Tải bản đầy đủ (.doc) (91 trang)

Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại NH CT chi nhánh Hai Bà Trưng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (439.69 KB, 91 trang )

LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với xu hướng đổi mới của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam
cũng đang trong quá trình đổi mới, và đã đạt được những thành công nhất định. Xu
thế hội nhập, cạnh tranh ngày một diễn ra ngay gắt. Đặt hệ thống ngân hàng Việt
Nam trước những vận hội mới cũng như những khó khăn phải đối mặt. Hoạt động
của ngân hàng đạt kết quả tốt sẽ tạo điều kiện rất lớn cho nền kinh tế phát triển và
ngược lại ngân hàng hoạt động kém hiệu quả sẽ ảnh hưởng trầm trọng tới sự phát
triển của cả nền kinh tế, thẩm chí cả nền kinh tế thế giới. Xác định được tầm quan
trọng của tín dụng và vai trò của ngân hàng Chính phủ và NHNN Việt Nam đã có
nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng cũng như chất lượng tín
dụng trong toàn bộ hệ thống NHTM Việt Nam. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng
do nợ tồn đọng từ các năm khác chưa xử lý hết và những khoản quá hạn mới phát
sinh. Năm 2001 , theo thống kê của NHNN Việt Nam thì nợ quá hạn của NHTM
Việt Nam là 11%. Đây là trở ngại rất lớn cản trở sự phát triển của ngân hàng. Để
phát triển ổn định và bền vững thì đòi hỏi hệ thống NHTM Việt Nam cần tiếp tục
đổi mới hơn nữa.
Hoà vào nhịp đổi mới toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam, chi nhánh
NHCTII-HBT cũng có sự đổi mới đáng khích lệ. Tuy nhiên, nhìn vào kết quả hoạt
động trong những năm gần đây có thể thấy có một số vấn đề cần phải khắc phục
trong thời gian tới, đó là tình trạng dư nợ tín dụng ngắn hạn có tỷ trọng ngày càng
giảm trong tổng dư nợ, mặc dù về số tuyệt đối thì có sự tăng lên trong các năm gần
đây. Số nợ xấu tồn đọng từ các năm trước mặc dù đã tích cực xử lý nhưng vẫn chưa
đạt yêu cầu, nợ quá hạn mới còn phát sinh, tình trạng nợ khoanh vẫn chiếm tỷ trọng
cao trong tổng nợ quá hạn. Để bắt kịp với sự đổi mới thì nâng cao chất lượng tín
dụng ngắn hạn tại chi nhánh NHCTII-HBT là điều hết sức cần thiết để để chi nhánh
phát triển vững chắc.
Xuất phát từ hoàn cảnh phát triển nền kinh tế và thực trạng hoạt động tín
dụng của chi nhánh NHCT-HBT, em đã nghiên cứu và tìm hiểu về tình hình hoạt
động tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh NHCTII-HBT với để tài “Giải pháp nâng cao
Trang 1
chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh NHCTII-HBT”. Bài viết tập trung


nghiên cứu về các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn, tập trung vào
những vấn để liên quan đến hoạt động tín dụng ngắn hạn tại NHCTII-HBT. Trong
khuôn khổ bài viết này, em chia thành 3 phần:
ChươngI: Tổng quan về tín dụng và chất lượng tín dụng ngắn hạn.
ChươngII: Thực trạng chất lượng tín dụng ngắn hạn tại NHCTII-HBT.
ChươngIII: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn của
NHCTII-HBT.
Em xin chân thành cảm ơn GS – Tiến sĩ Cao Cự Bội đã tận tình giúp đỡ
em hoàn thành bài viết này. Em cũng xin cảm ơn cán bộ công tác tại NHCTII-HBT
đã tạo mọi đIều kiện và tận tình giúp đỡ trong thời gian em thực tập và hoàn thành
bài viết này.
Trang 2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
NGẮN HẠN
1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1 Khái niệm về NHTM.
Thuật ngữ Ngân hàng có từ rất lâu, trước khi nền sản xuất hàng hoá ra đời.
Tuy nhiên, ngay từ đầu nó không mang cái tên Ngân hàng. Xuất phát từ nhu cầu của
cuộc sống và công việc buôn bán mà các thương gia đã lập ra những nơi để đổi tiền,
nhận tiền gửi và thu phí của người gửi, họ giúp chi trả và thanh toán hộ người gửi và
ba nghiệp vụ đầu tiên hình thành, đó là: đổi tiền, nhận tiền gửi và thanh toán hộ. Lúc
đầu người gửi tiền phải trả một khoản tiền phí cho các thương nhân này, nhưng về
sau do áp lực cạnh tranh và do các khoản tiền gửi này sinh lợi nên các thương nhân
này đã trả phí cho người gửi để tăng khả năng huy động. Qua một thời gian các
thương gia này thấy rằng: luôn có một lượng tiền mặt ổn định đọng trong két họ.
Trong khi đó một số thương gia buôn bán lại có nhu cầu vay. Vì vậy họ cho vay để
kiếm thêm lợi nhuận, chính là mầm mống xuất hiện những nghiệp vụ nền tảng của
NHTM.
Hoạt động và vai trò của ngân hàng không phải là bất biến, mà liên tục phát
triển theo các điều kiện kinh tế xã hội. Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng càng

ngày càng phát triển, đã tạo một nghành công nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền
tệ, đó là NHTM. Nền kinh tế càng ngày càng phát triển, nhu cầu ngày càng phong
phú và được nâng cao, chính vì vậy bên cạnh những nghiệp vụ cơ bản, NHTM đã
cho ra đời nhiều dịch vụ mới như: Dịch vụ bảo lãnh L/C, nghiệp vụ thuê mua, phát
hành các chứng chỉ tiền gửi, chiết khấu hối phiếu…
Hai ngân hàng thương mại đầu tiên trên thế giới đó là Banca di
Baralone(1401) và Banca di Valencia(1409) cả hai đều ở Tây Ban Nha.
Mặc dù NHTM ra đời từ rất lâu nhưng các nhà kinh tế học, các nhà kinh tế vẫn
chưa nhất trí với nhau về dịnh nghĩa ngân hàng bởi do sự khác biệt về luật pháp, số
lượng các nghiệp vụ, bối cảnh kinh tế, xã hội của các vùng khác nhau…
Trang 3
Ngày nay, việc kinh doanh dịch vụ tiền tệ không còn là độc quyền của ngân
hàng. Cùng với các ngân hàng, kinh doanh và làm dịch vụ còn có những tổ chức tài
chính kinh doanh những loại hình tương tự như công ty bảo hiểm các loại, các hiệp
hội tiết kiệm cho vay , các quỹ hưu trí, các tổ chức tín dụng tiêu dùng, các quỹ tín
dụng, hợp tác xã tín dụng… Tuy nhiên trong bất cứ nước nào trên thế giới, thì ngân
hàng thương mại vẫn là tổ chức tài chính lớn nhất, quan trọng nhất trong giới kinh
doanh tiền tệ.
Việt Nam, theo pháp lệnh “ NH, HTX tín dụng và công ty tài chính” ban hành
ngày24/05/1990 thì “ NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và
thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng
số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh
toán”. Còn theo luật các tổ chức tín dụng ban hành26/12/1997 NHTM là một doanh
nghiệp thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng đó là “ hoạt động kinh doanh tiền tệ
và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, sử
dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán”.
Ngân hàng ra đời ở nước ta năm1951 với tên gọi “Ngân hàng quốc gia Việt
Nam”. Sự ra đời ngân hàng Việt Nam mang nét đặc trưng riêng biệt: Ngân hàng nhà
nước ra đời vừa làm chức năng quản lý tiền tệ vừa làm chức năng của NHTM( ngân
hàng một cấp). Cho đến 26/03/1988, nghị định 53/HĐBT quyết định chia hệ thống

ngân hàng Việt Nam thành 2 cấp, tách bạch chức năng quản lý nhà nước về tiền
tệ(Ngân hàng nhà nước) và chức năng kinh doanh tiền tệ(Ngân hàng thương mại).
Trong những năm qua cùng với sự phát triển của đất nước, nghành ngân hàng đã có
những phát triển vượt bậc góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước. Ngành ngân
hàng ngày càng hiện đại về công nghệ, nâng cao trình độ cán bộ ngân hàng, tham
gia rộng rãi vào thị trương tiền tệ trong khu vực và quốc tế.
1.2 Chức năng của NHTM.
Tầm quan trọng của NHTM được thể hiện qua các chức năng của nó. Các
chức năng của NHTM có thể được nêu ra dưới nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng
nhìn chung có các chức năng sau:
Trang 4
1.2.1 Chức năng tạo tiền.
Để phục vụ cho lưu thông, giúp cho nền kinh tế phát triển, NHNN đưa một
khối lượng tiền nhất định vào trong lưu thông. Lượng tiền đó phải đảm bảo đáp ứng
nhu cầu của nền kinh tế, nhưng lượng tiền cung ứng vượt quá nhu cầu của nền kinh
tế sẽ gây ra lạm phát có hại cho nền kinh tế. Với một lượng tiền cung ứng ban đầu,
thông qua hoạt động nhận tiền gửi và cho vay của hệ thống NHTM đã làm tăng
lượng tiền cung ứng so với ban đầu. Đây là chức năng chủ yếu của NHTM, chức
năng tạo tiền. Và thông qua chức năng này của NHTM mà NHNN với những công
cụ của mình như dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu… có thể thực hiện các chính
sách tiền tệ quốc gia nhằm đưa ra một khối lượng tiền phù hợp, ổn định được giá trị
đồng tiền.
1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán.
Với hoạt động này của mình, NHTM đã tạo điều kiện cho việc thanh toán giữa
các tổ chức cá nhân… được thuận tiện và đặc biệt là tiết kiệm được chi phí cho họ
cũng như tiết kiệm chi phí cho xã hội. Bởi vì việc thanh toán qua ngân hàng được
thực hiện tập trung, chuyên nghiệp và có công nghệ cao. Và cũng qua hoạt động
thanh toán NHTM thu được những lợi ích nhất định. Ngày nay hoạt động thanh toán
ngày càng phát triển tại các NHTM. Việc thanh toán không dùng tiền mặt được các
ngân hàng khuyến khích.

1.2.3 Hoạt động huy động tiền gửi.
Để có được nguồn vốn để thực hiện việc đầu tư tín dụng, NHTM đã tiến hành
đã tiến hành huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và dân cư. Việc huy động vốn này
giúp cho NHTM có đủ lượng vốn đáp ứng cho nhu cầu của nền kinh tế. Tạo ra thu
nhập cho người gửi tiền là một lợi ích mà hoạt động huy động vốn của ngân hàng
mang lại. Những người gửi tiền vào NHTM sẽ được nhận tiền lãi, tạo thu nhập cho
những khoản tiền nhàn rỗi của họ. Ngày nay để huy động được nhiều tiền gửi,
NHTM đã phát triển rất nhiều loại tiền gửi khác nhau: Có kỳ hạn hoặc không có kỳ
hạn, tiền gửi thanh toán hoặc tiền gửi tiết kiệm…
Trang 5
1.2.4 Hoạt động tín dụng.
Đây là hoạt động chủ yếu của NHTM bởi nó tạo ra thu nhập chính cho NHTM,
duy trì sự tồn tại của NHTM. Đây cũng là hoạt động cơ bản và lâu dài của NHTM.
NHTM dùng những khoản vốn huy động được để cho vay đối với nền kinh tế, nhằm
giúp những người có nhu cầu có được vốn để thực hiện quá trình sản xuất kinh
doanh của mình hoặc đảm bảo các nhu cầu khác. Với việc cho vay này NHTM đã
tạo cho sự phát triển kinh tế được thông suốt và hiệu quả. Bởi nếu không có nguồn
vốn vay từ ngân hàng thì rất nhiều doanh nghiệp không thể tiến hành quá trình sản
xuất kinh doanh được. Hầu như mọi doanh nghiệp hiện nay đều vay vốn ngân hàng.
Bên cạnh đó hoạt động cho vay mang lại thu nhập cho ngân hàng dưới dạng lãi vay.
Càng cho vay được nhiều thì lãi thu được càng lớn. Tuy nhiên hoạt động tín dụng
tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì vậy việc nâng cao các khoản tín dụng là mục tiêu hàng đầu,
sống còn trong hoạt động kinh doanh của mình để vừa đảm bảo có thu nhập cao vừa
an toàn, hiệu quả.
1.2.5 Tài trợ hoạt động ngoại thương
ngày nay khi mà hoạt động thương mại quốc tế ngày một phát triển, xuất nhập
khẩu giữa các nước đã diễn ra mạnh mẽ thì đòi hỏi việc thanh toán quốc tế cũng như
những hộ trợ khác cho thanh toán ngày càng nhiều. Việc đảm bảo thanh toán cho
các doanh nghiệp giữa các nước đòi hỏi một tổ chức đứng ra phải có đủ khả năng và
uy tín như NHTM mới đảm trách được. Các NHTM giúp cho các doanh nghiệp có

hoạt động đối ngoại thực hiện việc thanh toán được hiệu quả, an toàn và đặc biệt là
giảm được chi phí cho họ. Ngoài ra NHTM còn có hỗ trợ về vốn, nghiệp vụ giúp
cho các doanh nghiệp có thể thực hiện một cách thuận lợi và an toàn các hoạt động
ngoại thương. Cụ thể ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ mở L/C, séc chuyển tiền,
hối phiếu…
1.2.6 Hoạt động bảo lãnh.
Một số doanh nghiệp khi thực hiện các dự án lớn mà đòi hỏi về vốn và uy tín
vượt qua khả năng tài chính của mình, nhưng dự án đó là có hiệu quả. Vì vậy các
doanh nghiệp này rất cần một tổ chức đứng ra bảo lãnh cho họ để họ ký kết hoạt
động thực hiện dự án. Ngân hàng chính là người bảo lãnh tốt cho các doanh nghiệp
Trang 6
bởi NHTM có tiềm lực về vốn và uy tín. Mặt khác, NHTM có thể tư vấn cung cấp
tiền tệ, nghiệp vụ giúp cho doanh nghiệp quản lý tốt dự án. Hiện nay, việc NHTM
bảo lãnh cho các doanh nghiệp là khách hàng của mình ngày càng phổ biến, điều đó
mang lại lợi ích cho cả hai bên: NHTM và doanh nghiệp.
Ngoài ra NHTM còn có nhiều chức năng khác như: Dịch vụ uỷ thác, bảo đảm
an toàn vật có giá…
1.3 Các nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại.
1.3.1 Nghiệp vụ nợ
hoạt động của NHTM dựa chủ yếu trên nguồn vốn huy động còn nguồn vốn tự
có của NHTM là rất nhỏ, nó chỉ là tấm đệm để hạn chế những rủi ro. Số vốn huy
động tại các NHTM chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau như: lãi suất,
tình hình kinh tế xã hội, cách thức gửi tiền và trả lãi, phong tục tập quán, địa điểm
và thái độ phục vụ của ngân hàng..
Các hình thức huy động bao gồm:
- Tiền gửi thanh toán: Đây là loại tiền gửi không kỳ hạn, có hoặc không có
lãi suất. Mục đích của người gửi tiền là để hưởng các dịch vụ của ngân
hàng phục vụ cho quá trình thanh toán của mình. Loại tiền gửi này tuy có
chi phí thấp nhưng chứa đựng rủi ro cao, do người gửi có thể rút bất kỳ lúc
nào. Tỉ lệ tiền gửi thanh toán ở Việt Nam còn thấp rất nhiều so với tỷ lệ

chung trên thế giới vì người dân nước ta vẫn giữ thói quen sử dụng tiền
mặt trong lưu thông.
- Tiền gửi tiết kiệm: Mục đích của loại tiền gửi này là để hưởng lãi suất. Có
hai loại tiền gửi tiết kiệm là: Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và không có kỳ
hạn. Các kỳ hạn do sự thoả thuận giữa khách hàng và ngân hàng.
Ngoài hai loại tiền gửi chủ yếu trên ngân hàng còn thực hiện một số hình thức
tiền gửi khác và ngân hàng không chỉ huy động vốn bằng tiền gửi mà còn có nhiều
hình thức huy động vốn khác như phát hành chứng khoán, vay trên thị trường tiền
Trang 7
tệ, vay từ tổ chức tín dụng khác, vay từ NHTW… Tuy nhiên, các hình thức này
không thường xuyên mà chỉ thực hiện trong những trường hợp nhất định, bởi chứa
đựng trong đó ràng buộc và điều kiện.
1.3.2 Nghiệp vụ có.
Đây là hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng. Ngân hàng dùng vốn huy động
được cùng với vốn tự có để thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình nhằm tạo
ra nguồn thu nhập. Nghiệp vụ có của ngân hàng thể hiện ở các hoạt động sau:
- Hoạt động ngân quỹ: Mỗi ngân hàng đều phải giữ lại một khoản tiền tại
két của Ngân hàng để phòng những trường hợp rút tiền của người gửi,
tránh được những rủi ro về thanh toán. Nên có thể nói hoạt động này đảm
bảo cho khả năng thanh toán thường xuyên của ngân hàng. Khoản tiền bảo
đảm khả năng thanh toán của ngân hàng có thể là tiền tại két, tiền gửi
NHTW, chứng khoán, tiền mặt trong quá trình thu. Đó là những tài sản có
tính thanh khoản cao. Những tài sản này không sinh lời hoặc sinh lời thấp.
Vì vậy, ngân hàng phải điều chỉnh lượng dự trữ này sao cho hợp lý để đảm
bảo khả năng sinh lời cao, vừa đảm bảo khả năng thanh toán tốt.
- Hoạt động cho vay: Đây là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của ngân
hàng, nó thường đem lại cho ngân hàng khoản lợi nhuận cao tới 60 – 70%.
Mặt khác, đây cũng là hoạt động nhạy cảm, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Có thể nói
hoạt động tín dụng có mức độ rủi ro cao nhất, do đó để thực hiện có hiệu
quả hoạt động này các ngân hàng phải có những biện pháp để hạn chế

những rủi ro bằng cách quản lý chặt chẽ các khoản cho vay.
- Hoạt động thuê mua: Đây là hoạt động còn khá mới mẽ ở Việt Nam. Đây
là hình thức cung cấp tài chính cho khách hàng dưới hình thức thuê. Hoạt
động này cũng là một hình thức cấp tín dụng, nhưng nó có điểm khác biệt
là quyền sở hữu vẫn thuộc về bên cho thuê. Chỉ đến khi kết thúc hợp đồng.
Người thuê có quyền mua lại tài sản có ở mức giá thoả thuận giữa hai bên,
ấn định từ khi hợp đồng này.
Trang 8
- Hoạt động đầu tư trực tiếp: Bên cạnh các hình thức đầu tư gián tiếp bằng
cách cấp tín dụng ở trên, ngân hàng còn tham gia đầu tư trực tiếp vào một
công trình…Hoạt động này một mặt tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, mặt
khác giúp bổ trợ cho các hoạt động khác bởi đa dạng hoá giảm rủi ro. Cùng
với việc nắm giữ chứng khoán, ngân hàng có thể đảm bảo cho khả năng
thanh toán của tài sản có sinh lời.
1.3.3 Nghiệp vụ trung gian.
Ngoài 2 nghiệp vụ trên, ngân hàng còn thực hiện cung cấp các dịch vụ khác
cho khách hàng nhằm thu phí và khuyến khích khách hàng đến với ngân hàng. Ngày
nay, hoạt động này ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng. Các hoạt
động trung gian bao gồm:
- Dịch vụ thanh toán và cung cấp phương tiện thanh toán: Ngân hàng
đứng ra làm trung gian thanh toán hộ cho khách hàng và phát hành các
phương tiện nhằm phục vụ cho thanh toán như: UNC, UNT, Sec, L/C…
- Dịch vụ môi giới: Ngân hàng tổ chức mua bán, lưu ký, bảo quản chứng
khoán cho ngân hàng. Tại Việt Nam, các ngân hàng thành lập ra các công
ty chứng khoán để thực hiện hoạt động này.
- Dịch vụ ngân quỹ: Ngày nay, khi mà thị trường không dùng tiền mặt thì
hoạt động này ngày càng phát triển rộng. Ngân hàng đứng ra thu hộ và phát
tiền mặt cho khách hàng.
- Dịch vụ chuyển tiền: Với sự trợ giúp của khoa học kỹ thuật thì dịch vụ này
ngày càng được nhiều người sử dụng.

- Dịch vụ bảo lãnh: Bằng uy tín và khả năng tổ chức của mình, ngân hàng
đứng ra bảo lãnh cho các công ty phát hành chứng khoán, bảo lãnh vay
vốn, bảo lãnh thực hiện hợp đồng…
- Dịch vụ tư vấn: Cung cấp thông tin và hỗ trợ về mặt chuyên môn cho
khách hàng.
- Dịch vụ bảo quản.
Trang 9
2. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG
2.1. Khái niệm tín dụng
Danh từ tín dụng dùng để chỉ một hành vi kinh tế rất phức tạp như: bán chịu
hàng hoá, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, ký thác, phát hành giấy bạc. Trong mỗi một
hành vi tín dụng vừa nói, chúng ta thấy hai bên cam kết với nhau như sau:
- Một bên trao ngay một số tài hoá hay tiền bạc;
- Còn bên kia cam kết sẽ hoàn lại những đối khoản của tài hoá đó trong một
thời gian nhất định và theo một số điều kiện nào đó.
Trong quan hệ giao dịch trên thể hiện các nội dung:
• Trái chủ hay còn gọi là người cho vay chuyển giao cho người thụ trái hay
còn ngọi là người đi vay một lượng giá trị nhất định. Giá trị này có thể
dưới hình thái giá trị hoặc dưới hình thái hiện vật như hàng hoá, máy móc,
thiết bị bất động sản.
• Người thụ trái hay là người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời một thời gian
nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoã thuận, người đi vay phải
hoàn trả cho người cho vay.
• Giá trị hoàn trả thường lớn hơn giá trị cho vay hay nói cách khác người đi
vay phải trả thêm phần lợi tức. Thước đo phần lợi tức này là giá trị tài hoá
hoặc tiền tệ và lãi suất mà hai bên thoả thuận. Người cho vay phải tuân thủ
nguyên tắc : Lãi suất cho vay phải chứa đựng các yếu tố như lạm phát, rủi
ro và chi phí cơ hội. Người cho vay phải chú ý đến giá trị thời gian của
tiền.
Như vậy: Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một

bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất
định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả phần tài sản đã mượn
cộng thêm một phần lợi tức theo thời hạn đã thoả thuận.
Từ tín dụng xuất phát từ tiếng la tinh -credittum- có nghĩa là sự tín nhiệm.
Trong giới tài chính, một người được xem là có uy tín khi người khác tin tưởng và
Trang 10
sẳn sàng ký thác tài sản hoặc tiền bạc cho anh ta. Tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn
thời tgian hoàn trả. Sự hứa hẹn biểu hiện mức độ tín nhiệm của người cho vay, yếu
tố tín nhiệm là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan
hệ tín dụng phát sinh.
Do nhu cầu phát triển và đi lên của xã hội loài người mà quan hệ tín dụng đã
hình thành rất sớm. Quan hệ tín dụng đầu tiên trong lịch sử là tín dụng nặng lãi,
quan hệ tín dụng này hình thành từ đầu chế độ nô lệ và thậm chí còn tồn tại đến
ngày nay. Hình thức tín dụng này được coi là phương pháp tích luỹ nguyên thuỷ, là
công cụ đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn, tạo điều kiện cho phương thức
sản xuất mới ra đời ra đời. Quan hệ tín dụng phát triển hết sức đa dạng và phức tạp
bắt đầu từ khi chế độ chủ nghĩa tư bản ra đời. Cho đến ngày nay các quan hệ tín
dụng đã phát triển toàn diện. Trong thực tiễn thường có các chủ thể tham gia vào
quan hệ tín dụng cụ thể, ví dụ:
• Quan hệ tín dụng giữa nhà nước với các doanh nghiệp và công chúng thể
hiện dưới hình thức nhà nước phát hành các giấy nợ như công trái, trái
phiếu đô thị, tín phiếu kho bạc.
• Quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau hay còn gọi là tín dụng thương
mại thể hiện dưới hình thức bán chịu hàng hoá.
• Quan hệ tín dụng giữa các công ty và công chúng thể hiện dưới hình thức
các công ty phát hành các trái phiếu, hoặc bán hàng trả góp.
• Quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng, các tổ chức tài chính phi ngân hàng
với các doanh nghiệp và công chúng, thể hiện dưới hình thức nhận tiền gửi
của khách hàng, cho khách hàng vay, tài trợ thuê mua...
• Quan hệ tín dụng giữa nhà nước và các tổ chức tài chính quốc tế, chính

phủ các nước thể hiện dưới hình thức vay nợ.
Với chức năng kinh doanh tiền tệ, các ngân hàng thương mại tham gia vào
quan hệ tín dụng với hai tư cách. Ngân hàng đóng vai trò thụ trái và hành vi này
được gọi là đi vay bao gồm nhận tiền gửi của khách hàng, phát hành trái phiếu để
vay vốn trong xã hội, vay vốn của ngân hàng trung ương và các ngân hàng khác.
Trang 11
Ngân hàng đóng vai trò trái chủ, hành vi này được gọi là cho vay. Vì tính chất phức
tạp của hoạt động cho vay vì thế khi nói đến tín dụng người ta thường đề cập đến
hoạt động cho vay mà bỏ quên mặt thứ hai đó là đi vay.
Quan hệ tín dụng mà ngân hàng đóng vai trò trái chủ gọi là tín dụng ngân
hàng. Tín dụng ngân hàng là một trong ba nghiệp vụ cơ bản khi hình thành nên các
ngân hàng thương mại và đây cũng là nguồn thu chủ yếu của các ngân hàng. Sự phù
hợp về nhu cầu của hai nhà tư bản ngân hàng và nhà tư bản sản xuất kinh doanh
hàng hoá đã dẫn đến sự ra đời mối quan hệ tín dụng này. Do chuyên môn hoá trong
kinh doanh và do đặc điểm của hàng hoá tiền tệ mà hình thức tín dụng này ngày
càng phát triển và trở thành hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế hàng hoá.
Tín dụng ngân hàng đã khắc phục được những hình thức tín dụng trước đó và thực
sự trở thành một yếu tố quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển.
Như vậy:Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn về vốn tiền tệ giữa ngân
hàng và các đơn vị kinh tế, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và các tầng
lớp dân cư theo nguyên tắc có hoàn trả.
2.2. Phân loại tín dụng ngân hàng
2.2.1. Căn cứ vào mục đích
Dựa vào căn cứ này cho vay được chia ra làm các loại sau:
• Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây
dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp,
thương mại và dịch vụ.
• Cho vay công nghiệp và thương mại là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung
vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương
mại và dịch vụ.

• Cho vay tiêu dùng là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như
mua sắm các vật dụng đắt tiền, ngày nay ngân hàng còn thực hiện các
khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của đơì sống thông
qua phát hành thẻ tín dụng.
Trang 12
• Thuê mua và các loại khác.
2.2.2 . Căn cứ vào thời hạn tín dụng.
• Tín dụng ngắn hạn: Loại tín dụng này có thời hạn dưới 12 tháng và được
sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu
chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Đối với ngân hàng thương mại tín dụng
ngân hàng chiếm tỉ trọng cao nhất.
• Tín dụng trung hạn: Theo quy định hiện nay của ngân hàng nhà nước Việt
Nam, tín dụng trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 3 năm, còn đối với các
ngân hàng thương mại trên thế giới loại tín dụng có thời hạn đến 7 năm.
Tín dụng trung hạn chủ yếu được đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải
tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây
dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
• Tín dụng dài hạn: Theo quy định ở Việt Nam loại tín dụng có thời hạn trên
3 năm, còn trên thế giới loại tín dụng này có thời hạn trên 7 năm.Tín dụng
dài hạn là loại tín dựng cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng
nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dung các xí
nghiệp mới. Nghiệp vụ truyền thống của các ngân hàng thương mại là cho
vay ngắn hạn, nhưng từ những năm 70 trở lại đây các ngân hàng thương
mại đã chuyển sang kinh doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi
mới đó là nâng cao tỉ trọng cho vay trung và dài .
2.2.3. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng.
Theo căn cứ này tín dụng được chia làm hai loại:
• Cho vay không bảo đảm là loại cho vay không cần tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín
của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong

kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị tài chính hiệu quả thì
ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà
không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung.
Trang 13
• Cho vay có bảo đảm là loại cho vay được ngân hàng cung ứng phải có tài
sản thế chấp hoặc cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba. Đối với
khách hàng không có uy tín cao với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có
bảo đảm. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có một nguồn
thu thứ hai, bổ sung nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn. Đồng thời tài
sản thế chấp này bảo đảm khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích cam kết.
2.2.4 . Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng.
Theo căn cứ này tín dụng ngân hàng được chia làm hai loại:
• Tín dụng bằng tiền là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được
cung cấp bằng tiền. Đây là loại tín dụng chủ yếu của các ngân hàng và việc
thực hiện bằng các kỷ thuật khác nhau như: Tín dụng ứng trước, thấu chi,
tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp...
• Tín dụng bằng tài sản là hình thức cho vay bằng tài sản rất phổ biến và đa
dạng, riêng đối với các ngân hàng cho vay bằng tài sản được áp dụng phổ
biến đó là tài trợ thuê mua. Theo phương thức cho vay này ngân hàng hoặc
các công ty thuê mua( công ty con của ngân hàng)cung cấp trực tiếp tài sản
cho người đi vay được gọi là người đi thuê và theo định kỳ người đi thuê
hoàn trả nợ vay bao gồm cả vốn gốc và lãi.
2.2.5. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng.
Dựa vào căn cứ này cho vay chia làm hai loại:
• Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho những người có nhu
cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
• Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua
lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh
toán. Các ngân hàng thương mại cho vay gián tiếp theo các loại sau: Chiết
khấu thương mại, mua các phiếu bán hàng, mua các khoản nợ của doanh

nghiệp.. Ngoài các loại cho vay trên đây, ngân hàng còn thực hiện các
nghiệp vụ bảo lãnh cho khách hàng bằng uy tín của mình. Đối với nghiệp
Trang 14
vụ này ngân hàng không phải cung cấp tiền, nhưng khi người bảo lãnh
không thực hiện được nghĩa vụ theo hợp đồng thì người bảo lãnh phải thay
thế để thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Chính vì lý do trên đây, mà người ta
gọi hành vi cam kết bảo lãnh của ngân hàng là tín dụng bằng chữ ký. Tín
dụng bằng chữ ký bao gồm các loại: Tín dụng chứng từ, bảo lãnh của ngân
hàng..
3. TÍN DỤNG NGẮN HẠN.
3.1. Khái niệm.
Tín dụng ngắn hạn là những khoản cho vay có thời hạn nhỏ hơn một năm.
NHTM là nhà cung ứng phần lớn các khoản vay ngắn hạn cho các doanh nghiệp.
Các khoản vay này ít rủi ro về khả năng thanh toán cũng như về lãi suất so với vay
trung và dài hạn. Những khoản cho vay ngắn hạn thường được sử dụng rộng rãi
trong việc tài trợ mang tính thời vụ về vốn luân chuyển và tài trợ tạm thời cho các
khoản chi phí sản xuất.
3.2. Phân loại tín dụng ngắn hạn.
Nếu xét theo cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp, thì đây là tín dụng tài trợ
vốn lưu động. Nếu như vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp không đủ
trang trải về loại vốn này, thì doanh nghiệp đó phải xin vay tín dụng ngân hàng. Nhu
cầu về vốn lưu động cao hay thấp tuỳ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh và
khả năng quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp. Nhưng dù nhu cầu cao hay thấp,
doanh nghiệp luôn sử dụng tín dụng vốn lưu động với tư cách là các khoản vay ít
hay nhiều thường xuyên theo cơ cấu tài chính của doanh nghiệp.
Dưới góc độ kỹ thuật tín dụng, Ngân hàng thương mại thực hiện cho vay ngắn
hạn theo các loại hình phổ biến sau đây:
3.2.1. Tín dụng ứng trước.
Các tín dụng ứng trước được gọi bằng các từ ngữ khác nhau. Các tên gọi của
chúng thường thể hiện những thực tế rất gần gũi như: Mở tín dụng khoản, thấu chi,

tín dụng vãng lai(hay còn gọi là cho vay luân chuyển)..Nhìn chung, các khoản tín
Trang 15
dụng ứng trước chủ yếu theo nhu cầu toàn bộ tài sản lưu động, nghĩa là không thực
hiện một tài sản xác định nào. Nói chung không có một đảm bảo riêng.
Tín dụng ứng trước bao gồm các loại sau đây:
3.2.1.1. Tín dụng thế chấp hoặc nghiệp vụ mở tín dụng khoản.
Loại tín dụng này là một thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp đồng
tín dụng trong đó khách hàng được sử dụng một mức cho vay trong một thời hạn
nhất định.
Trong hình thức này, ngân hàng cho khách hàng vay bằng cách mở cho họ một
tín dụng khoản. Khi mở tài khoản như vậy khách hàng không phải bỏ tiền vào đấy,
mà trái lại có thể lấy tiền ra, tiền đó là tiền ứng trước của ngân hàng vì vậy nghiệp
vụ này còn gọi là nghiệp vụ ứng trước. Khách hàng có thể sử dụng tài khoản này để
phát hành séc chi trả hoặc có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác.
Khi thực hiện một khoản tín dụng ứng trước tuỳ vào sự nhìn nhân của ngân
hàng đối với khách hàng mà có thể ngân hang đưa ra một trong hai hình thức sau:
Tín dụng ứng trước không bảo đảm:là việc cấp tín dụng không cần tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh, mà dựa trên cơ sở uy tín của khách hàng.
Trước khi cho vay ngân hàng phải xem xét, đánh giá, phân tích. Đánh giá
khách hàng dựa vào hang loạt chỉ tiêu như mức vốn, lợi nhuận hàng năm, uy tín của
sản phẩm trên thị trường, khả năng tiêu thụ sản phẩm, trình độ quản lý.
Tín dụng ứng trước có bảo đảm: là loại tín dụng được cấp phát trên cơ sở có
tài sản thế chấp(do đó có tên gọi là tín dụng thế chấp), cầm cố hay bảo lãnh của một
hay nhiều người khác.
3.2.1.2 . Thấu chi.
Thấu chi là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt trên cơ sở hợp đồng tín
dụng hay còn gọi là tín dụng hạn mức, được thực hiện bằng cách cho phép khách
hàng được sử dụng kết số thiếu(dư nợ) trong một giới hạn nhất định. Thấu chi là kỹ
thuật cho vay đặc biềt mà trong đó xí nghiệp được sử dụng vốn một cách linh hoạt,
các đảm bảo nếu có chỉ là yếu tố phụ, vì số nợ thường xuyên biến động không thể

Trang 16
thực hiện các đảm bảo trực tiếp. Thấu chi được xem là loại tín dụng không bảo
chứng.
Thấu chi là một khoản tín dụng tổng hợp mà doanh nghiệp vay khi nhu cầu về
vốn lưu động của nó vượt khả năng của vốn lưu động. Khi cấp tín dụng thấu chi
ngân hàng không đòi hỏi việc nghiên cứu một nguyên nhân rất chính xác về sự phát
sinh và tìm sự hợp lý của nó trong cơ cấu tài chính của doanh nghiệp.
3.2.1.3. Tín dụng vãng lai.
Tín dụng vãng lai chưa được giới thiệu đầy đủ trên sách báo Việt Nam. Có rất
nhiều ý kiến khác nhau và đang còn có nhiều sự nhầm lẫn. Do vậy việc quy tụ
những thông tin, những tri thức về nội dung chủ yếu của tín dụng vãng lai, để hiểu
thêm những ưu điểm của nó trong nền kinh tế thị trường. Từ đó rút ra những thích
ứng với điều kiện Việt Nam đang trong quá trình đổi mới và phát triển đa dạng các
loại tín dụng của NHTM.
Tín dụng vãng lai được xem là hình thức tín dụng cổ điển nhất. Tín dụng vãng
lai là tín dụng ngân hàng do cơ quan tín dụng cấp cho khách hàng của mình : bằng
bản tệ hoặc ngoại tệ và theo nhu cầu khách hàng có thể được sử dụng với số lượng
khác nhau nhưng không vượt quá số tiền quy định trong hợp đồng. Việc tính số dư
các khoản nộp vào và rút ra khỏi tài khoản của khách hàng được tiến hành sau
những khoảng thời gian quy định trong hợp đồng, đồng thời với việc thanh toán các
khoản chi trả tín dụng trên tài khoản thống nhất của khách hàng .
3.2.1.4. Tín dụng thời vụ.
Hoạt động thời vụ là hoạt động sản xuất được thực hiện ở một thời điểm nào
đó trong năm trong khi việc tiêu thụ lại được thực hiện tại một thời điểm khác hoặc
ngược lại việc sản xuất được rải đêù trong cả năm để tránh chi phí đột biến và dàn
đều tổng chi phí trong khi việc tiêu thụ lại được tiến hành trong một thời gian rất
ngắn. Trong các trường hợp này doanh doanh nghiệp có nhu cầu thời vụ về tài trợ
vốn lưu động và nó được thoả mản bằng tín dụng thời vụ.
Doanh nghiệp yêu cầu ngân hàng phục vụ mình giúp đỡ tài chính ở các thời
vụ. Dựa vào điều tra nghiên cứu của mình, ngân hàng sẽ có kế hoạch tài trợ thời vụ

Trang 17
cụ thể của tong tháng, các nhu cầu và nguồn vốn dự kiến. Nói cách khác, khi có nhu
cầu vượt quá nguồn vốn trong một thời kỳ nào đó người ta đưa ra nhu cầu đặc biệt
về thời vụ mà nếu như mọi việc diễn ra tốt đẹp, sẽ được san bằng ở thời kỳ bán
hàng. Vốn lưu động phải bù đắp một phần nhu cầu này. Một doanh nghiệp có khả
năng suốt năm đương đầu với thời kỳ mùa vụ mà không cần tới tín dụng bên ngoài,
thì chắc chắn là một doanh nghiệp quản lý chưa tốt nguồn vốn, bởi vì nó chứng tỏ
việc không tận dụng số tư bản thường có trong một thời kỳ của năm và mức sinh lợi
của vốn này do đó cũng phải gánh chịu những hậu quả.
3.2.2. Cho vay dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền.
3.2.2.1. Chiết khấu thương phiếu.
Thương phiếu hay kỳ phiếu thương mại là một giấy nợ phát sinh trong quan hệ
thương mại và người hưởng thụ một trái quyền đối với người thụ trái khi giấy nợ
đến hạn. Thương phiếu là công cụ của tín dụng thương mại.
Từ thời Trung cổ các thương phiếu đã trở thành phương tiện quan trong trong
kinh doanh ngân hàng. Ngày nay, có rất nhiều nghiệp vụ ngân hàng được thực hiện
thông qua việc chiết khấu thương phiếu:
-Ngân hàng tham gia vào việc thanh toán các phiếu khoán khi các thương
phiếu đó được chiết khấu tại ngân hàng của họ.
-Ngân hàng cũng thực hiện việc thu ngân các phiếu khoán giúp khách hàng.
Ngoài thanh toán và thực hiên thu ngân hộ khách hàng, ngân hàng có thể giữ
các phiếu khoán làm vật bảo đảm. Nhưng thông thường thì ngân hàng chiết khấu
thương các phiếu.
-Chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ cổ điển của ngân hàng, ra đời rất sớm
và mãi đến ngày nay vẫn được các ngân hàng áp dụng một cách phổ biến. Đây là
một nghiệp vụ ít rủi ro và không làm đóng băng vốn của ngân hàng. Thời hạn cho
vay ngắn tối đa là 90 ngày, điều này nâng cao tính thanh khoản trong quản lý tài sản
có của ngân hàng. Mặt khác hai hình thức cơ bản của thương phiếu là hối phiếu và
lệnh phiếu được lập trên cơ sở hàng hoá đã được chuyển giao cho người mua. Đây
chính là tiền đề để người mua thực hiện kinh doanh của mình, để có khả năng hoàn

Trang 18
trả cho ngân hàng. Lại nữa nghiệp vụ chiết khấu lại ở NHTW khi ngân hàng ngặp
khó khăn về thanh khoản. Mặc dù chiết khấu thương phiếu mang lại nhiều lợi ích
cho khách hàng. Tuy nhiên vẫn có rủi ro xảy ra. Vì vậy trước khi chiết khấu thương
phiếu, ngân hàng phải xem xét kỷ khách hàng đến chiết khấu, xem xét kỷ các hối
phiếu và mối quan hệ của những người có liên quan đến hối phiếu.
Như vậy: Chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, được
thực hiện dưới hình thức khách hàng chuyển giao quyền sở hữu thương phiếu để đổi
lấy một số tiền bằng mệnh giá trái phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí.
Ngoài ra tín dụng dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền còn gồm các loại:
Nghiệp vụ huy động các trái quyền thương mại, bao thanh toán hay mua uỷ nhiệm
thu..
3.2.3. Tín dụng bằng chữ ký của ngân hàng.
Loại tín dụng này thực chất là một cam kết lãnh nợ do ngân hàng đưa ra bằng
việc phát hành các chứng thư bảo lãnh hoặc bảo chứng, cam kết trả thay cho người
đi vay nếu người đi vay không trả được nợ. Có trường hợp đó là sự xác nhận khoản
tín dụng đã cấp cho một thời hạn nhất định. Khi thực hiện cho vay qua cam kết bằng
chữ ký, ngân hàng không phải xuất quỹ đễ cho khách hàng sử dụng một khoản tiền
nhất định, mà chỉ đưa ra một cam kết bảo lãnh cho con nợ đối với chủ nợ. Như vậy,
chỉ khi nào con nợ không trả được nợ thì ngân hàng mới trả nợ hộ. Thông thường để
thực hiện nghiệp vụ này thì ngân hàng phải lập một quỹ bảo lãnh theo một tỷ lệ so
với vốn pháp định. Hiện nay ở Việt Nam số tiền bảo lãnh tín theo tỷ lệ phần trăm
trên tổng giá trị bảo lãnh.
3.3. Vai trò của tín dụng ngắn hạn.
Tín dụng đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi
chúng ta. Tín dụng đã góp phần làm ổn định và phát triển sản xuất của nền kinh tế,
các tổ chức và mỗi cá nhân. Cũng như các loại tín dụng khác, tín dụng ngắn hạn có
vai trò cực kỳ quan trọng. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam là một nước trong giai
đoạn đang phát triển thì tín dụng ngắn hạn càng có vai trò quan trọng. Nó thể hiện:
Trang 19

3.3.1. Đối với nền kinh tến
Ngân hàng trong nền kinh tế với tư cách là một doanh nghiệp kinh doanh trên
lĩnh vực tiền tệ. Với tư cách là một trung gian tài chính, nó là kênh chuyển vốn từ
những nơi thừa vốn đến những nơi thiếu vốn và hoạt động hiệu quả trong nền kinh
tế. Các kênh truyền dẫn vốn có thể qua thị trường tài chính đó là các nghiệp vụ tín
dụng trung và dài hạn, nhưng nó đã bị cạnh tranh mạnh mãnh mẽ của các tổ chức tài
chính phi ngân hàng tham gia vào thị trường này như: Công ty Bảo hiểm, các quỹ
đầu tư, công ty tài chính.. Hoặc là thị trường tiền tệ là kênh dẫn và huy động những
ngồn vốn và các giấy tờ có giá ngắn hạn. Thị trường này hoạt động rất linh hoạt và
cung cấp một nguồn một nguồn vốn rất lớn cho nền kinh tế. Do đó tín dụng ngắn
hạn ngày càng phát triển mạnh mẽ.
3.3.2. Đối với các doanh nghiệp.
Tín dụng ngân hàng là nguồn bổ sung vốn lưu động để bảo đảm hoạt động
kinh doanh được liên tục
Không có sự ăn khớp về mặt thời gian giữa các khoản thu và các khoản chi của
một doanh nghiệp nên tại một thời điểm nhất định, trong nền kinh tế có những thời
điểm trong nền kinh tế có những doanh nghiệp thiếu vốn tạm thời và cần bổ sung
ngay để đảm bảo tính sản xuất được liên tục. Đối với các doanh nghiệp sản xuất
mang tính thời vụ như các doanh nghiệp bán lẻ, chế biến thực phẩm, các công ty chế
biến nông sản, các doanh nghiệp xây lắp..hoặc các doanh nghiệp có vòng quay vốn
lưu động chậm thì các khoản tín dụng từ ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc
giúp cho quá trình sản xuất không bị gián đoạn. Các khoản tín dụng ngắn hạn có ý
nghĩa lớn đối với các doanh nghiệp khi xuất hiện cơ hội kinh doanh trên thị trường,
giúp doanh nghiệp tận dụng được thời cơ phát triển sản xuất.
Tín dụng ngắn hạn tạo áp lực buộc các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.
Một trong những nguyên tắc cơ bản là vay có hoàn trả ngốc lẫn lãi sau một
thời gian nhất định. Do vậy có thể trả nợ đúng hạn cho ngân hàng và tạo lập được
uy tín trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng, các doanh nghiệp phải hoạt động có
hiệu quả để trả nợ cho ngân hàng.
Trang 20

Như vậy, tín dụng ngân hàng cũng là một yếu tố kích thích sản xuất của doanh
nghiệp, thúc đẩy đổi mới công nghệ và cải tiến mẫu mã sản phẩm để có thể rút ngắn
chu kỳ sản xuất, đưa nhanh sản phẩm vào lưu thông, tạo lập chỗ đứng trên thị
trường.
Đối với các doanh nghiệp lớn, công việc sản xuất đang phát triển thì phần lớn
vốn lưu động đều vay ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp còn ký hợp đồng ứng trước
để có thể linh hoạt trong việc vay vốn, đáp ứng các cơ hội kinh doanh. Do tính chất
của tín dụng ứng trước là doanh nghiệp phải trả lãi kể cả trên phần dư nợ vay chưa
sử dụng đến. Do đó bắt buộc các doanh nghiệp phải quay vốn nhanh và tính toán
hoạt động kinh doanh có hiệu quả, mang lại lợi nhuận cho cả doanh nghiệp và cả
cho ngân hàng.
Nói tóm lại, tín dụng ngắn hạn không chỉ giúp các doanh nghiệp có được
nguồn bổ sung nguồn vốn lưu động mà còn là động lực giúp các doanh nghiệp làm
ăn có hiệu quả, trước là để trả các khoản nợ vay và sau là để phát triển doanh
nghiệp.
3.3.3. Đối với ngân hàng.
Hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng đã đảm bảo
nguồn thu chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đó là công cụ để tạo
nên lợi nhuận và phòng chống rủi ro của ngân hàng. Trong quá trình hoạt động của
các ngân hàng, các nhà quản trị ngân hàng phải quan tâm đến các vấn đề : Phải tạo
được nguồn thu bù đắp được các chi phí( chi phí huy động vốn, chi phí trả lương,
chi phí quản lý... Mặt khác phải đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng. Tín
dụng ngắn hạn có thể giúp các nhà quản trị giải quyết vấn đề này.
3.4. Các quy định trong hoạt động tín dụng ngắn hạn.
3.4.1. Nguyên tắc tín dụng:
Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
-Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
-Phải hoàn trả nơ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng
tín dụng.
Trang 21

-Việc đảm bảo tiền vay phải thực hiện đúng quy định của chính phủ và ngân
hàng nhà nước.
3.4.2. Điều kiện vay vốn.
Ngân hàng sẽ xem xét và quyết định cho khách hàng vay khi khách hàng có đủ
các điều kiện:
*Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu quy định của
pháp luật.
*Có khả năng đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. Cụ thể :
-Đối với pháp nhân phải có vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình sản xuất
kinh doanh. Đối với hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, cá nhân, công ty
hợp danh, mức vốn tự có tham gia trực tiếp vào phương án sản xuất kinh doanh,
dịch vụ, đời sống tối thiểu bằng 20% nhu cầu vốn thực hiện phương án.
-Sản xuất kinh doanh có lãi hoặc không bị lỗ, nếu bị lỗ thì phải có dự án khả
thi khắc phục hoặc cơ quan có thẩm quyền xác nhận bù lỗ.
-Có tình hình tài chính lành mạnh.
-Khách hàng phải mua bảo hiểm tài sản là đối tượng vay vốn.
*Mục đích sử dụng vốn hợp pháp.
*Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh khả thi.
*Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay của NHNN.
3.4.3. Đối tượng cho vay.
*Giá trị vầt tư hàng hoá trong các khâu dự trữ, lưu thông và các chi phí cấu
thành giá mua hoặc giá thành sản phẩm, các khoản chi phí khác để doanh nghiệp
tiến hành phương án sản xuất kinh doanh.
*Số tiền thuế xuất nhập khẩu khách hàng phải nộp để làm thủ tục xuất khẩu
mà giá trị lô hàng xuất khẩu đó tổ chức tín dụng có tham gia cho vay. Ngân hàng
không cho vay ngắn hạn để nộp khấu khao, nộp thuế và phần lãi định mức(đối với
các xí nghiệp xây lắp). Những vầt tư hàng hoá là những đối tượng vay vốn có khả
Trang 22
năng luân chuyển. Ngân hàng không cho vay vốn để mua vật tư, hàng hoá ứ đọng
hoặc để thực hiện những khối lượng thi công ngoài kế hoạch vốn đầu tư của Nhà

Nước đã ghi, ngoài thiết kế dự án hoặc nguồn vốn chưa rõ nguồn vốn đầu tư.
3.4.4. Thời hạn cho vay.
Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với các chu kỳ sản xuất kinh doanh
và khả năng trả nợ của khách hàng, nhưng tối đa không quá 12 tháng.
3.4.5. Lãi suất cho vay.
Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận phù hợp
với quy định của NHNN về lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng.
Tổ chức tín dụng có trách nhiệm công bố công khai các mức lãi suất cho vay cho
khách hàng biết. Tuỳ các mức độ quan hệ của ngân hàng và khách hàng mà có các
mức độ ưu tiên về lãi suất khác nhau. Nếu khoản vay quá hạn trả nợ thì phải áp
dụng lãi suất quá hạn.
Phương pháp xác định lãi suất cho vay được xác định trước khi cho vay dựa
trên cơ sở lãi suất cơ bản.
Tại Việt Nam lãi suất cho vay ngắn hạn do tổng giám đốc tổ chức tín dụng ấn
định trong phạm vi khung lãi suất do NHNN ấn định trong từng thời kỳ.
3.4.6. Mức cho vay:
Tổ chức tín dụng căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỷ lệ cho vay tối
đa so với giá trị tài sản làm bảo đảm tiền vay, khả năng trả nợ của khách hàng và
khả năng nguồn vốn của mình để quyết định mức cho vay nhưng không được vượt
quá mức quy định tại điều 79 của Luật các tổ chức tín dụng.
Ngân hàng xây dựng mức cho vay đối với tong doanh nghiệp trên cơ sở vốn
vay chỉ bổ sung cho vốn lưu động thiếu, sau khi doanh nghiệp đã tận dụng hết vốn
tự có. Các nguồn vốn khác bao gồm cả vốn được các chủ đầu tư ứng trước khi
doanh nghiệp trúng thầu.
Đối với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có nguồn thu ổn định, tình
hình tài chính lành mạnh, có quan hệ vay vốn thường xuyên và có tín nhiệm đối với
Trang 23
khách hàng, ngân hàng có thể cho vay theo hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng là
giới hạn dư nợ tối đa mà ngân hàng cam kết cho khách hàng vay trong một thời hạn
nhất định và được xác định như sau:

Mức
vốn vay
quý
=
Chi phí cần thiết
cho quá trình hoạt
động kinh doanh
quý kế hoạch.
Vòng quay VLĐ
quý
-
Vốn tự
có và
coi như
tự có
-
Các
khoản
Huy
động
khác.
-
Vốn
ứng
trước
của chủ
đầu tư
1. Chi phí cần thiết để sản xuất kinh doanh quý, kỳ hoặc thời vụ kế hoạch là
giá trị sản lượng thực hiện trong quý, kỳ hoặc thời vụ chuẩn bị làm loại trừ đi các
khoản khấu hao, thuế, lãi định mức và các khoản không thuộc đối tượng cho vay

khác.
2. Là vốn lưu động tự có của khách hàng.
Ngoài ra hạn mức tín dụng dựa trên cơ sở:
-mức dư nợ cao nhất
-mức cho vay tối đa theo quy định của pháp luật
-mức cho vay tối đa theo quyết định của chính sách tín dụng mỗi ngân hàng
thương mại.
-Đảm bảo tiền vay.
Đối với những doanh nghiệp có nguồn thu không thay đổi, các doanh nghiệp
doanh nghiệp có quan hệ không thường xuyên với ngân hàng, các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh, hộ gia đình.. .ngân hàng thường áp dụng cho vay từng món trên
cơ sở thẩm định hồ sơ vay vốn của khách hàng, ngân hàng xác định được nhu cầu
vay vốn của doanh nghiệp và quyết định mức cho vay, thời hạn, phương thức trả nợ
đối với từng doanh nghiệp cụ thể. Mức cho vay được xác định:
Trang 24
Mức vốn
vay
=
Tổng nhu
cầu vốn vay
-
Vốn tự
huy động
-
Vốn tự có và coi
như tự có.
3.4.7. Giải ngân và thu nợ.
Tuỳ theo nhu cầu vốn của doanh nghiệp trong từng thời điểm và những điều
kiện cụ thể khác mà ngân hàng thực hiện giải ngân theo đúng kế hoạch thoả thuận.
Khi đến hạn ngân hàng tiến hành thu nợ đối với các khoản cho vay. Doanh

nghiệp có trách nhiệm trả nợ theo phương thức thoả thuận và đúng hạn.
Nếu doanh nghiệp không tự động trả nợ khi đến hạn thì ngân hàng tự động
trích tiền gửi của khách hàng hoặc gửi giấy báo nhờ ngân hàng mà khách hàng có tài
khoản thu hộ. Trong trường hợp đến hạn mà doanh nghiệp không trả được nợ và
không được gia hạn nợ thì ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ
quá hạn.
3.4.8. Quy trình cho vay ngắn hạn.
Cũng như các loại hình cho vay khác, cho vay ngắn hạn tuân theo một quy
trình nhất định từ khâu thẩm định khách hàng, xét duyệt cho vay, ký kết hợp đồng
cho đến giải ngân và thu nợ.
Bước 1: Hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và lập hồ sơ vay vốn.
Khi khách hàng đến đề xuất yêu cầu vay vốn, cán bộ tín dụng hướng dẫn
khách hàng cụ thể và đầy đủ về các điều kiện vay vốn. Nếu khách hàng đồng ý thì
hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn.
Hồ sơ vay vốn gồm :
-giấy tờ chứng nhận về tư cách pháp nhân hoặc thể nhân.
-giấy đề nghị vay vốn
-phương án sản xuất kinh doanh và phương án trả nợ.
-các báo cáo tài chính thời điểm gần nhất(bảng tổng kết tài sản và bảng quyết
toán lỗ lãi). Nếu là doanh nghiệp tư nhân đòi hỏi phải có kiểm toán.
Trang 25

×