Tải bản đầy đủ (.pdf) (48 trang)

Tài liệu Luận văn: "Thưc trạng và giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (844.53 KB, 48 trang )





LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Thưc trạng và giải pháp nhằm thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay”










MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
PHẦN I: LÍ LUẬN CHUNG 4
1. Khái niệm về đầu tư 4
a. Đầu tư. 4
b. Đầu tư nước ngoài 4
2. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
3. Tính tất yếu khách quan của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
a. Tính tất yếu của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. 5
b. Tính tất yếu khách quan phải thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam. 7
4. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các nước đang
phát triển 8


a. Tác động tích cực 8
b. Tác động tiêu cực 8
5. Các nhân tố ảnh hưởn đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp 9
nước ngoài
5.1. Luật đầu tư 9
5.2. Ổn định chính trị. 9
5.3. Cơ sở hạ tầng . 9
5.4. Đặc điểm thị trường của nước nhận vốn 9
5.5. Khả năng hồi hương của vốn 10
5.6. Chính sách tiền tệ. 10
5.7. Các chính sách kinh tế vĩ mô. 10
PHẦN II: TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI TẠI VIỆT NAM TỪ 1988 ĐẾN ĐẦU 2000 11
1. Thực trạng thu hút và sữ dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam từ
1988 đến đầu năm 2000. 11
a. Thời kì 1988 - 1990. 12
b. Thời kì 1991 - 1996. 12
c. Thời kì 1997 đến đầu năm 2000 14
2. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển
kinh tế - xã hộỉ của Việt Nam 14
3. Những tồn tại của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Việt Nam 16
3.1. Chính sách và pháp luật chưa hoàn thiện 16
3.2. Nguồn thu hút vốn hẹp 16
3.3 Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý 17
3.4. Hình thức đầu tư 18
3.5. Chuyển giao công nghệ 18
3.6. Hiệu quả đầu tư 18
3.7 Những tồn tại khác 18
4. Triển vọng của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

thời gian tới 19
PHẦN III: GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM CÓ HIỆU QUẢ. 20
1. Kinh nghiệm của một số nước 20
a. Các nước ASEAN 20
b. Trung Quốc 20
2. Các giải pháp 22
2.1. Các giải pháp trước mắt 22
2.2. Các giải pháp lâu dài 24
2.2.1. Phát triển nguồn nhân lực 24
2.2.2. Cải thiện môi trường pháp lí về đầu tư 26
2.2.3. Xúc tiến và lựa chọn đối tác đầu tư 27
2.2.4. Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng 27
2.2.5. Giữ vững ổn định chính trị 28
2.2.6. Xây dựng bộ máy nhà nước các cấp quản lí đầu tư nước ngoài mạnh về
mọi mặt 29
KẾT LUẬN 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31



1
LỜI MỞ ĐẦU

Vốn nước ngoài là một nhân tố cực kỳ quan trọng và cần thiết cho quá
trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở bất kỳ một nước hay một nền kinh tế
đang phát triển nào. Đặc biệt là trong giai đoạn hiên nay khi mà xu hướng mở
cữa hội nhập quốc tế đã trở thành phổ biến.
Hơn nữa nước ta là một nước nông nghiệp lạc hẩ
u trình độ kỷ thuật thấp

kém, năng suất lao động thấp, tích luỹ nội bộ thấp, lại chịu hậu quả nặng nề
của chiến tranh. Do dó vấn đề về vốn hiện nay đang là vấn đề nan giải và khó
giai quyết nhất. Trước tình hình đó Việt Nam đã thực thi nhiều giải pháp để
tạo nguồn vốn đặc biệt là các giải pháp nhằm thu hút nguồn vốn
đầu tư nứơc
ngoài. Tháng 12 năm 1987nước ta đã ban hành luật đầu tư nước ngoài, từ đó
đến nay đã có trên 60 quốc gia, vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt nam, trong
đó có những tập đoàn lớn như SONY, DEAWOO, FORD, HONDA …. Đầu
tư nước ngoài đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế nước
ta trong hơn mười năm qua, như giải quyết vấn đè về vốn, công nghệ
,nâng
cao trình độ quản lý ….
Do nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư nước ngoài
cũng như sự đóng góp của nó vào sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta
trong những năm qua, cho nên em đã chọn đề tài “Thưc trạng và giải pháp
nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay”.
Với trình độ hiểu bi
ết cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế cho
nên bài viết không tránh khỏi những thiếu só và sai lầm. Em rất mong được
sự góp ý của thầy cô giáo để học hỏi thêm và bổ sung cho bài viết được hoàn
thiện hơn.





2



3
PHẦN I
LÍ LUẬN CHUNG

1. CÁC KHÁI NIỆM VỀ ĐẦU TƯ.
a. Đầu tư.
Đầu tư là một hoạt động kinh tế, là một bộ phận của sản xuất- kinh
doanh của các doanh nghiệp. Nó có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng tiềm
lực của nền kinh tế nói chung của từng doanh nghiệp nói riêng, là động lực để
thúc đẩy xã hội đi lên. Do vậy, trứơc hết cầ
n tìm hiểu khái niệm về đầu tư.
Khái niệm:
Đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh những nguồn lực ở hiện tại (tiền, sức lao
động, của cải vật chất, trí tuệ ...) nhằm đạt được những kết quả có lợi cho chủ
đầu tư trong tương lai.
Về mặt địa lý, có hái loại hoạt động đầu tư:
- Hoạt động đầu t
ư trong nước.
- Hoạt động đầu tư nớc ngoài.
b. Đầu tư nước ngoài.
b.1. Khái niệm.
Đầu tư nước ngoài là phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để
tiến hành sản xuất- kinh doanh , dịch vụ với mục đích kiếm lợi nhuận và
những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định.
b.2 Bản chất và hình thức đầu tư nướ
c ngoài.
Xét về bản chất, đầu tư nước ngoài là những hình thức xuất khẩu tư bản,
một hình thức cao hơn xuất khẩu hàng hoá. Tuy nhiên, hai hình thức xuất
khẩu này lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ và bổ sung nhau trong
chiến lược xâm nhập, chiếm lĩnh thị trường của các nhà đầu tư nước ngoài.

Hoạt động buôn bán hàng hoá ở nước sở tại là bước đ
i tìm kiếm thị trường,
tìm hiểu luật lệ để có cơ sở ra quyết định đầu tư. Ngược lại, hoạt động đầu tư


4
tại các nước sở tại là điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài xuất khẩu máy
móc, vật tư, nguyên liệu và khai thác tài nguyên thiên nhiên của nước đó.
Hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra dưới hai hình thức:
Đầu tư trực tiếp ( Foreign- Direct- Investment: FDI ).
Đầu tư gián tiếp (Portgalio - Investment : PI ).
Trong đó đầu tư trực tiếp là hình thức chủ yếu còn đầu tư gián tiếp là
“bước đệm”, tiền
đề để tiến hành đầu tư trực tiếp.
Đầu tư trực tiếp là một hình thức đầu tư nước ngoài trong đó chủ đầu tư
đầu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn đầu tư vào các dự án nhằm dành
quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh, dịch vụ hoặc thương mại.
b.3 Đặc điểm c
ủa hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Thứ nhất, đây là hình thức đầu tư mà các chủ đầu tư được tự mình ra
quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về
lỗ, lãi. Hình thức đầu tư này mang tính khả thi và có hiệu quả cao, không có
những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế.
Th
ứ hai, chủ đầu tư nứơc ngoài điều hành toàn bộ hoặc một phần công
việc của dự án.
Thứ ba, chủ nhà tiếp nhận được công nghệ kỹ thuật tiên tiến, học hỏi
kinh nghiệm quản lý hiện đại... của nước ngoài.
Thứ tư, nguồn vốn đầu tư không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu mà còn

có thể được bổ sung, mở rộng t
ừ nguồn lợi nhuận thu được từ chủ đầu tư nư-
ớc ngoài.
2. CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI.
Theo xu hướng thế giới hiện nay, hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra
chủ yếu dưới các hình thức:
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
- Doanh nghiệp liên doanh.
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.


5
- Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển (BOT), hợp đồng xây dựng -
chuyển giao - kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT).
- Hợp đồng ký theo các hiệp định của chính phủ.
- Hợp đồng phân chia lợi nhuận, sản phẩm....
Theo qui định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam được diễn ra dưới ba hình
thức:
Mộtlà: Đầu t
ư thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết
giữa hai bên hoặc nhiều bên, gọi là các bên hợp doanh, qui định phân chia
trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư
kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập pháp nhân.
Hai là: Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều
bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp
định ký kết giữa chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài, hoặc là
doanh nghiệ
p có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam,
hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở

hợp đồng liên doanh.
Ba là: Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu
tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam.
Ngoài ra, các hình thức và môi trường thu hút vốn đầu tư là: khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao....
3. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ

NƯỚC NGOÀI.
a.Tính tất yếu khách quan của hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế thế giới, nhiều quốc gia đã đạt
được nhiều thành tựu to lớn trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế của
mình. Những quốc gia này đã có sự đầu tư rất lớn vào sản xuất và khai thác
các dạng tài nhuyên thiên nhiên. Khi trình độ phát triển kinh tế đạt
đến mức


6
cao, nhu cầu về vốn ở trạng thái bão hoà, dư thừa, cơ hội đầu tư ít, chi phí cao
thì khi đó các quốc gia có nhu cầu đầu tư vào các quốc gia khác trên thế giới
nhằm tậm dụng những lợi thế về lao động, tài nguyên thiên nhiên, thị trờng...
của những nước đó. Mặt khác, các quốc gia có những lợi thế đó thì nhu cầu về
vốn cho phát triển kinh tế rất bức xúc. Vì vậy, họ
đã có nhiều chính sách để
thu hút những nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào. Có nhu cầu vốn, có nguốn
cung cấp từ đó làm xuất hiện những dòng vốn qua lại giữa các quốc gia. Các
dòng vốn di chuyển tuân theo đúng qui luật từ nơi nhiều đến nơi ít một cách
khách quan, do vậy hoạt động đấu tư ra nước ngoài mang tính tất yếu khách
quan.
Ngày nay, hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra một cách sôi nổ

i và rộng
khắp trên toàn cầu. Các luồng vốn đầu tư không chỉ di chuyển từ các nước
phát triển, nơi nhiều vốn sang các nước đang phát triển, nơi ít vốn, mà còn có
sự giao lưu giữa các quốc gia phát triển vơi nhau. Hiện tượng này xuất phát từ
những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra nhanh
chóng với qui mô và tốc độ ngày càng lớn tạo nên một nền kinh t
ế thị trờng
toàn cầu trong đó tính phụ thuộc lãn nhau của các nền kinh tế mỗi quốc gia
ngày càng tăng. Quá trìng này diễn ra nhanh chóng sau thời kỳ chiến tranh đã
chi phối thế giới trong nửa thế kỷ, làm cho các nền kinh tế của từng quốc gia
đều theo xu hướng mở cửa và theo quĩ đạo của kinh tế thị trường, bằng chứng
là phần lớn các quốc gia đã gia nhập tổ chức thươ
ng mại thế giới (WTO),
chấp nhận xu hớng tự do hoá thương mại và đầu tư. Trong điều kiện trình độ
phát triển sản xuất, khả năng về vốn và công nghệ, nguồn tài nguyên thiên
nhiên, mức độ chi phí sản xuất ... ở các nước khác nhau thì nguồn vốn đầu tư
nước ngoài sẽ tuân theo những qui luật của thị trường vốn là chảy từ nơi thiều
đến nơi thi
ếu vốn với mục tiêu lợi nhuận.
Mặt khác, cuộc cách mạng khoa học- công nghệ đã tạo nên sự biến đổi
nhanh chóng và kì diệu của sản xuất. Thời gian từ khâu nghiên cứu đến ứng


7
dụng vào sản xuất rất ngắn, chu kỳ sống của sản phẩm ngày càng ngắn lại, sản
phẩm hàng hoá phong phú và đa dạng hơn. Đối với doanh ngiệp, nghiên cứu
và đổi mới thiết bị có ý nghĩa sống còn cho sự tồn tại và phát triển. Còn đối
với các quốc gia thì việc làm chủ và đi đầu trong khoa học - công nghệ sẽ
quyết định vị trí lãnh đạo chi phối hay phụ thuộc vào các n

ước khác trong tư-
ơng lai. Chính vì vậy, cuộc đua giữa các quốc gia đặc biệt là các nước phát
triển bên thềm thế kỷ XXI diễn ra ngày càng quyết liệt. Bên cạnh đó, sự hát
triển một cách nhanh chóng của cách mạng thông tin, bưu chính viễn thông,
phương tiện giao thông vận tải đã khắc phục sự xa cách về không gian, giúp
các chủ đầu tư thu thập xử lý thông tin kịp thời, đưa ra những quyết định đầu
t
ư, điều hành sản xuất kinh doanh đúng đắn mặc dù ở xa hàng vạn km. Những
điều này đã tạo nên một sự dịch chuyển vốn giữa các quốc gia, mở rộng qui
mô để chuyển vốn giữa các quốc gia, mở rộng qui mô để chuyển vốn trên
toàn cầu đến các địa chỉ đầu tư hấp dẫn.
Tại các nước công nghiệp phát triển, khi trình độ kinh tế phát triển

mức cao đã góp phần nâng cao mức sống và khả năng tích luỹ vốn của các n-
ước này. Điều đó, một mặt đẫn đến hiện tượng “thừa” tương đối vốn ở trong
nước, mặt khác làm cho chi phí tiền lương cao, nguồn tài nguyên thu hẹp và
chi phí khai thác tăng đẫn đến giá thành sản phẩm tăng, tỷ suất lợi nhuận giảm
đần, sức cạnh tranh trên thị trờng yếu. Chính vì l
ẽ đó, các nhà đầu tư trong
nước tìm kiếm cơ hội đầu tư ở nớc ngoài để giảm chi phí sản xuất, tìm kiếm
thị trường mới, nguồn nguyên liệu mới nhằm thu lợi nhuận cao.
Hiện nay, trình độ phát triển kinh tế giữa các nước công nghiệp phát
triển và các nước đang phát triển ngaỳ càng giãn cách nhưng sự phát triển của
một nền kinh tế toàn cầu đang đòi h
ỏi phải kết hợp chúng lại. Các nước phát
triển không chỉ tìm thấy ở các nước đang phát triển những cơ hội đầu tư hấp
dẩn do chi sản xuất giảm, lợi nhuận cao, thuận lợi trong việc dịch chuyển thiết
bị, công nghệ lạc hậu mà còn thấy rằng sự thịnh vượng của các nước này sẽ
nâng cao sức mua và mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm. Ngược lại, các



8
nước đang phát triển cũng đang trông chờ và mong muốn thu hút được vốn
đầu tư, công nghệ của các nước phát triển để thực hiện công nghiệp hoá, khắc
phục nguy cơ tụt hậu ngày càng xa.
b. Tính tất yếu khách quan phải thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam.
Ngày nay xu hướng quốc tế hoá toàn cầu hoá đang diễn ra một cách
mạnh mẽ trên thế giới. Các nền kinh tế tác độ
ng, bổ sung và phụ thuộc lẫn
nhau. Các quốc gia bị cuốn vào vòng xoáy của quá trình hội nhập kinh tế,
chuyên môn hoá, hợp tác hoá nhằm tận dụng vốn, công nghệ và trình độ quản
lý của nhau.
Xuất phát điểm của nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu. Hơn 70%
dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp: năng suất lao động thấp, trình
độ kỹ thuật thấp, tích luỹ nội bộ
thấp, sử dụng viện trợ nước ngoài không có
hiệu quả. Ngoài ra, nước ta vừa ra khỏi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nên
những tàn dư mà ta chưa khắc phục được còn nhiều: cơ sở hạ tầng thấp kém,
đời sống nhân dân còn khó khăn, chính sách chưa đồng bộ .... Vì vậy, nhiệm
vụ cấp bách của chúng ta hiện nay là phải phát triển kinh tế, nâng cao mức
sống của nhân dân, xây dựng c
ơ sở hạ tầng. Để thực hiện điều đó thì chúng ta
cần một lượng vốn rất lớn. Trong điều kiện khả năng đáp ứng của nền kinh tế
là có hạn thì chúng ta không còn con đuờng nào khác là thu hút sự hợp tác
đầu tư của nước ngoài. Để thực hiện điều đó, tại đại hội VI (12/1986), Đảng
và Nhà nước đã chủ trương m
ở cửa nền kinh tế, đẩy mạnh hoạt động kinh tế
đối ngoại nhằm tận dụng “những khả năng to lớn của nền kinh tế thế giới về

di chuyển vốn, mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm để
bổ sung và phát triển có hiệu quả các lợi thế và nguồn lực trong nớc”. Đảng
chủ trương “Đa phương hoá và đa d
ạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại” với
quan điểm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”. Tại
đại hội VIII, Đảng chủ trơng “Vốn trong nước là chính, vốn nớc ngoài cũng
quan trọng”. Tất cả những tư tưởng đổi mới của Đảng và Nhà nước đã tạo


9
điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung, hoạt động đầu
tư nước ngoài nói riêng.
Như vậy, quá trình thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là một xu
thế tất yếu phù hợp với xu thế của thế giới và yêu cầu phát triển của nền kinh
tế Việt Nam.

4. TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI
CÁC NƯỚC
ĐANG PHÁT TRIỂN.
Nguồn vốn đầu tư trưc tiếp nước ngoài có tác động không nhỏ đối với
các nước nhận đầu tư, đặc biệt các nước phát triển trên cả hai mặt ; tích cực
và tiêu cực
a. Tác đông tích cực .
Thứ nhất, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã bổ xung một nguồn
quan trọng
Bù đắp sự thiếu hụt vốn đầu t
ư cho phát triển kinh tế ở các nước đang
phát triển.
Thứ hai, đầu tư trực tiếp đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Để tham gia ngày càng nhiều vào quá

trình phân công lao động quốc tế , thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư nước
ngoài đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế của mình cho phù
hợp. Mặt khác, sự gia tăng củ
a hoạt động đầu tư nước ngoài làm xuất hiện
nhiều ngàng mới, lĩnh vực mới
Góp phần thúc đẩy sự phát tiển nhanh chóng trình độ kĩ thuật-công nghệ
của nhiều ngành kinh tế thúc đẩy sự gia tăng năng suất lao động ở các ngành
này và tăng tỷ phần của nó trong nên kinh tế. Nhiều ngành được kích thích
phát triển còn nhiều ngành bị mai một và đi đến xoá sổ.
Thứ ba, hoạt động
đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần phát triển
nguồn nhân lực, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Các dự án
đầu tư trực tiếp nước ngoài thường đòi hỏi nguồn lao động có chất lượng cao


10
do đó sự gia tăng các dự án đầu tư nước ngoài đã đặt ở các nước sở tại trước
yêu cầu khách quan là phải nâng cao chất lượng, trình độ chuyên môn kỹ
thuật , trình độ ngoại ngữ... cho người lao động.
Thứ tư, hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài đã góp phần tăng tỷ
trọng xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà n
ước .
Thứ năm, đầu tư trực tiêp nước ngoài thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế ở
các quốc gia này. Tận dụng, tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, các nư-
ớc đang phát triển đã sử dụng để thực hiện các mục tiêu trong chiến lược phát
triển kinh tế nhằm đẩy mạnh tốc độ tăng trởng kinh tế, thoát khỏi vòng luẩn
quẩn củ
a sự nghèo đói.
b. Tác động tiêu cực.
Bên cạnh những ưu điểm trên, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn

bộc lộ nhiều mặt hạn chế.
Một là, đầu tư nươc ngoài đã tạo ra một cơ cấu bất hợp lí. Mục đích của
các nhà đầu tư nước ngoài là tìm kiếm lợi nhuận ngày càng nhiều do đó họ
chủ yếu
đâù tư vào các ngành công nghiệp, dịch vụ nơi có mức tỷ suất lợi
nhuận cao.
Hai là, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại hiện tượng “chảy
máu chất xám”. Các nhà đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện thuận lợi về thu
nhập, việc làm do đó đã lôi kéo một bộ phận không nhỏ cán bộ khoa học, nhà
nghiên cứu, công nhân lành nghề của nước ta v
ề làm việc cho họ.
Ba là, chuyển giao công nghệ lạc hậu. Dưới sự tác động của cuộc cách
mạng khoa học - kỹ thuật, quá trình nghiên cứu- ứng dụng ngày càng được rút
ngắn, máy móc thiết bị nhanh chóng trở nên lạc hậu. Để loại bỏ chúng, nhiều
nhà đầu tư đã cho chuyển giao sang các nớc nhận đầu tư như một phần vốn
góp . Việc làm đó đã làm cho trình độ công nghệ của các n
ước nhận đầu tư
ngày càng lạc hậu.


11
Bốn là, chi phí để tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn. Các nư-
ớc nhận đầu tư đã phải áp dụng nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài
như: giảm thuế, miễn thuế, giảm tiền thuê đất, nhà xưởng ....
Năm là, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra sự cạnh tranh
với các doanh nghiệp trong nướ
c. Với ưu thế về vốn, công nghệ, các dự án
đầu tư nước ngoài đã đặt các doanh nghiệp trong nớc vào vòng xoáy cạnh
tranh khốc liệt về thị trường, lao động và các nguồn lực khác.
Sáu là, các tác động tiêu cực khác. Hoạt động đầu tư trực tiép nước ngoài

còn có thể gây ra những bất ổn về chính trị, mang theo nhiều tệ nạn xã hội
mới xâm nhập vào nước ta.
5. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾ
N KHẢ NĂNG THU HÚT VỐN
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI.
Đầu tư nước ngoài là một hoạt động kinh tế có vai trò rất lớn đối với các
nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Tuy thế, việc thu hút
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lại chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố chủ
quan và khách quan.
5.1 Luật đầu tư.
Nhân tố này sẽ
kìm hãm hoặc thúc đẩy sự gia tăng của hoạt dộng đầu tư
trực tiếp nước ngoài thông qua cơ chế, chính sách, thủ tục, ưu đãi, được qui
định trong luật.
5.2. Ôn định chính trị.
Đây là nhân tố không thể xem thường bởi vì rủi ro chính trị có thể gây
thiệt hại lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài.
5.3. Cơ sở hạ tầng.
Việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầ
ng như giao thông, vận tải, thông
tin liên lạc, điện nước ... sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các dự
án đầu tư trực tiếp nước ngoài.
5.4. Đặc điểm thị trường của nước nhận vốn.


12
Đây có thể nói là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư
nước ngoài. Nó được thể hiện ở qui mô, dung lượng của thị trường, sức mua
của các tầng lớp dân cư trong nước, khả năng mở rộng qui mô đầu tư ..., đặc
biệt là sự hoạt động của thị trường nhân lực. Mặt khác, với giá nhân công rẻ

sẽ là mối quan tâm hàng đầu củ
a các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là với
những dự án đầu tư vào lĩnh vực sử dụng nhiều lao động. Ngoài ra trình độ
chuyên môn kỹ thuật, trình độ học vấn, khả năng quản lý... cũng có ý nghĩa
nhất định. Bởi vậy, lợi thế về thị trường sẽ có sức hút rất lớn đối với vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài.
5.5. Khả
năng hồi hương của vốn
Mặt khác, khả năng hồi của vốn cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tơi khả
năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nếu vốn và lợi nhuận đợc tự do qua
lại biên giới.
5.6. Chính sách tiền tệ.
Mức độ ổn định của chính sách tiền tệ và mức độ rủi ro của tiền tệ ở
nư-
ớc nhận vốn đầu tư là một nhân tố góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của
các nhà đầu tư. Tỷ giá hối đoái cao hay thấp đều ảnh hưởng tới hoạt động
xuất nhập khẩu. Mức độ lạm phát của nền kinh tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
chi phí sản xuất, lợi nhuận thu được củ
a các dự án có tỷ lệ nội địa hoá trong
sản phẩm cao.
5.7. Các chính sách kinh tế vĩ mô.
Các chính sách này mà ổn định sẽ góp phần thuận lợi cho hoạt động của
các nhà đầu tư nớc ngoài. Không có những biện pháp tích cực chống lạm phát
có thể làm các nhà đầu tư nản lòng khi đầu tư vào các nước này. Một chính
sách thương mại hợp lý với mức thuế quan, hạn ngạch và các hàng rào thương
mại sẽ kích thích hoặc hạ
n chế đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoaì.



13
Ngoài ra, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn chịu ảnh hưởng của
nhiều nhân tố khác nhau: hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế, bảo vệ quyền
sở hữu ....
Vì vậy, để hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra một
cách thuận lợi thì chúng ta cần xem xét, đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân
tố trên trong mố
i quan hệ biện chứng nhằm tăng sức hấp dẫn của môi trường
đầu tư trong nứơc.



14
PHẦN II
TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TỪ 1988 ĐẾN ĐẦU 2000

1. THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TỪ 1988 ĐẾN ĐẦU NĂM 2000.
Kể từ bắt đầu cuộc đổi mới đến nay, nền kinh tế nước ta đã đạt được
nhiều thành tựu to l
ớn: tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục cao và ổn định
trong nhiều năm (bình quân thời kì 1991-1995 là 8,1%/năm , năm 1996 là
9,3%/năm, năm 1997 là 8,15%/năm), cơ cấu kinh tế đang từng bước chuyển
dịchtheo hướng công nghiệp hoá -hiện đại hoá, đời sống cùa người dân ngày
càng được nâng cao cả về vật chất và tinh thần, xã hội đang từng ngày thay
đổi. Tất cả những thành tựu trên cho thấy nền kinh tế
nước ta đã thoát khỏi
tình trạng khủng hoảng và đang từng bước tiến vào thơì kỳ mới, thời kỳ công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.

Một trong những nguyên nhân của thành tựu đó làchủ trương mới của
Đảng về hoạt động kinh tế đối ngoại, trong đó có hoạt động thu hút vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Qua hơn mười n
ăm, kể từ khi có luật
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam (12/1987) đến hết năm 1999, nước ta đã cấp
giấy phép cho 280 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 36880
tr.USD.

Biểu đồ
: vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (1988 - 1999)






336
539
596
1294
2036
2652
4071
6616
8258
4445
4060
1477
0
5000

10000
Vèn …


15








Nguồn tổng hợp từ:
Đầu tư nước ngoài 1988 -1997: Đánh giá tổng _Nguyễn Mại _ Tạp chí
cộng sản số 2/1998 trang 22
vài nét về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam _PTS. Phạm thị Thi
_châu mỹ ngày náy số 2/1997 trang 24.
Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam sau khủng
hoảng kinh tế châu Á: Vấn đề và giải pháp _ Phạm thi Tuý _kinh tế châu Á -
Thái Bình Dương s
ố 2 tháng 6/1999 trang 9.

Qúa trình thu hút vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoái
vào Việt Nam được chia làm ba thời kì:
a. Thời kì 1988-1990.
Đây được coi là thời kì khơi động cho qúa trình thu hút vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam.
Ngày 19/12/1987, nước ta đã chính thức ban hành luật đầu tư nước ngoài
vàp Việt Nam, khủng hoảng pháp lý quản lý và điều chỉnh hoạt động đầu tư

trực tiế
p nước ngoài tại Việt Nam. Năm 1988, năm đầu tiên thực hiện luật
đầu tư nước ngoài, chúng ta đã cấp giấi phép đầu tư cho 37 dự án với tổng
vốn đăng ký là 336 tr. USD. Kết quả đó tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa rất quan
trọng đối với nước ta. Nó đánh dấu sự thành công ban đầu của công cuộc đổi


16
mới, mở cữa nền kinh tế, thực hiện đường lối mở rộng và phát triển quan hệ
kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
Sau ba năm tiến hành thu hút vốn đâu tư trực tiếp nước ngoài, chúng ta
đã cấp giấy phép cho 218 dự án với tổng vốn đăng ký 1417 tr. USD. Tốc độ
tăng trưởng hàng năm đạt 255/năm. Quy mô mổi dự án đạt khoảng
7tr.USD/dự án. lĩnh v
ực đầu tư chủ yếu trong thời kì này là thăm dò dầu khí
32,2%, khách sạn 20,6% và bưu chính viễn thông, còn các lĩnh vực khác thì
rất íthầu như chưa được triển khai. Tổng số vốn thực hiện của cả thời kì đạt
40tr.USD băng 27%tổng vốn đăng kí.
Nguyên nhân của việc gia tăng vốn đầu tư chậm do đây là một lĩnh vực
còn rất mới đối với nước ta, chúng ta "v
ữa học, vừa làm", kinh nghiệm chưa
có nhiều. Mặt khác, đối với các nhà đầu tư nước ngoài, nước ta là một thị
trường mới mẻ vừa xa lạ, vừa hấp dẩn do đó họ thận trọng không dám mạo
hiểm, vừa làm vừa thăm dò.
Tuy thế những kết quả đạt được trên đây đã chứng minh triển vọng lạc
quan của hoạt động đầu t
ư trực tiếp nước ngoài tại việt nam trong thời gian
tới.
b. Thời kì 1991-1996.
Trong thời kì nàyhoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam

tăng trưởng một cách nhanh chóng và có sự thay đổi lớn về chất lượng. Tính
từ năm 1991 đến năm 1996, chúng ta đã cấp giấy phép đầu tư cho 1765 dự án
với tổng vốn đăng kí là 24927 tr.USD, trong đó chỉ riêng năm 1991, năm
thấp nhấ
t của thời kì, cũng đạt 1294tr.USD gần bằng cả ba năm của thời kì
trước cộng lại. Lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thu hút vào Việt Nam
đạt mức cao nhất vào năm 1996 là 8258tr.USD gấp 5,6 lần thời kì 1988-1990,
gấp 24,5 lần 1988 và 6,3 lần năm 1991. Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư bình
quân hàng năm đạt 45%/năm. Quy mô mổi dự án không ngừng tăng lên qua
các năm.

×