Tải bản đầy đủ (.docx) (14 trang)

PHÊ PHÁN MỘT SỐ LUẬN ĐIỂM PHỦ NHẬN NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (105.21 KB, 14 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA: KHÁCH SẠN – DU LỊCH

THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Đề tài: PHÊ PHÁN MỘT SỐ LUẬN ĐIỂM PHỦ NHẬN
NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Lớp HP:
Nhóm:
GVGD:

Hà Nội, 10/2020


Lời nói đầu
Trong xã hội có giai cấp và nhà nước, quyền lực của nhân dân được thể chế hóa
bằng chế độ nhà nước và pháp luật, theo đó dân chủ cũng được thực hiện dưới hình thức
nhà nước với các tên thường gọi là” chính thể dân chủ” “ chế độ dân chủ” hay đơn giản
hơn là “ nền dân chủ”.
Dân chủ với những nội dung và hình thức biểu hiện của nó ln thay đổi, biến đổi
từ xã hội này sang xã hội khác trong suốt chiều dài lịch sử. Tức là dân chủ bị quy định bởi
các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của các quốc gia – dân tộc khác nhau,
qua các thời kì lịch sử khác nhau và dân chủ cũng luôn phát triển trên cơ sở phát triển của
các điều kiện đó. Mỗi bước phát triển của kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội đều dẫn tới
những bước phát triển kéo theo của dân chủ. Ngược lại, sự phát triển dân chủ bao giờ cũng
tác động mạnh mẽ trở lại đối với sự phát triển của kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội.
Qua đó có thể thấy vẫn đề địi đa ngun chính trị, đa đảng đối lập xuất hiện và
được bàn luận, đề cập nhiều từ thế kỷ XIX, khi giai cấp tư sản đang độc quyền thống trị xã
hội. Lúc đầu, tư tưởng “ đa ngun luận” nhằm mục đích ngăn chặn tình trạng độc quyền,
mất dân chủ của giới tài phiệt và một số chính trị gia tư sản , bảo vệ quyền lợi của các tầng


lớp dân cư và một số nhóm nhỏ trong xã hội. Tuy nhiên, tư tưởng đa ngun luận khơng
đạt được mục đích của mình là dân chủ hóa xã hội mà chỉ hình thành nên một số đảng phái
trong xã hội nhằm phân chia, tranh giành quyền lực lẫn nhau. Để hiểu rõ hơn về vẫn đề này
chúng ta cùng nhau tìm hiểu sau vào bản chất của đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập của
nền dân chủ trên thế giới và cũng như ở Việt Nam.


Nội dung
I. NHẬN DIỆN MỘT SỐ LUẬN ĐIỂM PHỦ NHẬN NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA
1. Dân chủ không mang bản chất giai cấp
Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, là quyền lực làm chủ của nhân dân trong
các lĩnh vực đời sống xã hội của đất nước; dân chủ là một hình thức nhà nước gắn với giai
cấp thống trị do đó dân chủ ln mang bản chất giai cấp.
Có thể nhận diện dân chủ là một giá trị xã hội phản ánh những quyền cơ bản của
con người; là một phạm trù chính trị gần với các hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp
cầm quyền; là một trong những nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị- xã hội; là
một phạm trù lịch sử gắn với quá trình ra đời phát triển của lịch sử xã hội nhân loại. Ở nền
dân chủ chủ nô “dân chủ mang bản chất của giai cấp chủ nô”, ở nền dân chủ tư sản “Dân
chủ mang bản chất của giai cấp tư sản”, ở nền dân chủ xã hội chủ nghĩa “dân chủ mang
bản chất của giai cấp cơng nhân”. Tùy từng thời kì mà dân chủ biểu hiện cho giai cấp cầm
quyền - giai cấp nắm giữ tư liệu sản xuất - của nhà nước đó. Do vậy, dân chủ mang bản
chất giai cấp. Qua đó khẳng định rằng luận điểm “ dân chủ khơng mang bản chất” là sai
trái , phản cách mạng, đi ngược quy luật của tự nhiên cần phải lên án, phê phán quan điểm
này.
2. Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có dân chủ
Có thể nhận diện đa ngun chính trị là nói đến hệ thống chính trị có nhiều cực, có
nhiều đảng phái đại biểu cho những lợi ích đối lập nhau được tự do hoạt động, đó là một
chế độ đa đảng. Đa nguyên trong khoa học chính trị là một thế giới quan, mơ tả sự đa diện
của các thế lực xã hội, đóng một vai trị trong cộng đồng chính trị. Trong thế giới quan này,

quyền hành không tập trung lại một nơi, mà phân chia ra cho nhiều nhóm khác nhau, độc
lập với nhau, nhân loại khơng chỉ có một con đường tiến hóa, xã hội có thể hướng về nhiều
lý tưởng khác nhau, con người không bắt buộc chỉ tôn thờ cùng một giá trị, và mỗi giá trị
lại có thể được nhận diện và thực hiện dưới nhiều khía cạnh riêng biệt. Chính V.I.Lênin đã
từng khẳng định: “Trong chế độ dân chủ tư sản, bọn tư bản dùng trăm phương nghìn kế, chế độ dân chủ “thuần túy” càng phát triển, thì những mưu kế đó càng tinh xảo và có hiệu
quả, - để gạt quần chúng ra, không cho họ tham gia quản lý nhà nước”.
Đa nguyên chính trị là nói đến hệ thống chính trị có nhiều cực, nhiều đảng phái đại
biểu cho những lợi ích đối lập nhau được tự do hoạt động, đó là một chế độ đa đảng. Chế
độ đa đảng không phải là dấu hiệu của dân chủ, chế độ một đảng không phải là nguyên
nhân của mất dân chủ. Cái gốc để đảm bảo dân chủ hay không dân chủ là tư liệu sản xuất


nằm trong tay ai. Dưới chủ nghĩa xã hội, tư liệu sản xuất nằm trong tay nhân dân lao động
và họ là người làm chủ xã hội. Dưới chủ nghĩa tư bản, tư liệu sản xuất nằm trong tay một
thiểu số nhà tư bản, nền dân chủ đó là quyền làm chủ của một nhóm tư bản độc quyền.
Quần chúng nhân dân chỉ là những người bị thống trị.
Chế độ đa đảng đối lập trong hệ thống chính trị tư sản chỉ là sự phân chia quyền
lực giữa các phe cánh của một đảng lớn duy nhất là đảng của những nhà tư bản độc quyền.
Khơng có một nhà nước nào khơng phải là nhà nước chun chính của một giai cấp. Chỉ có
giai cấp tư sản khơng dám cơng khai thừa nhận điều đó mà thơi. Thực chất, chế độ đa đảng
đối lập ở phương Tây, cũng dựa trên cơ sở nhất ngun chính trị, vì tất cả các đảng cánh
hữu đều nhằm phục vụ chế độ tư bản. Qua tổng tuyển cử, đảng có đa số phiếu thì lập chính
phủ điều hành cơng việc, các đảng khác là đối lập, mà chính các học giả tư sản gọi là đối
lập trung thành, nghĩa là không thách thức các thể chế chủ yếu của chế độ tư bản, chỉ phê
phán và phản đối một số chính sách cụ thể của chính phủ. Rõ ràng, tính nhất nguyên chính
trị của nhà nước tư sản càng khẳng định không bao giờ được lãng quên tính giai cấp của
nền dân chủ tư sản. V.I.Lênin khẳng định một cách dứt khoát rằng: “…đảng thống trị của
chế độ dân chủ tư sản chỉ cho một đảng tư sản khác được quyền bảo hộ thiểu số; cịn đối
với giai cấp vơ sản, thì trong mọi vấn đề trọng đại, sâu sắc, cơ bản thay cho quyền bảo hộ
thiểu số thì có luật giới nghiêm hay những cuộc tàn sát. Chế độ dân chủ càng phát triển,

thì trong trường hợp có sự chia rẽ về chính trị sâu sắc và nguy hiểm cho giai cấp tư sản,
nó càng tiến gần đến tàn sát hay nội chiến”.


II. PHÊ PHÁN MỘT SÔ LUẬN ĐIỂM PHỦ NHẬN NỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1.Dân chủ không mang bản chất giai cấp
1.

Các nền dân chủ xuất hiện trong lịch sử

Khi trình độ của lực lượng sản xuất phát triển, công cụ lao động cải tiến đã làm cho
năng suất lao động tăng lên, sản phẩm làm ra không chỉ thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của con
người mà còn tạo ra một số của cải dư thừa. Chính đây dẫn tới sự ra đời của chế độ tư hữu
và sau đó là giai cấp đã làm cho hình thức “dân chủ nguyên thủy” tan rã, nền dân chủ chủ
nô ra đời. Nền dân chủ chủ nô được tổ chức thành nhà nước với đặc trưng là dân tham gia
bầu ra Nhà nước. Khi đó nhà nước chủ nơ mới chính thức sử dụng danh từ “dân chủ”, tiếng
Hi Lạp cổ đại gọi là “demos” là ‘dân”, và “Kratos” là “quyền lực” nghĩa là quyền lực của
dân. Tuy nhiên, theo quy định của giai cấp cầm quyền chỉ gồm giai cấp chủ nô và phần nào
thuộc về công dân tự do, đa số cịn lại khơng phải là “dân” mà là “nơ lệ” và họ cũng không
được tham gia vào công việc của Nhà nước. Nền dân chủ chủ nô cũng chỉ thực hiện dân
chủ cho thiểu số, quyền lực của dân đã bó hẹp nhằm duy trì, bảo vệ, thực hiện lợi ích của
“dân” mà thơi.
Cùng với sự tan rã của chế độ chiếm hữu nơ lệ, lịch sử lồi người bước vào thời kỳ
thống trị của nhà nước chuyên chế phong kiến, chế độ dân chủ chủ nô đã bị xóa bỏ và thay
vào đó là chế độ độc tài chuyên chế phong kiến. Nhưng chế độ phong kiến không được
thừa nhận là một chế độ dân chủ.
Đến cuối thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XV, giai cấp tư sản với những tiến bộ về tư do,
công bằng, dân chủ đã mở đường cho sự ra đời của nền dân chủ tư sản. Dân chủ tư sản ra
đời là một bước tiến lớn nhất của nhân loại với những giá trị nổi bật về quyền tư do, bình
đẳng, dân chủ. Tuy nhiên, do được xây dựng trên nền tảng kinh tế là chế độ tư hữu về tư

liệu sản xuất, nên trên thực tế, nền dân chủ tư sản vẫn là nền dân chủ của thiểu số những
người nắm giữ tư liệu sản xuất đối với đại đa số nhân dân lao động. Toàn bộ “thiết chế
được giai cấp tư sản dựng lên để nhằm mục đích duy nhất là bảo vệ địa vị thống trị của giai
cấp tư sản, để truyền bá tư tưởng tư sản, để mị dân chống lại tư tưởng về tự do, dân chủ
của giai cấp vô sản. Giai cấp tư sản không bao giờ nới rộng dân chủ cho người lao động”.
Cho đến khi cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thắng lợi (1917), một
thời đại mới mở ra – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân lao
động ở nhiều quốc gia giành được quyền làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội thiết lập Nhà
nước công – nông (nhà nước xã hội chủ nghĩa), thiết lập nền dân chủ vô sản (dân chủ xã
hội chủ nghĩa) để thực hiện quyền lực của đại đa số nhân dân. Đặc trưng cơ bản của nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực lực củ đại đa số nhân dân – tức là xây dựng nhà nước dân
chủ thực sự, dân làm chủ nhà nước và xã hội, bảo vệ quyền lợi cho đại đa số nhân dân.


2.

So sánh các nền dân chủ
Tiêu chí

Mục đích

Nền dân chủ cho đại đa số nh

Bản chất

Mang bản chất của giai cấp c

Cách thức

Do Đảng Cộng sản lãnh đạo,


Cơ sở kinh tế

Chế độ công hữu về tư liệu sả

2. Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có dân chủ
2.1 Thực chất của đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập
a. Đa nguyên chính trị
Đa nguyên theo nghĩa tổng quát là sự xác nhận và chấp nhận tính đa dạng. Khái
niệm này thường được dùng theo nhiều cách khác nhau trong nhiều vấn đề khác nhau.
Trong khoa học chính trị là một thế giới quan, mô tả sự đa diện của các thế lực xã hội, mà
đóng một vai trị trong cộng đồng chính trị.
Đa nguyên chính trị là một khuynh hướng xã hội - triết học, tuyệt đối hóa sự đa
dạng đối kháng của các nhóm, đảng phái, tổ chức chính trị khác nhau trong một xã hội nhất
định. Nó xuất hiện vào đầu thế kỷ XVIII, thời điểm này giai cấp tư sản đóng vai trị là lực
lượng xã hội tiến bộ, tích cực trong phong trào đấu tranh chống phong kiến, bảo vệ quyền
bình đẳng của các nhóm xã hội có lợi ích khác nhau, phát triển quyền tự do dân chủ tư sản.
Tuy nhiên, khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc
quyền, ý nghĩa tích cực ban đầu của đa nguyên, đa đảng dần biết mất.
b.

Đa Đảng đối lập


Hệ thống đa đảng là hệ thống mà ở đó có hai hoặc nhiều hơn các đảng phái chính
trị có khả năng giành quyền điều hành chính phủ một cách độc lập hay liên minh với nhau.
Chế độ đa đảng trong hệ thống chính trị tư sản chỉ là sự phân chia quyền lực giữa
các phe cánh của một đảng lớn duy nhất là đảng của những nhà tư bản độc quyền. Khơng
có một nhà nước nào khơng phải là nhà nước chun chính của một giai cấp. Chỉ có giai
cấp tư sản không dám công khai thừa nhận điều đó mà thơi.

c.

Thực chất về vấn đề đa ngun đa đảng chính trị

Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là sự phân chia, tranh giành quyền lực của các
lực lượng chính trị trong xã hội khi khơng có sự điều hịa về lợi ích; đó cũng chính là một
hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp. Hiện nay, hầu hết các nước tư bản đều thực hiện đa
nguyên, đa đảng. Bề ngồi thì các đảng chính trị có vẻ như được tự do, bình đẳng tranh cử
để trở thành đảng cầm quyền, chi phối Quốc hội và Chính phủ. Nhưng thực chất bên trong,
chỉ có những đảng nào được sự hậu thuẫn của các thế lực tư bản độc quyền mới có thể giữ
được vai trị lãnh đạo và suy cho cùng thì tất cả đều bảo vệ cho lợi ích duy nhất của một
giai cấp, đó là giai cấp tư sản.
Đa nguyên, đa đảng cũng có những yếu tố tích cực nhất định nhưng thực chất đa
nguyên, đa đảng không đồng nhất với dân chủ. Đa nguyên, đa đảng không phải là yếu tố
duy nhất, nền tảng duy nhất bảo đảm được dân chủ đích thực mà bản chất của dân chủ là
quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ là một giá trị xã hội, được hình thành và bảo đảm
bởi nhiều yếu tố, trong đó có lực lượng cầm quyền xã hội, cơ chế quản lý xã hội và trình
độ làm chủ của người dân... Vì vậy, một đảng lãnh đạo không đồng nhất với độc tài lãnh
đạo, không đồng nhất với mất dân chủ. Không nhất thiết cứ đa nguyên chính trị, đa đảng
đối lập mới có dân chủ thực sự và khơng có đa ngun, đa đảng thì khơng có dân chủ.
Ngồi ra, đa ngun chính trị là sản phẩm của hồn cảnh lịch sử tồn tại nhiều đảng
phái có những lợi ích căn bản mâu thuẫn với nhau. Do vậy, nếu đa nguyên chính trị thì tất
yếu dẫn tới tồn tại nhiều đảng phái đối lập, song khơng thể có điều ngược lại, nếu các đảng
khơng có những lợi ích căn bản đối lập. Vì vậy, đa nguyên hay nhất nguyên là xuất phát từ
địi hỏi của thực tiễn lịch sử chứ khơng phải là khuôn mẫu cho mọi nền dân chủ.
Giai cấp tư sản cho rằng nền dân chủ của họ là nền dân chủ thuần t, dân chủ tư sản
khơng có tính chất chuyên chính, nhà nước tư sản với cơ chế tam quyền phân lập mới có
thể đảm bảo được dân chủ.
Về vấn đề này, khi xem xét dân chủ với tư cách là một phạm trù chính trị gắn với
một kiểu nhà nước và một giai cấp cầm quyền thì sẽ khơng có dân chủ phi giai cấp, dân

chủ chung chung. Trong xã hội có giai cấp, việc thực hiện dân chủ cho những tập đoàn
người này đã loại trừ hay hạn chế dân chủ của tập đoàn người khác. Mỗi chế độ dân chủ
gắn liền với nhà nước đều mang bản chất của giai cấp thống trị. Vì vậy, như đã phân tích ở


trên, dân chủ tư sản không phải là nền dân chủ thuần túy, mà đó là nền chun chính của
giai cấp tư sản đối với đông đảo nhân dân lao động thông qua nhà nước tư bản chủ nghĩa.
Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước xã hội chủ nghĩa là thiết chế chủ yếu
thực thi dân chủ do giai cấp cơng nhân lãnh đạo thơng qua chính đảng của nó. Trong hệ
thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nhà nước là thiết chế có chức năng trực tiếp nhất trong
việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện những yêu cầu dân chủ chân chính của nhân dân. Nó
cũng là cơng cụ sắc bén nhất trong cuộc đấu tranh với mọi mưu đồ đi ngược lại lợi ích của
nhân dân; là thiết chế tổ chức có hiệu quả việc xây dựng xã hội mới; là công cụ hữu hiệu
để vai trò lãnh đạo của đảng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội được thực hiện.


Đa ngun chính trị, đa đảng đối lập khơng bảo đảm được dân chủ đích thực. Bản
chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Muốn thực hiện được nó thì trước
tiên người lao động phải xây dựng nên một chính đảng cùng một chính phủ duy nhất
đại diện cho quyền lực của mình. Với một chế độ xã hội, thì hoặc quyền lực thuộc về
giai cấp bóc lột hoặc thuộc về giai cấp bị bóc lột mà thơi. Khơng có thứ quyền lực
hay dân chủ cho mọi giai cấp. Bản chất của đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập
trong xã hội tư bản chỉ nhằm một mục tiêu duy nhất là bảo đảm quyền lực cho giai
cấp tư sản bóc lột. Vậy đa ngun, đa đảng khơng bao giờ tiến tới một nền dân chủ
đích thực.

2.2 Chứng minh đa nguyên đa đảng không phù hợp với Việt Nam
Như chúng ta đã biết trong thời gian qua, thực hiện chiến lược “Diễn biến hịa bình”
chống phá cách mạng Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Nhằm lý giải, cổ súy cho luận điệu “đa nguyên, đa đảng”, các thế lực thù địch cho rằng, đa

nguyên, đa đảng mới bảo đảm dân chủ rộng rãi trong xã hội, cịn chế độ chính trị một đảng
là đối lập với dân chủ, rằng muốn thực hiện dân chủ nhất thiết phải chấp nhận đa nguyên,
đa đảng. Sự thực có phải như vậy? thực chất Việt Nam có cơ sở cho sự tồn tại của “đa
ngun, đa đảng” hay khơng?
Vấn đề địi đa ngun chính trị, đa đảng đối lập không phải là vấn đề mới, nó xuất
hiện nhiều từ thế kỷ XIX, khi giai cấp tư sản đang độc quyền thống trị xã hội. Lúc đầu tư
tưởng đa nguyên luận nhằm mục đích ngăn chặn tình trạng độc quyền, mất dân chủ của
giới tài phiệt và một số chính trị gia tư sản, bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp dân cư. Tuy
nhiên nó khơng đạt được mục đích của mình là dân chủ hóa xã hội mà chỉ hình thành nên
một số đảng phái trong xã hội nhằm phân chia, tranh giành quyền lực lẫn nhau. Đặc biệt,


sau Cách mạng Tháng Mười Nga, chính quyền của giai cấp vô sản ra đời, Đảng Cộng sản
nắm quyền lãnh đạo một số nước, một số người chủ yếu là các học giả, các chính trị gia tư
sản, những người đại diện cho giai cấp tư sản - giai cấp bị mất đi sự độc quyền chính trị xã
hội lại rùm beng mạnh mẽ vấn đề đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Theo họ, đa nguyên
chính trị, đa đảng đối lập sẽ tạo nên sự đa dạng, phong phú trong ý thức hệ tư tưởng và là
nhân tố bảo đảm cho một nền dân chủ thực sự.
Chúng ta khơng phủ nhận những yếu tố tích cực của đa nguyên, đa đảng, nhưng
thực chất đa nguyên, đa đảng không đồng nhất với dân chủ. Một đảng lãnh đạo không
đồng nhất với độc tài lãnh đạo, không đồng nhất với mất dân chủ. Khơng nhất thiết cứ đa
ngun chính trị, đa đảng đối lập mới có dân chủ thực sự và khơng có đa ngun, đa đảng
thì khơng có dân chủ.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, không tranh giành quyền lãnh đạo với ai. Trong
hơn 80 năm qua, ở Việt Nam cũng có thời kỳ đa đảng. Năm 1946, ngồi Đảng Cộng sản
cịn có sự tồn tại của hai đảng đối lập (Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mạng
đồng minh hội); khi quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam, hai đảng đó cũng cuốn gói
chạy theo. Có thời kỳ ngồi Đảng Cộng sản Việt Nam, cịn tồn tại Đảng Dân chủ Việt
Nam, Đảng Xã hội Việt Nam. Cả hai đảng này đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Sau đó hai đảng này đã tuyên bố tự giải tán và chỉ còn Đảng Cộng sản

Việt Nam. Vai trò độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sản phẩm tự
nhiên, mang tính khách quan của lịch sử đất nước.
Nhân dân Việt Nam đã thừa nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh
đạo, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân che
chở, xây dựng. Nhân dân Việt Nam trìu mến gọi Đảng Cộng sản Việt Nam là "Đảng ta".
Bài học từ sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xơ và Đơng Âu cịn ngun giá trị. Từ khi chấp
nhận bỏ Điều 6, Hiến pháp Liên Xô, đã dẫn đến tình trạng xuất hiện đa đảng và hậu quả là
Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, chế độ XHCN ở Liên Xô sụp đổ. Các tầng
lớp nhân dân Việt Nam nhận thức rõ hơn ai hết, nếu chấp nhận đa đảng, chế độ XHCN sẽ
sụp đổ, đất nước sẽ rối loạn, đời sống nhân dân cả vật chất và tinh thần rơi vào tay các thế
lực không trung thành với lợi ích của giai cấp cơng nhân, nhân dân lao động và của cả dân
tộc ta.
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định trong thực tiễn
cách mạng. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thực tế kiểm nghiệm,
nhất là vào những bước ngoặt của lịch sử. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã giải quyết
thành cơng cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc cuối thế kỷ 19, đầu
thế kỷ 20. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo các cuộc kháng chiến
chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc, đưa sự nghiệp đó đến thắng lợi hồn tồn. Đảng
Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công sự nghiệp phát triển đất nước sau ngày 30-41975.
Khi chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào khủng hoảng, các đảng cộng sản ở Liên Xô và
Đông Âu đã tiến hành cải tổ, cải cách nhưng không thành công; bị đổ vỡ do đánh mất vai


trị lãnh đạo của mình. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo cơng cuộc đổi
mới tồn diện đất nước, giải quyết thành công cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội vào
những năm 80 của thế kỷ 20, đưa đất nước vững bước trên con đường đẩy mạnh cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại, đến giữa thế kỷ 21 trở thành nước công nghiệp hiện đại
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh

đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua mn vàn
khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng
Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các
cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm
1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ
quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên CNXH
với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 80 năm qua, nước ta từ một xứ thuộc
địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường
XHCN; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã
hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong
khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, khó khăn và thách thức cịn nhiều.
Trong lãnh đạo, Đảng có lúc cũng phạm sai lầm, khuyết điểm; có những sai lầm,
khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan.
Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn để tiếp tục
đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên
Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không bảo đảm được dân chủ đích thực. Bản
chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Muốn thực hiện được nó thì trước tiên
người lao động phải xây dựng nên một chính đảng cùng một chính phủ duy nhất đại diện
cho quyền lực của mình. Với một chế độ xã hội, thì hoặc quyền lực thuộc về giai cấp bóc
lột hoặc thuộc về giai cấp bị bóc lột mà thơi. Khơng có thứ quyền lực hay dân chủ cho mọi
giai cấp. Bản chất của đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong xã hội tư bản chỉ nhằm
một mục tiêu duy nhất là bảo đảm quyền lực cho giai cấp tư sản bóc lột. Trả lời phỏng vấn
và kết luận mới nhất của đoàn khảo sát Hoa Kỳ (6-2009) của các nhà khoa học Việt Nam
cho thấy rõ điều này: Giáo sư Paul Mishler (Trường Đại học bang Indiana) khẳng định:
“Mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học… đều do lỗi của hệ thống, lỗi từ chủ nghĩa tư bản
Mỹ gây ra”; “Nước Mỹ tự xưng là đa đảng nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng của

chủ nghĩa tư bản, dù là đảng Cộng hòa hay Dân chủ”… Với lý do đó, đa ngun, đa đảng
khơng bao giờ tiến tới một nền dân chủ đích thực.
Dư luận quốc tế, chính phủ và nhân dân các nước dân chủ, tiến bộ trên thế giới đánh
giá cao, ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ nhất nguyên ở Việt Nam. Trước những
thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh


đạo, dư luận quốc tế, chính phủ nhiều nước, các tổ chức quốc tế và nhân dân thế giới đã
bày tỏ sự khâm phục và ủng hộ chế độ chính trị ở Việt Nam. Nhiều đoàn đại biểu quốc tế
sang Việt Nam nghiên cứu và học tập kinh nghiệm về xây dựng sự ổn định chính trị xã hội.
Nhân chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, ngày 17-6-2007, tờ The
Straits Times đã viết: “Việt Nam là đất nước ổn định, người dân làm việc chăm chỉ và đang
trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Với những yếu tố này cộng lại, Việt Nam là mỏ vàng
cho các nhà đầu tư Mỹ nào biết nắm bắt cơ hội”.
Như vậy, thực chất luận điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mang nặng tính
chất mị dân, hết sức nguy hiểm, bởi rất dễ gây nên sự ngộ nhận, nhất là đối với những
người có nhận thức hạn chế. Từ đó, có thể gây nên sự mơ hồ, lẫn lộn, dẫn tới sự dao động
về tư tưởng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng
Việt Nam; gây nên sự phân tâm trong xã hội; làm suy giảm và mất dần niềm tin của nhân
dân. Cũng từ những luận điểm này, đã hướng đến việc xoá bỏ nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa, thiết lập nền dân chủ tư sản; nguy cơ gây nên những khó khăn trong q trình phát
triển của xã hội Việt Nam, nhất là làm cho chính trị - xã hội mất ổn định, kinh tế suy giảm,
văn hoá đạo đức xuống cấp, các mâu thuẫn và xung đột xã hội sẽ gia tăng, phá vỡ khối
đồn kết dân tộc. Từ đó, chắc chắn hậu quả đối với đất nước sẽ vô cùng lớn, chế độ xã hội
chủ nghĩa sẽ đứng trước nguy cơ bị sụp đổ, thành quả cách mạng bao nhiêu năm có được
sẽ tan vỡ; người dân không những không được dân chủ, mà xã hội cũng rơi vào rối loạn,
khủng hoảng, trì trệ, khơng phát triển được.


Dựa trên cơ sở khoa học cả về lý luận và thực tiễn, cho phép chúng ta khẳng định

dứt khốt rằng: đa ngun, đa đảng hồn tồn khơng phù hợp với Việt Nam.

Kết luận
Qua q trình tìm hiều, sự ra đời của một nền dân chủ mới – dân chủ xã hội chủ
nghĩa là tất yếu gắn liền với quá trình ra đời của chủ nghĩa xã hội. Dân chủ xã hội chủ
nghĩa thực hiện dưới nhiều hình thức, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và được
pháp luật xã hội chủ nghĩa bảo đảm. Có dân chủ hay khơng dân chủ, dân chủ nhiều hay dân


chủ ít, dân chủ thực sự hay dân chủ hình thức,... không tùy thuộc vào chế độ một đảng hay
nhiều đảng. Không phải thực hiện đa nguyên, đa đảng mới có dân chủ. Xét đến cùng và
quan trọng nhất có dân chủ hay không thể hiện ở chỗ quyền lực và quyền lợi có thuộc về
người dân hay khơng? Chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung và lý luận về dân chủ xã hội chủ
nghĩa nói riêng vẫn chứng minh được tính đúng đắn, khoa học của nó. Điều này càng được
thể hiện rõ qua thực tiễn thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta hơn 80 năm qua.
Dựa trên cơ sở khoa học cả về lý luận và thực tiễn, cho phép Việt Nam khẳng định
dứt khoát rằng: Ở Việt Nam hiện nay không cần và không chấp nhận chế độ đa nguyên, đa
đảng.
Vì vậy, để bảo vệ bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam, Đảng ta không ngừng củng cố, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa qua mỗi kỳ đại học và bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc
sống ở mỗi cấp trên tất cả các lĩnh vực.

Mục lục


Lời nói đầu

5


Nội dung

6

I.

Nhận diện một số luận điểm phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

1.

Dân chủ không mang bản chất giai cấp

2.

Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có dân chủ

II.

6
6

Phê phán một số luận điểm phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

1.

Dân chủ khơng mang bản chất giai cấp

2.

Đa ngun chính trị, đa đảng đối lập mới có dân chủ


Kết luận

18

6

7
10

7


BIÊN BẢN PHẢN BIỆN
Lớp: 2058HCMI0121
Nhóm thực hiện: 11
Đề tài thảo luận: Phê phán một số luận điểm phủ nhận nền dân chủ XHCN
1.Kỹ năng thuyêt trình

2.Kỹ năng thiết kế slide

3.Bố cục trình bày

4.Nội dung trình bày



×