được giáo án giảng văn truyền thống trước hết ta phải tìm hiểu cơ
chế dạy học văn cũ là cơ chế như thế nào.
1.3.1.1. Cơ chế dạy học văn cũ
Cơ chế dạy học văn là quá trình vận hành của ba nhân tố: Giáo viên,
học sinh, bài văn trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu đã được
quy định. Từ khi phương pháp dạy học văn manh nha xuất hiện và được áp
dụng giảng dạy trong nhà trường phổ thơng thì hệ thống phương pháp dạy học
này được dạy theo một cơ chế mà gọi là cơ chế dạy học văn cũ. Vậy cơ chế
dạy học văn cũ là khái niệm để chỉ bản chất của quá trình dạy học văn trước
quá trình đổi mới.
Khi nói đến cơ chế dạy học văn cũ là nói đến từng nhân tố bao gồm
giáo viên, học sinh, bài văn và mối quan hệ của các nhân tố ấy.
* Các nhân tố trong cơ chế dạy học văn cũ
Thứ nhất là nhân tố học sinh, nhân tố học sinh trong cơ chế dạy học
văn cũ được xem là một khách thể thụ động một đối tượng chịu sự tác động từ
phía giáo viên bằng hệ thống các biện pháp sư phạm. Vì vậy hoạt động chủ

yếu của học sinh trong giờ học là lắng nghe lời giáo viên, ghi chép bài, lĩnh
hội kiến thức sau đó tái hiện lại khi giáo viên yêu cầu. Học sinh được xem
như là một cái bình chứa mà giáo viên là người rót nước vào cái bình ấy. Hay
có nhiều hình ảnh ví với hình ảnh người học sinh. Học sinh như những cái
bóng mờ mờ nhân ảnh hay như những người đi trong đêm tối.


Học sinh bị xem là nhân tố thụ động nên hoàn toàn bị áp đặt về kiến
thức ngay cả những tình cảm cảm xúc cũng bị khống chế. Do đó học sinh
khơng có cơ hội nói lên những tâm tư tình cảm của chính trái tim mình, hay
khơng thể đi tìm lời giải cho những băn khoăn trăn trở của riêng bản thân.
Dẫn đến người học dường như có sự thờ ơ với số phận nhân vật với tiếng nói
tâm tình của nhà văn trong tác phẩm.
Mặt khác do khơng được tự do trình bày những ý kiến, suy nghĩ của
mình mà học sinh chỉ tiếp nhận những điều giáo viên mớm sẵn. Nên học sinh
hồn tồn khơng có sự sáng tạo, độc lập suy nghĩ đặc biệt là bị thui chột về
khả năng tư duy. Dẫn đến học sinh hồn tồn khơng có những phản ứng hay
đối thoại với giáo viên mà chỉ im lặng tiếp nhận.
Trong cơ chế cũ, tất cả học sinh đều được cào bằng như nhau bởi chúng
cùng lắng nghe và tiếp nhận một nội dung như nhau. Những quan niệm như
trên về học trò nên dẫn đến ta có thể bắt gặp nhiều học sinh khi tốt nghiệp
THPT mà không biết viết một lá đơn, khơng soạn thảo nổi một bài báo cáo,
khơng có sự tự tin khi trình bày ý kiến của mình về một vấn đề văn học hay
cuộc sống.
Như vậy, trong cơ chế cũ thì học sinh - đối tượng đáng phải chiếm lĩnh
tri thức lại trở thành nô lệ của sách vở…
Thứ hai là nhân tố giáo viên, người giáo viên trong cơ chế dạy học văn
cũ có vai trị độc tôn, quyền uy tuyệt đối. Thầy giáo được xem là bộ bách
khoa toàn thư hay cũng như những bà bảo mẫu mớm ăn cho trẻ, là một cái
máy phát. Thầy là người mang sẵn chân lý đến cho học sinh và học sinh mặc

nhiên thừa nhận. Vì vậy trong cơ chế cũ thầy giáo là người cảm thụ tác phẩm
thay cho học sinh. Giáo viên có sự tìm tịi khám phá phân tích bài văn sau đó
lên lớp truyền thụ lại cho học sinh. Trên bục giảng thầy chỉ làm nhiệm vụ
thuyết trình, say sưa với sự chuẩn bị sẵn của mình mà khơng quan tâm tới


việc học sinh có tiếp thu được hay khơng. Thầy chỉ cố gắng thể hiện kiến thức
của mình và cố bê hết kiến thức đó vào đầu học trị.
Trong cơ chế cũ, người giáo viên cũng có sự nhận thức quá đơn giản về
tác phẩm. Hầu như họ có sự đồng nhất giữa văn bản của nhà văn với tác phẩm
văn chương trong nhà trường. Họ không hiểu rằng văn bản chỉ trở thành tác
phẩm và tác phẩm chị thực sự đi vào cơ chế dạy học văn khi nó trở thành đối
tượng lý thú được sự quan tâm của bản thân học sinh, từ chỗ nó là tiếng nói
nội tâm của nhà văn phải trở thành tiếng nói nội tâm của học sinh. Vì thế giáo
viên cố gắng áp đặt tất cả lên học sinh kể cả cách cảm, cách nghĩ của mình.
Như vậy, trong cơ chế cũ, giáo viên như một người độc thoại, độc diễn
trên bục giảng.
Thứ ba là nhân tố bài văn, bài văn trong cơ chế dạy học văn cũ được
xem như là một hiện tượng tĩnh được nhìn nhận một cách tĩnh tại siêu hình
như một khối kiến thức có thể bê ngun xi từ SGK vào đầu học sinh mà
không hề thay đổi hình thái. Bài văn tách rời đối tượng tiếp nhận kiến thức và
con đường vận động của bản thân chủ thể chiếm lĩnh khối lượng kiến thức đó.
Nó khơng trở thành đối tượng hấp dẫn sâu sắc đối với học sinh.
* Mối quan hệ của ba nhân tố giáo viên – học sinh và bài văn trong cơ
chế cũ
Những sai lầm cơ bản cùng với những quan niệm phiến diện về các
nhân tố trong cơ chế cũ dẫn tới mối quan hệ của các nhân tố trong cơ chế dạy
học văn cũ cũng có nhiều bất cập và đó là những mối quan hệ một chiều.
Với cơ chế dạy học văn cũ giáo viên sau khi nắm vững nội dung bài
văn thì truyền đạt lại cho học sinh. Giáo viên là người cảm thụ thay cho học

sinh nên giáo viên sẽ không thể tạo được sự cộng hưởng cảm xúc, một tâm
thế đồng tình với học sinh. Vì vậy mối quan hệ giữa giáo viên và bài văn có
thể được xác lập thông qua việc cảm bài văn của giáo viên. Nhưng mối quan
hệ giữa giáo viên với học sinh chỉ là mối quan hệ giữa người giảng với người


nghe, người truyền thụ với người tiếp nhận, người trình bày với người ghi
nhớ. Còn mối quan hệ giữa học sinh với bài văn là mối quan hệ gián tiếp và
mối quan hệ này có thể bị phá vỡ bởi học sinh không được tiếp xúc với bài
văn không được đọc, không được độc lập phát hiện ý nghĩa của bài văn mà
chỉ hời hợt tiếp nhận qua lời giảng của giáo viên. Từ đây dẫn tới mối quan hệ
giữa học sinh với nhà văn cũng bị xóa bỏ.
Như vậy, cơ chế dạy học văn cũ là một cơ chế dạy học mà tồn tại nhiều
bất cập làm suy giảm chất lượng dạy học văn. Đồng thời gây nhiều hậu quả
như làm học sinh chán học văn, ngại học văn, các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết
của học sinh khơng được hình thành và rèn luyện. Học sinh khơng có cơ hội
trình bày ý kiến suy nghĩ nên khơng có thói quen chủ động tìm hiểu tác phẩm,
khơng kích thích được tư duy của học sinh - yêu cầu cao nhất của dạy học
hiện đại. Cịn giáo viên có thể ngày càng xơ cứng trong cách dạy, mất đi sự
nhạy cảm trong mối quan hệ với học sinh.
1.3.1.2. Giáo án giảng văn truyền thống
Giáo án giảng văn truyền thống là giáo án thuộc về cơ chế dạy học văn
cũ. Giáo án là phần soạn bài của giáo viên trước khi lên lớp. Mục đích của
phần bài soạn này là làm sao truyền thụ những nội dung, thông tin định sẵn
theo ý muốn chủ quan của giáo viên.
Nó là sự sắp xếp logic kết cấu sao cho thích hợp với nội dung bài cần
truyền đạt. Nội dung cần truyền đạt chỉ căn cứ vào nội dung tác phẩm. Nói
cách khác giáo án là một hệ thống các ý lớn, ý nhỏ, chỗ nào nêu câu hỏi, sau
đó chép nội dung gì, giá trị nội dung gồm mấy điểm, giá trị nghệ thuật gồm
mấy điểm. Cố gắng khai thác cho hết không được bỏ sót điểm nào, nếu có chú

ý tới phương pháp thì phần này cũng bị coi nhẹ và hiểu phương pháp như là
hoạt động hình thức bề ngồi của thầy, lúc nào phát vấn, lúc nào diễn giảng,
lúc nào phân tích, lúc nào liên hệ thực tế, hồn tồn không phải là phương
pháp giúp học sinh thâm nhập vào tác phẩm để khám phá tác phẩm. Như vậy


logic bài soạn giáo án chỉ dựa vào logic bài văn và logic lập luận của người
trình bày mà khơng tính đến logic tiếp nhận của chủ thể học sinh - vốn là
nhân vật trung tâm của giờ học.
Giáo án là một bản đề cương, một bản kế hoạch nhằm tổ chức sắp xếp
những việc làm của giáo viên để truyền thụ một phía đến người học qua lời
diễn giảng của mình. Giáo án cũng chưa thể hiện những cố gắng cần thiết của
giáo viên để phát huy vai trò chủ thể học sinh. Thời gian lên lớp chỉ dành cho
giáo viên thuyết trình, phần lao động của học sinh hầu như khơng có. Như
vậy giáo án khơng có sự kết hợp hài hòa giữa hoạt động của giáo viên và hoạt
động của học sinh.
Trong giáo án cũ không xuất hiện những tình huống học tập, những
hoạt động chủ đạo của học trị. Việc bắt gặp những câu hỏi có vấn đề địi hỏi
suy ngẫm, phân tích đánh giá bàn bạc trong giáo án cũ là rất hiếm hoi và nếu
có thì rất tùy tiện. Thay vào đó là những câu hỏi mang tính chất yêu cầu tái
hiện kiểu như: Theo em câu thơ đầu có nội dung gì? Khổ thơ cuối thể hiện
điều gì?...
Khi thiết kế giáo án, giáo viên chưa thực sự quan tâm đến đặc trưng thể
loại của tác phẩm mà dường như có sự cào bằng mọi tác phẩm theo một mơ
hình được rập khn máy móc. Chẳng hạn dạy học tác phẩm trữ tình mà
khơng chú ý tới nhân vật trữ tình với những chuyển biến của thế giới nội tâm
mà chỉ lý giải, chú ý tới yếu tố bề nổi của ngôn từ.
Xuất phát từ quan niệm như trên nên khi thiết kế giáo án, giáo viên chỉ
thiết kế thiên về sự cảm thụ cảm tính, thiên về những rung động của bản thân
mà nhẹ về quan niệm tính. Nhiều giáo viên cịn xem giáo án như một sự phiền

tối, gị bó, giáo viên có cái nhìn đơn giản hóa về nó mà khơng ý thức được
rằng nó là cả một q trình tổng hợp nhiều yếu tố như phải có q trình hoạt
động tham gia của cả giáo viên và cả học sinh.
Giáo án truyền thống có mơ hình cấu tạo như sau:


A. Mục đích yêu cầu của giáo án
1. Về kiến thức
2. Về kỹ năng
3. Về thái độ (giáo dục tư tưởng tình cảm cho học sinh)
B. Xác định các phương tiện dạy học (dạy học bằng cái gì, sử dụng
những phương tiện gì?)
C. Cách thức tiến hành (dùng những phương pháp gì để dạy học? Và
tiến hành bài học theo kiểu nào (bổ dọc hay bổ ngang)?
D Phần thiết kế nội dung bài học
1. ổn định trật tự lớp
2. Kiểm tra bài cũ
3. Giới thiệu bài học mới
4. Nội dung bài mới
5. Tổng kết, củng cố dặn dò học sinh
Về hình thức, thì cơ bản một giáo án giảng văn truyền thống chia tờ
giấy làm hai phần: Phần bên phải nhiều hơn ghi nội dung bài học, phần bên
trái ghi hoạt động của giáo viên (ghi những câu hỏi, những phần cần lưu ý của
giáo viên khi lên lớp).
Từ mô hình ấy mà khi lên lớp giáo viên sẽ trình bày bài học theo một
trình tự: Ổn định lớp học - kiểm tra bài cũ - giảng nội dung bài mới - cuối
cùng là tổng kết dặn dò học sinh. Nhiều giáo viên đã tuân thủ theo cấu tạo
cách dạy đó một cách máy móc suốt năm này qua năm khác cho tất cả mọi
kiểu bài, và mọi đối tượng học sinh khác nhau.
Do giáo án chỉ soạn nội dung thuyết trình của giáo viên trên lớp và với

cách soạn chỉ chú ý đến logic sự trình bày của giáo viên trên lớp. Nên giáo án
truyền thống sẽ có những ưu điểm và nhược điểm sau:
* Về ưu điểm: Giáo án có sự hệ thống chặt chẽ logic, sắp xếp trật tự nội
dung các phần của bài học theo một trình tự hợp lý, tạo nên sự mạch lạc liên


kết giữa các phần trong bài học làm kiến thức khơng bị xé lẻ vụn vặt. Đồng
thời nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên khi lên lớp, cho phép giáo
viên chủ động nắm bắt kiến thức tiến tới trình bày kiến thức đã chuẩn bị sẵn
một cách hệ thống, rõ ràng mạch lạc, chính xác và nhanh chóng đến người
học. Mặt khác, việc soạn giáo án có thể tiết kiệm được thời gian do giáo viên
không phải thiết kế nhiều hoạt động cho học sinh cũng không phải dự tính
đến các phương án mà học sinh trả lời.
*Nhược điểm: Do soạn phần nội dung thuyết trình là chủ yếu sẽ khiến
giờ học khi lên lớp trở nên đơn điệu nhàm chán, thậm chí bục giảng sẽ trở
thành nơi cho giáo viên độc diễn, không gây hứng thú cho học sinh học tập.
Học sinh dễ trở thành một đối tượng thụ động với hoạt động chủ yếu là lắng
nghe, ghi chép và tái hiện lại khi giáo viên u cầu nên sẽ khơng kích thích
được khả năng suy nghĩ độc lập sáng tạo của học sinh. Đặc biệt với cách soạn
giáo án như thế thì giáo viên sẽ áp đặt cho học sinh cách nghĩ, cách cảm của
mình gây áp lực căng thẳng cho các em khơng kích thích đánh động được tư
duy của các em, dẫn tới tình trạng học sinh học nhưng khơng hiểu hay học
một cách máy móc theo giáo viên. Cũng do dành thời gian để thuyết trình nên
khi lên lớp giáo viên phải mải miết trình bày và cố gắng truyền đạt hết nội
dung đã chuẩn bị sẵn vì thế giáo viên khơng chủ động về thời gian khi lên
lớp.
Như vậy, giáo án giảng văn truyền thống hồn tồn thốt ly xa rời
khơng dựa vào hoạt động bên trong của chủ thể học sinh, quá trình vận động
tự thân của học sinh, nên khơng thể phát huy vai trị trung tâm của người học
để người học tự mình chiếm lĩnh tác phẩm. Vì thế một yêu cầu đặt ra là phải

thay đổi cách thiết kế giáo án để tạo ra một giáo án mới mà nó phát huy được
vai trị chủ thể của học sinh.
1.3.2. Giáo án dạy học tác phẩm văn chương hiện nay
1.3.2.1. Cơ chế dạy học văn mới


Sự phát triển mạnh mẽ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là
sự bùng nổ công nghệ thông tin với vốn kiến thức khoa học, số lượng các tài
liệu khoa học, thông tin khoa học và đội ngũ các nhà khoa học tăng lên gấp
bội. Trong khi đó những tri thức con người thu nhận trên ghế nhà trường
không ngừng bị lạc hậu và tri thức mà học sinh tiếp nhận trên ghế nhà trường
cũng bị lão hóa rất nhanh. Đồng thời một thời đại với sự phát triển cao của
khoa học kỹ thuật đòi hỏi con người khơng chỉ nắm bắt thật nhiều kiến thức
mà phải có sự năng động, khả năng sáng tạo đặc biệt là óc tư duy nhanh nhạy
trong việc nắm bắt và xử lý thông tin, cũng như nhạy cảm với cái mới.
Từ những yêu cầu của thực tiễn, đặt ra yêu cầu cấp thiết với nền giáo
dục phải đào tạo ra những con người thực sự có năng lực, để phục vụ cho
chính cuộc sống của con người đó. Vấn đề đặt ra là phải thay đổi cơ chế dạy
học nói chung, trong đó cơ chế dạy học văn nói riêng. Bởi cơ chế dạy học văn
cũ với vai trị độc tơn của người thầy khơng cịn phù hợp nữa và bây giờ giáo
dục phổ thơng phải làm sao “phát huy tính tích cực tự giác chủ động sáng tạo
của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác
động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh” (Luật
Giáo dục, 2005).
Trên cơ sở đó, cơ chế dạy học văn mới ra đời với mục đích lấy học làm
trung tâm thay vì lấy dạy làm trung tâm. Và đã có sự thay đổi trong quan
niệm về các nhân tố: Giáo viên - học sinh - bài văn và mối quan hệ của các
nhân tố ấy.
*Các nhân tố trong cơ chế dạy học văn mới

Đầu tiên là nhân tố giáo viên, người giáo viên trong cơ chế dạy học văn
mới có những thay đổi căn bản về bản chất, chức năng so với người giáo viên
trong cơ chế dạy học văn cũ. Nếu người giáo viên trong cơ chế dạy học văn
cũ chỉ nắm thật vững kiến thức sau đó truyền thụ lại cho học sinh thì người


giáo viên trong cơ chế dạy học văn mới đóng vai trị là người tổ chức hướng
dẫn việc tìm kiếm chân lý của học sinh. Có nhiều cách diễn đạt hình ảnh về
người giáo viên trong cơ chế mới. Chẳng hạn giáo viên là người cố vấn, là
nhạc trưởng không đệm đàn như những nhạc công hay học sinh là những
ngọn nến và giáo viên là người thắp sáng lên ngọn lửa.
Người giáo viên trong cơ chế mới không làm thay công việc cho học
sinh cũng không cảm thụ thay tác phẩm cho học sinh mà họ chỉ như những
người truyền lửa, truyền cảm hứng khơi gợi nhu cầu học tập của học sinh, làm
cho động cơ học tập của học sinh được thơi thúc, và sau đó thúc đẩy sự sáng
tạo của các em.
Nội dung công việc của người giáo viên rất đa dạng tùy thuộc vào nội
dung từng bài học, vào những tình huống cụ thể khác nhau của mỗi giờ học.
Đó có thể là nêu các tình huống học tập, các câu hỏi, nhận xét câu trả lời của
người học, bổ sung nhấn mạnh kiến thức hoặc có sự động viên đúng mức để
phát triển tư duy của người học. Đồng thời rất có thể những câu trả lời của
học sinh không phải là lúc nào cũng theo như giáo án của giáo viên hay giữa
học sinh có những vấn đề tranh cãi thì đây là lúc người giáo viên phải thể hiện
tài năng, năng lực sư phạm của mình để dẫn dắt định hướng hướng dẫn học
sinh đi đúng hướng, để chiếm lĩnh trọn vẹn ý nghĩa tác phẩm.
Từ vai trò của người giáo viên trong cơ chế mới, ta thấy họ có nhiệm
vụ, cơng việc khó khăn, phức tạp hơn người giáo viên trong cơ chế cũ. Nhiệm
vụ của họ không đơn giản là truyền thụ lại kiến thức mà phải nhào nặn nó, để
làm sao người học với năng lực của bản thân thì có thể tự mình thơng qua nỗ
lực học tập, để khám phá chiếm lĩnh tri thức, hình thành được kỹ năng. Như

vậy người giáo viên phải cụ thể hóa quá trình học tập thành các tình huống
học tập, vật chất nó thành hệ thống các câu hỏi. Đây là cơng việc địi hỏi
nhiều cơng sức và đặt ra những u cầu phức tạp cho người giáo viên .Đó là
phải nắm bắt đặc điểm tâm sinh lý cũng như khả năng, trình độ vốn hiểu biết


của học sinh, mà điều chỉnh giờ học và đặt ra những tình huống, những vấn
đề phù hợp với năng lực của người học.
Thứ hai là, nhân tố học sinh, bên cạnh cái nhìn khơng phiến diện về
người giáo viên, thì trong cơ chế mới, học sinh đã được nhìn với cái nhìn tồn
diện. Nếu cơ chế cũ xem học sinh là nhân tố thụ động chỉ biết lắng nghe, ghi
chép như một cái máy thì cơ chế dạy học văn mới xem học sinh là nhân tố
trung tâm của hoạt động dạy - học. Là chủ thể - tích cực - độc lập - sáng tạo.
Chủ thể là con người có ý thức ý chí đối lập với khách thể bên ngồi. Tích
cực là huy động tối đa mọi khả năng của bản thân trong hoạt động học tập.
Độc lập là tự mình phát hiện, tự mình giải quyết vấn đề. Sáng tạo là phát hiện
ra những cách giải quyết vấn đề, con đường phương pháp mới nhằm giải
quyết hiệu quả tình huống học tập.
Như vậy học trị là đối tượng trung tâm có khả năng tự mình biết suy
nghĩ một cách độc lập, tự mình đặt ra vấn đề, giải quyết vấn đề và có khả
năng diễn đạt một cách lơgic những vấn đề mình đặt ra. Đặc biệt học trò phải
biết biến kiến thức tiếp thu được từ giáo viên thành kiến thức của bản thân.
Từ đây giúp học sinh có những phản hồi lại với bài giảng của giáo viên. Qua
đó học sinh khơng chỉ lĩnh hội được kiến thức mà còn phát triển nhiều mặt
như nhân cách, trau dồi khả năng giao tiếp, hình thành được các kỹ năng…
Như vậy với cơ chế mới, học sinh sẽ trở thành người khám phá tri thức
và có khả năng tự mình cảm thụ tác phẩm một cách trọn vẹn với những giá trị
chân thực và sức hấp dẫn nghệ thuật trong văn chương. Đồng thời các em biết
rung cảm với nhịp đập trái tim của con người trước cuộc sống mn màu
mn vẻ, biết mài sắc trí tuệ, biết bồi đắp tình yêu con người, yêu cuộc sống,

căm ghét cái xấu xa, hèn hạ… Đặc biệt nhờ những sự thật đời sống được mô
tả trong văn học mà giúp các em tích cực tham gia vào cuộc sống xã hội và
các hoạt động văn học.


Ba là nhân tố bài văn, cơ chế dạy học văn mới quan niệm bài văn có thể
thay đổi hình thái qua quá trình chiếm lĩnh của người học, và yêu cầu cao đối
với việc gia công sư phạm để người học dễ dàng chiếm lĩnh nó. Dưới sự định
hướng dẫn dắt của giáo viên, học sinh thực sự được tiếp xúc với bài văn có
những suy nghĩ cảm nhận riêng vì thế bài văn có thể được cắt nghĩa lý giải
phát hiện nhiều tầng bậc ý nghĩa, thậm chí ý nghĩa của nó cịn có thể được mở
rộng hơn cả những ý định ban đầu trong sự sáng tạo của tác giả.
Như vậy bài văn khơng cịn là một hình thái kiến thức tĩnh mà trở nên
sinh động và nó chính là cơ sở để học sinh rút ngắn khoảng cách của mình với
nhà văn.
* Mối quan hệ của ba nhân tố giáo viên - học sinh và bài văn
Cơ chế dạy học văn mới tôn trọng mối quan hệ nhiều chiều giữa giáo
viên - học sinh và bài văn. Mối quan hệ giữa học sinh và bài văn là mối quan
hệ trực tiếp. Học sinh tự mình tiếp xúc, khám phá và chiếm lĩnh ý nghĩa bài
văn dưới sự định hướng của giáo viên. Đồng thời mối quan hệ giữa giáo viên
và học sinh khơng cịn là mối quan hệ giữa người giảng với người nghe,
người trình bày với người ghi chép mà nó hình thành trên cơ sở tinh thần đối
thoại sâu sắc giữa thầy và trò. Đây là mối quan hệ đa chiều, học trị có thể trò
chuyện với tác giả qua yếu tố trung gian là giáo viên và bài văn.
Việc tiến hành áp dụng cơ chế mới trong dạy học văn giúp người học
say mê hứng thú học, phát triển ở các em tư duy độc lập sáng tạo đặc biệt là
rèn luyện nhân cách cho các em. Vì vậy học văn theo cơ chế này không đơn
thuần là học văn nữa mà là học làm người.
1.3.2.2. Giáo án dạy học tác phẩm văn chương hiện nay
Trên tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cơ chế dạy học

văn thì yêu cầu đặt ra là giáo viên phải làm sao tạo ra một giáo án mới phù
hợp với quan niệm dạy học hiện đại. Có thể nói giáo án dạy học một tác phẩm
văn chương là sản phẩm của cơ chế dạy học văn mới.


Giáo án mới không phải là một bản đề cương để truyền thụ những lời
diễn giảng của giáo viên mà là một bản kế hoạch nhằm chương trình hóa, vật
chất hóa hoạt động của thầy và trị trên lớp. Hoạt động của thầy là tổ chức
hướng dẫn học sinh giải quyết các vấn đề có liên quan đến văn bản mà giáo
viên đặt ra. Còn hoạt động của trò là dưới sự hướng dẫn của giáo viên tự mình
phát hiện, giải quyết vấn đề tiến tới chiếm lĩnh tác phẩm. Vì vậy nội dung cơ
bản cốt lõi chính yếu của một thiết kế giờ học tác phẩm văn chương bao gồm
hai thành tố hữu cơ: Một là những tình huống học tập được đặt ra từ nội dung
khách quan của tác phẩm, mà phù hợp với trình độ và đặc điểm tiếp nhận tác
phẩm văn chương của học sinh. Hai là một hệ thống các thao tác được giáo
viên sắp xếp hợp lý nhằm hướng dẫn học sinh từng bước xử lý để tiếp cận
chiếm lĩnh tác phẩm một cách sáng tạo. Vậy giáo án mới là bản thiết kế giờ
dạy – học trên tinh thần thầy thiết kế, trò thi công.
Như vậy kết cấu giờ dạy học sẽ là kết cấu của những tình huống học
tập và hệ thống các thao tác tương ứng chứ không phải là việc sắp xếp những
việc làm của giáo viên trên lớp để truyền thụ một phía cho học sinh. Tiến
trình hoạt động giờ học do vậy là tiến trình hoạt động thực sự của bản thân
chủ thể học sinh. Và giáo án phải linh hoạt, phù hợp với đặc trưng nội dung
từng tác phẩm, từng đặc điểm học tập của từng học sinh, từng lớp. Để đạt
những mục tiêu trên thì giáo án mới phải đảm bảo các yêu cầu như sau.
Trước hết giáo án phải phát huy tối đa tính tích cực chủ động sáng tạo
của học sinh - phát huy tính chủ thể của học sinh. Đó là giáo án mà trong đó
vận dụng nhiều phương pháp và biện pháp để rèn luyện tư duy cho học sinh.
Một giáo án có sự kết hợp hữu cơ giữa ba yếu tố hiểu biết - giáo dục - rèn
luyện tư duy. Học sinh tự phát triển được tư duy khả năng độc lập sáng tạo

của mình. Giáo án mới giáo viên phải có sự vận dụng nhuần nhuyễn nhiều
phương pháp tích cực như phương pháp nêu vấn đề, phương pháp gợi
mở...Như vậy hệ thống câu hỏi giáo viên đặt ra cho học sinh phải là hệ thống


các tình huống có vấn đề địi hỏi sự suy ngẫm, phân tích đánh giá của học trị.
Câu hỏi mở ra nhiều hướng giải quyết và có khả năng bao quát rộng không
phải chỉ một sự kiện mà cả phạm vi tư liệu rộng rãi. Tuy nhiên hệ thống câu
hỏi và các tình huống học tập giáo viên đặt ra cũng phải phù hợp với trình độ
của học sinh để các em huy động tối đa khả năng của mình.
Giáo án mới còn phải mang tinh thần đối thoại sâu sắc. Giáo án phải là
một bản thiết kế thể hiện được tính chất đối thoại thật tự nhiên, bình đẳng làm
sao để lôi cuốn và lay động từng học sinh, tạo được sự đồng cảm, sự cộng
hưởng cảm xúc của nhà văn - giáo viên - học sinh. Thầy giáo như trị chuyện
với học sinh tạo ra một khơng khí học thân mật nhưng sôi nổi hào hứng. Để
thiết kế một bản giáo án mang tinh thần đối thoại thì người giáo viên phải xử
lý nhuần nhuyễn nhiều quan hệ phức tạp. Nếu trong cơ chế cũ khi soạn giáo
án, giáo viên chỉ cần hiểu tác phẩm là đủ thì thiết kế giáo án mới người giáo
viên phải có năng lực sư phạm, dự đốn được các tình huống xảy ra trong sự
tiếp nhận của học sinh, bởi không phải bao giờ câu trả lời và đáp án của học
sinh cũng nằm trong sự sắp xếp của giáo viên. Mặc khác, giáo viên phải làm
chủ được tri thức, có sự hiểu biết sâu rộng. Có sự mở rộng liên hệ kiến thức
nhưng không quá xa kiến thức bài học để liên kết giờ học làm kiến thức
không bị phân mạch xé lẻ.
Giáo án mới có mơ hình như sau:
A. Mục tiêu cần đạt
1. Kiến thức
2. Kỹ năng
3. Thái độ
B. Các thức tiến hành

C. Phương tiện thực hiện
D. Tiến trình bài học
1. ổn định lớp


×