Tải bản đầy đủ (.doc) (90 trang)

Giải pháp ứng dụng phương pháp tỷ số và so sánh vào phân tích tài chính

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (433.65 KB, 90 trang )

LỜI MỞ ĐẦU

Như ta đã biết, nhận thức- quyết định và hành động là bộ ba biện chứng của
quản lý khoa học, có hiệu quả toàn bộ cá hoạt động kinh tế trong đó nhận thức giữ
vị trí đặc biệt quan trọng trong việc xác định mục tiêu và sau đó là các nhiệm vụ cần
đạt tới trong tương lai. Như vậy nếu nhận thức đúng, người ta sẽ có các quyết định
đúng và tổ chức thực hiện kịp thời các quyết định đó đương nhiên sẽ thu được
những kết quả như mong muốn. Ngược lại, nếu nhận thức sai sẽ dẫn tới các quyết
định sai và nếu thực hiện các quyết định sai đó thì hậu qủa sẽ không thể lường trước
được.
Vì vậy phân tích tình hình tài chính là đánh giá đúng đắn nhất những gì đã
làm được, dự kiến những gì sẽ xảy ra, trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp để tận
dụng triết để những điểm mạnh và khắc phục các điểm yếu.
Tình hình tài chính doanh nghiệp là sự quan tâm không chỉ của chủ doanh
nghiệp mà còn là mối quan tâm của rất nhiều đối tượng như các nhà đầu tư, người
cho vay, Nhà nước và người lao động. Qua đó họ sẽ thấy được thực trạng thực tế
của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh, và tiến hành phân tích hoạt động kinh
doanh. Thông qua phân tích họ có thể rút ra được những quyết định đúng đắn liên
quan đến doanh nghiệp và tạo điều kiện nâng cao khả năng tài chính của doanh
nghiệp. Do đó việc phân tích tài chính trong một doanh nghiệp là hết sức cần thiết.
Qua thời gian thực tập tại Công ty may Đức Giang em quyết định chọn đề tài: "Ứng
dụng phương pháp phân tích tỷ số và phương pháp so sánh vào phân tích tài chính
của Công ty may Đức Giang"
Thực hiện đề tài này với mục đích dựa vào tình hình thực tế hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty để ứng dụng phương pháp phân tích, từ đó đánh giá
hiệu quả đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty.
Chuyên đề gồm 3 chương :
Chương I: Các phương pháp phân tích tài chính trong doanh nghiệp
Trang 1
Phần II: Thực trạng về phương pháp phân tích tài chính của Công ty may
Đức Giang.


Phần III: Một số giải pháp ứng dụng phương pháp tỷ số và so sánh vào phân tích
tài chính của Công ty may Đức Giang.
Trang 2
CHƯƠNG I
CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP
I-TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
1-Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
Hoạt động tài chính doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản của hoạt
động sản xuất kinh doanh .Hoạt động này nhằm thực hiện mục tiêu của doanh
nghiệp: tối đa hoá giá trị tài sản sở hữu của doanh nghiệp cụ thể thành những mục
tiêu khác như: tối đa hoá lợi nhuận, tăng trưởng ổn định,...
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp
và các chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao
gồm:
-Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Đây là mối quan hệ phát sinh khi
doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào
doanh nghiệp.
-Quan hệ doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ này được thể hiện
thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ. Trên thị trường tài chính,
doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát
hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn. Ngược lại, doanh
nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ. Doanh nghiệp
cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đâu ftư chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa
sử dụng.
-Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: Trong nền kinh tế, doanh
nghiệp có quan hệ chặt chẽ với nhiều doanh nghiệp khác trên thị trường hàng hoá,
dịch vụ, thị trường sức lao động . Đây là những thị trường mà tại đó doanh nghiệp
tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động,... Điều quan
trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định nhu cầu hàng hoá và

dịch vụ cần thiết cung ứng. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu
tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị htoả mãn nhu ccầu của thị trường.
Trang 3
-Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất
kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa quyền sở
hữu vốn và quyền sử dụng vốn. Các mối quan hệ này được thẻ hiện thông qua hàng
loạt các chính sách của doanh nghiệp như: chính sách phân phối thu nhập, chính
sách đầu tư chính sách về cơ cấu vốn và chi phí vốn,...
Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất-kinh doanh, cần phải có
một lượng tài sản phản ánh bên tài sản của Bảng cân đối kế toán. Nếu như toàn bộ
tài sản do doanh nghiệp nắm giữa được đánh giá tại một thời điểm nhất định thì sự
vận động của chúng - kết quả của quá trình trao đổi - chỉ có thể xác định tại một thời
điểm nhất định và được phản ánh trên báo cáo kết quả kinh doanh. Quá trình hoạt
động của doanh nghiệp có sự khác biệt đáng kể về quy trình công nghệ và tính chất
hoạt động. Sự khác biệt này phần lớn do đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của từng doanh
nghiệp quyết định. Cho dù vậy, người ta vẫn có thể khái quát những nét chung nhất
của các doanh nghiệp bằng hàng hoá dịch vụ đầu ra và hàng hoá dịch vụ đầu vào.
Một hàng hoá dịch vụ dầu vào hay một yếu tố sản xuất là hàng hoá hay dịch vụ
mà các nhà doanh nghiệp mua sắm để sử dụng trong quá trình sản xuất-kinh doanh.
Các hàng hoá dịch vụ đầu vào kết hợp với nhau tạo ra hàng hoá dịch vụ đầu ra - đó
là hàng loạt các hàng hoá dịch vụ có ích được tiêu dùng hoặc được sử dụng trong
quá trình sản xuất-kinh doanh khá. Như vậy trong một thời kỳ nhất định, các doanh
nghiệp đã chuyển hoà hàng hoá dịch vụ đầu vào thành hàng hoá dịch vụ đầu ra để
trao đổi. Mối quan hệ giữa tài sản hiện có và hàng hoá dịch vụ đầu vào, hàng hoá
dịch vụ đầu ra (tức quan hệ giữa bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh
doanh) có thể mô tả như sau:
Hàng hoá dịch vụ sản xuất-chuyển hoá Hàng hoá dịch vụ
(mua vào) (bán ra)
Trong số các tài sản mà doanh nghiệp nắm giữ có một loại tài sản đặc biệt - đó
là tiền. Chính dự trữ tiền cho phép các doanh nghiệp mua các hàng hoá dịch vụ cần

thiết để tạo ra những hàng hoá dịch vụ để phục vụ cho mục đích trao đổi. Mọi quá
trình trao đổi đều được thực hện qua trung gian là tiền và khái niệm dòng vật chất và
Trang 4
dóng tiền phất sinh từ đó, tức sự dịch hcuyển hàng hoá, dịch vụ và sự dịch chuyển
tiền giữa các đơn vị và tổ chức kinh tế.
Như vậy ứng với dòng vật chất đi vào (hàng hoá, dịch vụ đầu vào) là dòng tiền
đi ra; ngược lại, tương ứng với dòng vật chất đi ra (hàng hoá, dịch vụ đầu ra) là
dòng tiền đi vào. Quy trình này được mô tả theo sơ đồ sau:
Dòng vật chất đi vào Dòng tiền đi ra (xuất quỹ)


Dòng vật chất đi ra Dòng tiền đi vào (xuất quỹ)
Sản xuất, chuyển hoá là một quá trình công nghệ. Một mặt, nó được đặc
trưng bởi thời gian chuyển hoá hàng hoá và dịch vụ, mặt khác nó đặc trung bởi yếu
tố cần thiết cho sự vận hành - đó là tư liệu lao động và sức lao động. Quá trình công
nghệ này có tác dụng quyết định đến cơ cấu vốn và hoạt động trao đổi của doanh
nghiệp.
Doanh nghiệp thực hiện trao đổi hoặc với thị trường cung cấp hàng hoá dịch
vụ đầu vào hoặc với thị trường phân phối, tiêu thụ hàng hoá dịch vụ đầu ra và tuỳ
thuộc vào tính chất hoạt động sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp. Các quan hệ
tài chính của doanh nghiệp được phát sinh từ chính quá trình trao đổi đó. Quá trình
này quyết định đến sự vận hành của sản xuất làm thay đổi cơ cấu vốn của doanh
nghiệp. Phân tích các quan hệ tài chính của doanh nghiệp cần dựa trên hai khái niệm
căn bản là dòng và dự trữ. Dòng chỉ xuất hiện trên cơ sở tích luỹ ban đầu mỗi hàng
hoá, dịch vụ hoặc tiền trong mỗi doanh nghiệp và nó sẽ làm thay đổi khối lượng tài
sản tích luỹ của doanh nghiệp. Một khối lượng tài sản, hàng hoá, hoặc tiền được đo
tại một thời điểm là một khoản dự trữ. Quan hệ giữa dòng và dự trữ là cơ sở nền
tảngcủa tài chính doanh nghiệp. Tuỳ thuộc vào bản chất khác nhau của các dòng dự
trữ mà người ta phân biệt dòng tiền đối trọng và dòng tiền độc lập.
Hoạt động tài chính doanh nghiệp trả lời các câu hỏi chính sau đây:

Trang 5
Sản xuất
chuyển hoá
- Đầu tư vào đâu như thế nào cho phù hợp với hình thức kinh doanh đã chọn,
nhằm đạt tới mục tiêu của doanh nghiệp? Từ đó đưa ra tổng tiền cần đầu tư.
- Nguồn vốn tài trợ được huy động ở đâu, vào thời điểm nào để đạt được cơ
cấu vốn tối ưu và chi phí vốn thấp nhất?
- Quản lý dòng tiền vào, dòng tiền ra sao cho đảm bảo mức ngân quỹ tối ưu
thông qua việc trả lời câu hỏi: lợi nhuận doanh nghiệp được sử dụng như thế nào?,
Phân tích đánh giá kiểm tra các hoạt động tài chính như thế nào, để thường xuyên
đảm bảo trạng thái cân bằng tài chính?, và quản lý các hoạt động tài chính ngắn hạn
như thế nào để đưa ra quyết định thu, chi phù hợp?
Nghiên cứu tài chính doanh nghiệp thực chất trả lời ba câu hỏi trên.
2-Khái niệm, ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một khâu cơ bản trong tài chính doanh
nghiệp, có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động khác của doanh nghiệp. Phân tích tài
chính là sử dụng tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép xử lý
các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài
chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp.
Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau, đều bình đẳng trước
nhau trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề và các lĩnh vực kinh doanh. Do
vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như:
chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp khách hàng,... kể cả các cơ quan nhà
nước và người làm công, mỗi đối tượng quan tâm đế tình hình tài chính trên một
góc độ khác nhau. Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối
quan tâm hàng đầu của họ là khả năng phát triển, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá
trị sở hữu tài sản doanh nghiệp, do đó họ quan tâm trước hết tới lĩnh vực đầu tư và
tài trợ.đối với người cho vay mối quan tâm chủ yếu của họ là khả năng trả nợ hiện

tại và tương laicủa doanh nghiệp. Đối với các nhà đầu tư khác mối quan tâm của
yếu của họ là các yếu tố rủi ro, lãi suất, khả năng thanh toán...
Trang 6
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các báo
cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống các phương
pháp, công cụ, kỹ thuật phân tích giúp người sử dụng từ các góc độ khác nhau, vừa
đánh giá toàn diện, tổng hơpự khái quát, vừa xem xét mọôt cách chi tiết hoạt động
tài chính doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo, đưa ra quyết định tài chính,
quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp.
II-MỤC TIÊU PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
Phân tích tài chính là sử dụng tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công
cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh
giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Quy trình phân tích tài chính hiện nay ngày càng được áp dụng rộng rãi ở các
đơn vị tự chủ nhất định về tài chính, các tổ chức xã hội, tập thể, các cơ quan quản
lý, tổ chức công cộng. Đặc biệt, sự phát triển của các doanh nghiệp,của ngân hàng
và của thị trường vốn đã tạo nhiều cơ hội để chứng tỏ phân tích tài chính thực sự có
ích và cần thiết.
Những người phân tích tài chính ở những cương vị khác nhau thì nhằm những
mục tiêu khác nhau
1-Đối với nhà quản trị
Nhà quản trị phân tích tài chính nhằm đánh giá hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, xác định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp. Đó là cơ sở để
định hướng ra quyết định của ban tổng giám đốc, giám đốc tài chính như quyết định
đầu tư, tài trợ, phân chia cổ tức,..., dự thảo tài chính: kế hoạch đầu tư, ngân quỹ,
kiểm soát các hoạt động quản lý. Mặt khác, tạo thành các chu kỳ đánh giá đều đặn
hoạt động kinh doanh tronh quá khứ, tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời,
khả năng thanh toán trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp.
2-Đối với nhà đầu tư

Các cổ đông là các cá nhân hoặc doanh nghiệp, quan tâm trực tiếp đến tính
toán các giá trị của doanh nghiệp vì họ bỏ vốn cho doanh nghiệp thực hiện hoạt
động kinh doanh sản xuất và họ có thể chịu rủi ro từ khoản vốn đó. Do vậy, các cổ
Trang 7
đông cần biết tình hình thu nhập của mình có tương xứng với mức rủi ro của khoản
đầu tư mà họ chịu. Nhà đầu tư phân tích tài chính để nhận biết khả năng sinh lãi của
doanh nghiệp , đây là một trong những căn cứ giúp nhà đầu tư ra quyết có bỏ vốn
vào doanh nghiệp hay không?
Thu nhập của các cổ đông tiền chia lợi tức cổ phần và giá trị tăng thêm của vốn
đầu tư. Hai yếu tố này ảnh hưởng đén lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp. Các nhà
đầu tư thường tiến hành đánh giá khả năng sinh lợi của doanh nghiệp với câu hỏi
trọng tâm: lợi nhuận bình quân cổ phiếu của công ty sẽ là bao nhiêu? Dự kiến lợi
nhuận sẽ được nghiên cứu đầy đủ trong chính sách phân chia lợi tức cổ phần và
trong nghiên cứu rủi ro hướng các lựa chọn vào những cổ phiếu phù hợp nhất.
3-Đối với người cho vay
Người cho vay phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợ của
khách hàng phân tích. Để đưa ra quyết định cho vay, thì một trong những vấn đề mà
người cho vay cần phải xem xét là doanh nghiệp thật sự có nhu cầu vay hay không?
Khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào?Bởi nhiều khi một quyết định cho
vay có ảnh hưởng nặng nề đến tình hình tài chính của người cho vay, có thể dẫn đến
tình trạng phá sản của người cho vay, hay đơn vị cho vay. Phân tích tài chính đối
với những khoản nợ dài hạn hay khoản nợ ngắn hạn cũng có sự khác nhau.
Nếu là những khoản nợ ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả
năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp. Nghĩa là khả năng ứng phó của doanh
nghiệp khi khoản nợ tới hạn trả nợ.
Nếu là những khoản cho vay dài hạn, ngưòi cho vay phải tin chắc khả năng
hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp vì việc hoàn trả vốn và lãi phụ thuộc
vào khả năng sinh lời này
Kỹ thuật phân tích thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của khoản vay,
nhưng cho đó là khoản vay dài hạn hay nhắn hạn thì người cho vay đều quan tâm

đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay.
Ngoài ra, phân tích tài chính cũng rất cần thiết đối với người hưởng lương
trong doanh nghiệp, đối với cán bộ thuế, thanh tra, cảnh sát kinh tế, luật sư,...Dù họ
Trang 8
công tác ở các lĩnh vực khác nhau nhưng đều muốn hiểu biết về doanh nghiệp để
thực hiện tốt hơn công việc của họ.
III-THÔNG TIN SỬ DỤNG TRONG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn
thông tin: từ những thông tin nội bộ doanh nghiệp dến những thông tin bên ngoài
doanh nghiệp, từ thông tin số lượng đến thông tin giá trị. Những thông tin đó đều
giúp nhà phân tích có thể dưa ra được những nhận xét kết luận tinh tế và thích đáng.
Những thông tin bên ngoài, cần lưu ý thu thập thông tin chung như các thông
tin liên quan đến cơ hội kinh doanh nghĩa là tình hình chung về kinh tế tại một thời
điểm cho trước. Trạng thái kinh tế: sự suy thoái hay tăng trưởng có tác động mạnh
mẽ đến kết quả kinh doanh. Khi cơ hội thuận lợi, các hoạt động của doanh nghiệp
được mở rộng, lợi nhuận của công ty, giá trị của công ty cũng tăng lên, và ngược lại.
Khi phân tích tài chính doanh nghiệp, điều quan trọng phải nhận thấy sự xuất hiện
mang tính chu kỳ:qua thời kỳ tăng trưởng thì sẽ đến thời kỳ suy thoái và ngược lại.
Đồng thời thu thập thông tin về chính sách thuế, lãi suất, các thông tin về ngành
kinh doanh như thông tin liên quan đến vị trí của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu
ngành, và các sản phẩm của ngành, tình trạng công nghệ, thị phần...và các thông tin
về pháp lý, kinh tế đối với doanh nghiệp: các thông tin mà các doanh nghiệp phải
báo cáo cho các cơ quan quản lý như: tình hình quản lý, kiểm toán, kế hoạch sử
dụng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp...
Tuy nhiên để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp,
có thể sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn thông
tin quan trọng bậc nhất. Với những đặc trưng hệ thống, đồng nhất và phong phú, kế
toán hoạt động như một nhà cung cấp quan trọng nhưng thông tin đánh giá cho phân
tích tài chính.Vả lại các doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp các thông tin kế toán
cho đối tác bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.thông tin kế toán được phản ánh

khá đầy đủ trong các báo cáo kế toán. Phân tích tài chính được thực hiện trên cơ sở
các báo cáo tài chính được hình thành thông qua việc xử lý các báo cáo kế toán chủ
yếu: đó là bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, ngân quỹ (báo cáo lưu
chuyển tiền tệ).
Trang 9
1-Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính mô tả tìng trạng tài chính của một
doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đây là báo cáo tài chính có ý
nghĩa quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh và
quan hệ quản lý với doanh nghiệp. Thông thường bảng cân đối kế toán dược trình
bày dưới dạng bảng cân đối các số dư tài khoản kế toán: một bên phản ánh tài sản,
một bên phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp.
Bên tài sản của bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện
có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp: đó
là tài sản lưu động, tài sản cố định. Bên nguồn vốn phản ánh số vốn để hình thành
các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo: đó là vốn chủ và các
khoản nợ.
Các khoản mục trên bảng cân đối kế toán dược sắp xếp theo khả năng chuyển
hoá thành tiền giảm dần từ trên xuống.
Bên tài sản
Tài sản lưu động: tiền chứng khoán ngắn hạn dễ bán, khoản phải thu, dự trữ
.Tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình.
Bên nguồn vốn
Nợ ngắn hạn bao gồm nợ pahỉ trả nhà cung cấp, các khoản phải nộp,phải trả
khác nợ ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác. Nợ dài hạn
bao gồm nợ dài hạn vay ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, vay
bằng cách phát hành trái phiếu. Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn góp ban đầu, lợi
nhuận không chia, phát hành cổ phiếu mới.
Về mặt kinh tế, bên tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài sản; bên
nguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ,cơ cấu vốn cũng có khả năng độc lập về tài chính

của doanh nghiệp.
Bên tài sản và bên nguồn vốn của bảng cân đối kế toán đều có các cột chỉ tiêu:
số đầu kỳ, số cuối kỳ. Ngoài các khoản mục có trong tài khoản nội bảng còn có một
Trang 10
số khoản mục ngoài bảng cân đối kế toán như: một số tài khoản thuê ngoài, vật tư,
hàng hoá nhận giữ hộ, nhận gia công, hàng hoá nhận bán hộ, ngoại tệ các loại...
Dựa vào bảng cân đối kế toán, nhà phân tích có thể nhận biết được loại hình
doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp.Bảng cân đối kế
toán là một tư liệu quan trọngbậc nhất giúp các nhà phân tích đánh giá được khả
năng cân bằng tài chính, kảh năng thanh toán, khả năng cânđối vốn của doanh
nghiệp.
2-Báo cáo kết quả kinh doanh
Một thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tài
chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả kinh doanh. Khác với bảng cân
đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyển tiền trong quá trình
sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động của
doanh nghiệp trong tương lai. Báo cáo kết quả kinh doanh giúp nhà phân tích so
sánh doanh thu với số tiền thực nhập quỹ để vận hành doanh nghiệp. Trên cơ sở
doanh thu và chi phí, có thể xác định được kết quả sản xuất-kinh doanh: lãi hay lỗ
trong năm. Như vậy báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản
xuất-kinh doanh, phản ánh tình hình tài chính của một doanh nghiệp trong một thời
kỳ nhất định. Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng
tiềm năng về vốn, lao động, kĩ thuật và trình độ quản lý sản xuất-kinh doanh của
doanh nghiệp.
Những khoản mục chủ yếu được phản ánh trên báo cáo kết quả kinh doanh:
doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu từ hoạt động tài chính,
doanh thu từ hoạt động bất thường và chi phí tương ứng từ các hoạt động đó.
Những loại thuế như: VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, về bản chất không phải là
doanh thu cũng không phải là chi phí của doanh nghiệp nên không phản ánh trên
báo cáo kết quả kinh doanh. Toàn bộ các khoản thuế đối với doanh nghiệp và các

khoản phải nộp khác được phản ánh trong phần: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với
Nhà nước.
3-Ngân quỹ (báo cáo lưu chuyển tiền tệ)
Trang 11
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính. Nếu bảng cân đối kế toán
những nguồn lực của cải (tài sản) và nguồn gốc của những tài sản đó; và báo cáo kết
quả kinh doanh cho ta biết chi phí và thu nhậpphát sinh dể tính được kết quả lãi, lỗ
trong một kỳ kinh doanh, thì báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập để trả lời những
vấn đề liên quan đéen luồng tiền vào, ra trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ, đầu tư
bằng tiền của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
Để đánh giá một doanh nghiệp có đảm bảo được khả năng chi trả hay không
cần tìm hiểu tình hình ngân quỹ của doanh nghiệp. Ngân quỹ thường được xác định
trong thời gian ngắn hạn (thường là từng tháng).
Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực nhập (thu ngân quỹ), bao gồm: dòng tiền
nhập quỹ từ hoạt động kinh doanh (từ bán hàng hoá hoặc dịch vụ); dòng tiền nhập
quỹ từ hoạt động đầu tư tài chính; dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động bất thường.
Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực xuất quỹ (chi ngân quỹ), bao gồm: dòng
tiền xuất thực hiện sản xuất kinh doanh, dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động đầu
tư tài chính; dòng tiền xuất thực hiện hoạt động bất thường.
Trên cơ sở dòng tiền nhập quỹ và dòng tiền xuất quỹ, nhà phân tích thực hiện
cân đối ngân quỹ với số dư ngân quỹ đầu kỳ để xác định số dư ngân quỹ cuối kỳ.
Từ đó có thể thiết lập mức ngân quỹ dự phòng tối thiểu cho doanh nghiệp nhằm
mục tiêu đảm bảo chi trả.
4-Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin về tình
hình sản xuất, kinh doanh chưa có trong hệ thống các báo cáo tài chính, đồng thời
giải thích thêm một số chỉ tiêu mà các báo cáo tài chính chưa được trình bày, giải
thích một cách rõ ràng và cụ thể.
Thuyết minh báo cáo tài chính bao gồm các nội dung sau:
-Đặc diểm hoạt động của doanh nghiệp: Hình thức sở hữu , hoạt động, lĩnh

vực kinh doanh, tổng số nhân viên những ảnh hưởng quan trọng đến tình hình tài
chính trong năm báo cáo.
Trang 12
-Chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp: Niên độ kế toán, đơn vị tiền tệ trong
ghi chép kế toán, nguyên tắc, phương pháp chuyển đổi các đồng tiền khác, hình thức
sổ kế toán, phương pháp kế toán tài sản cố định, phương pháp kế toán hàng tồn kho,
phương pháp tính toán các khoản dự phòng, tình hình trích lập và hoàn nhập dự
phòng.
-Chi tiết một số chỉ tiêu trong báo cáo tài chính: Yếu tố chi phí sản xuất, kinh
doanh, tình hình tăng giảm tài sản cố định, tình hình tăng giảm các khoản đầu tư vào
doanh nghiệp, lý do tăng, giảm, các khoản phải thu và nợ phải trả.
-Giải thích và thuyết minh một số tình hình và kết quả hoạt động sản xuất, kinh
doanh.
-Một số chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp.
-Phương hướng sản xuất kinh doanh trong kỳ tới.
-Các kiến nghị.
5-Bảng tài trợ
Bảng tài trợ là một trong nhũng công cụ hữu hiệu của nhà quản lý tài chính.
anó giúp các nhà quản lý xác định rõ các nguồn cung ứng vốn và sử dụng nguồn vốn
đó.
Để lập được biểu kê nguồn vốn và sử dụng vốn (bảng tài trợ), trước hết phải
liệt kê sự thay đổi các khoản mục trên bảng cân đối kế toán từ đầu kỳ đến cuối kỳ.
Mỗi sự thay đổi được phân biệt ở hai cột: sử dụng vốn và nguồn vốn theo nguyên
tắc:
-Nếu khoản mục bên tài sản giảm hoặc khoản mục bên nguồn vốn tăng thì điều
đó thể hiện việc tạo nguồn.
-Nếu các khoản mục bên tài sản tăng hoặc khoản mục bên nguồm vốn giảm thì
điều đó thể hiện việc sử dụng nguồn.
Việc thiết lập bảng tài trợ là cơ sở để chỉ ra những trọng điểm đầu tư vốn và
nguồn vốn chủ yếu hình thành để đầu tư.

Tóm lại, để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, các nhà phân tích
cần phải đọc và hiểu được báo cáo tài chính, qua đó, nhận biết được và tập trung
Trang 13
vào các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu phân tích của họ. Tất
nhiên, muốn được như vậy, các nhà phân tích cần tìm hiểu thêm nội dung chi tiết
các khoản mục của báo cáo tài chính trong các môn học liên quan.
IV-TRÌNH TỰ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1-Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giảivà htuyết
minh thực trạng sử dụng tình hình tài chính của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình
dự đoán tài chính. Nó bao gồm những thông tin nội bộ đến những thông tin bên
ngoài, những thông tin kế toán và những thông tin quản lý khác, những thông tin về
số lượng và giá trị ...trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báo
cáo tài chính doanh nghiệp, là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng. Do vậy,
phân tích tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp.
2-Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu
thập được. Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu,
ứng dụng khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu
phân tích đã đặt ra: xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những
mục tiêu nhất định nhằm tính toán so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên
nhân các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định.
3-Dự đoán và quyết định
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết
để người sử dụng thông tin dụ đoán nhu cầu và dưa ra quyết định tài chính. Có thể
nói, mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra quyết định tài chính. Đối với chủ
doanh nghiệp phân tích tài chính nhằm dưa ra các quyết định liên quan tới mục tiêu
hoạt động của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của doanh nghiệp, tăng
trưởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận. Đối với người cho vay và đầu tư vào xí
nghiệp thì đưa ra các quyết định về tài trợ và đầu tư; đối với nhà quản lý thì dưa ra

các quyết định về quản lý doanh nghiệp.
V-PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
Trang 14
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ biện pháp
nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và
bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng
hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp.Về lý thuyết, có
nhiều phương pháp phân tích tài chính, nhưng trên thực tế người ta thường sử dụng
phương pháp so sánh và phương pháp phân tích tỷ lệ.
1-Phương pháp so sánh
Điều kiện để áp dụng phương pháp so sánh là các chỉ tiêu tài chính phỉa thống
nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán,... và theo mục
đích phân tích mà xác định số gốc so sánh. Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt
thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế
hoạch, giá trị so sánh có thể lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình
quân; nông dân so sánh bao gồm:
-So sánh giữa số thực hiện trong kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu
hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp. Đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
-So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạc để thấy rõ mức độ phấn đấu của
doanh nghiệp.
-So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình ngành của các
doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp mình tốt hay
xấu, được hay chưa được.
-So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể,
so sánh chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số lượng tương đối
và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp.
2-Phương pháp phân tích tỷ số
Tỷ số là công cụ phân tích tài chính phổ thông nhất. một tỷ số là mối quan hệ
tỷ lệ giữa hai dòng hoặc hai nhóm dòng của bảng cân đối tài sản. Phương pháp phân

tích tỷ số dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các
quan hệ tài chính. Sự biến đổi các tỷ là sự biến đổi các đại lượng tài chính. Về
nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định các ngưỡng, các định mức, để
Trang 15
nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của
doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành các
nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động
của doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ
cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về
khả năng sinh lời.
Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của
hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích,
người phân tích lựa chọn các nhpms chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân
tích của mình.
Chọn đúng các tỷ số và tiến hành phân tích chúng, chắc chắn ta sẽ phát hiện
được tình hình tài chính. Phân tích tỷ số cho phép phân tích đầy đủ khuynh hướng vì
một số dấu hiệu có thể được kết luận thông qua quan sát số lớn các hiện tượng
nghiên cứu riêng rẽ.
3-Phương pháp phân tích Dupont
Công ty Dupont là công ty đầu tiên ở Mỹ sử dụng các mối quan hệ tương hỗ
giữa các tỷ lệ tài chính chủ yếu để phân tích các tỷ số tài chính. Vì vậy, nó được gọi
là phương pháp Dupont. Với phương pháp này, các nhà phân tích sẽ nhận biết được
các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp.
Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của
doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở
hữu (ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau.
Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đối với các tỷ số tổng hợp.
Trước hết ta xem xét mối quan hệ tương tác giữa tỷ số doanh lợi vốn chủ sở
hữu (ROE) với tỷ số doanh lợi tài sản (ROA)

Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Lợi nhuận sau thuế
ROA = x = (1)
Doanh thu Tổng tài sản Tổng tài sản
Trang 16
Tỷ ROA cho thấy tỷ suất sinh lợi của tài sản phụ thuộc vào hai yếu tố:
- Thu nhập ròng của doanh nghiệp trên một đồng doanh thu
- Một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Tiếp theo, ta xem xét tỷ số doanh lợi vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp (ROE):
Lợi nhuận sau thuế
ROE =
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu.
Nếu tài sản của doanh nghiệp chỉ được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu thì doanh lợi
vốn và doanh lợi vốn chủ sở hữu sẽ bằng nhau vì khi đó tổng tài sản = tổng nguồn
vốn.
Lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận sau thuế
ROA = = = ROE(2)
Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu
Nếu doanh nghiệp sử dụng nợ để tài trợ cho các tài sản của mình thì ta có mối
liên hệ giữa ROA và ROE:
Tổng tài sản
ROE = x ROA (3)
Vốn chủ sở hữu
Kết hợp (1) & (3) ta có:
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Tổng tài sản
ROE = x x
Doanh thu Tổng tài sản Vốn CSH
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Tổng tài sản
= x x
Trang 17

Doanh thu Tổng tài sản Tổng tài sản – Nợ
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu 1
= x x
Doanh thu Tổng tài sản 1- Rd
Với Rd = Nợ / Tổng tài sản là hệ số nợ và phương trình này gọi là phương trình
Dupont mở rộng thể hiện sự phụ thuộc của doanh lợi vốn chủ sở hữu vào doanh lợi
tiêu thụ, vòng quay toàn bộ vốn và hệ số nợ.
Từ đây ta thấy sử dụng nợ có tác dụng khuyếch đại doanh lợi vốn chủ sở hữu nếu
doanh nghiệp có lợi nhuận trong kỳ, hệ số nợ càng lớn thì lợi nhuận càng cao và
ngược lại, nếu doanh nghiệp đang bị lỗ thì sử dụng nợ càng tăng số lỗ.
Phương pháp phân tích Dupont có ưu điểm lớn là giúp nhà phân tích phát hiện và
tập trung vào các yếu điểm của doanh nghiệp. Nếu doanh lợi vốn chủ sở hữu của
doanh nghiệp thấp hơn các doanh nghiệp khác trong cùng ngành thì nhà phân tích có
thể dựa vào hệ thống các chỉ tiêu theo phương pháp phân tích Dupont để tìm ra
nguyên nhân chính xác. Ngoài việc được sử dụng để so sánh với các doanh nghiệp
khác trong cùng ngành, các chỉ tiêu đó có thể được dùng để xác định xu hướng hoạt
động của doanh nghiệp trong một thời kỳ, từ đó phát hiện ra những khó khăn doanh
nghiệp có thể sẽ gặp phải. Nhà phân tích nếu biết kết hợp phương pháp phân tích tỷ
lệ và phương pháp phân tích Dupont sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phân tích tài
chính doanh nghiệp.
Ngoài các phương pháp phân tích chủ yếu trên, người ta còn sử dụng một số
phương pháp khác: phương pháp đồ thị, phương pháp biểu đồ, phương pháp toán tài
chính,... kể cả phương pháp phân tích các tình huống giả định.
Trong quá trình phân tích tổng thể thì việc áp dụng linh hoạt, xen kẽ các
phương pháp sẽ đem lại kết quả cao hơn khi phân tích đơn thuần, vì trong phân tích
tài chính kết quả mà mỗi chỉ tiêu đem lại chỉ thực sự có ý nghĩa khi xem xét nó
trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác. Do vậy, phương pháp phân tích hữu hiệu
cần đi từ tổng quát đánh giá chung cho đến các phần chi tiết, hay nói cách khác là
Trang 18
lúc đầu ta nhìn nhận tình hình tài chính trên một bình diện rộng, sau đó đi vào phân

tích đánh giá các chỉ số tổng quát về tình hình tài chính và để hiểu rõ hơn ta sẽ phân
tích các chỉ tiêu tài chính đặc trưng của doanh nghiệp, so sánh với những năm trước
đó, đồng thời so sánh với tỷ lệ tham chiếu để cho thấy được xu hướng biến động
cũng như khả năng hoạt động của doanh nghiệp so với mức trung bình ngành ra sao.
4-Nội dung phân tích tài chính
4.1-Phân tích các tỷ số tài chính
4.1.1-Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Tình hình tài chính được thể hiện khá rõ nét qua các chỉ tiêu tài chính về khả
năng thanh toán của doanh nghiệp. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh
mối quan hệ tài chính các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với khoản phải
thanh toán trong kỳ. Sự thiếu hụt về khả năng thanh khoản có thể đưa doanh nghiệp
tới tình trạng không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp đúng
hạn và có thể phải ngừng hoạt động. Do đó cần chú ý đến khả năng thanh toán của
doanh nghiệp. Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau đây:
Tài sản lưu động
Khả năng thanh toán hiện hành =
Nợ ngắn hạn
Tỷ số thanh toán hiện hành thể hiện mối quan hệ giữa tài sản lưu động với các
khoản nợ ngắn hạn. TSLĐ bao gồm tiền, chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển nhượng,
các khoản phải thu, các lhoản dự trữ. Nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay
ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, các khoản phỉa trả
nhà cung cấp, các khoản phải trả các khoản phải nộp khác. Cả TSLĐ và nợ ngắn
hạn đều có htời hạn dưới một năm.
Hệ số này thể hiện khả năng thanh toán trong ngắn hạncủa doanh nghiệp, nó
cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài
sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của
khoản nợ đó. Khi đã có hệ số này ta tiến hành so sánh với tỷ số tham chiếukhác như:
mức trung bình ngành, tỷ lệ kỳ trước...để được sự đánh giá tốt hơn.
Trang 19


Tài sản lưu động -Dự trữ
Khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Tỷ số thanh toán nhanh thể hiện mối quan hệ giữa các tài sản quay vòng nhanh
với nợ ngắn hạn. Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóng
chuyển thành tiền, bao gồm: tiền, chứng khoán, ngắn hạn, các khoản phải thu. Tài
sản dự trữlà các tài sản khó chuyển đổi thành tiền hơn trong tài sản lưu động và dễ
bị lỗ nhất khi bán.Do, vậy, tỷ số khả năng thanh toán nhanh xho biết khả năng hoàn
trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán các tài sản dự trữ.
Tiền
Khả năng thanh toán tức thời =
Nợ đến hạn
Tỷ số thanh toán tức thời thể hiện mối quan hệ tiền (tiền mặt và các khoản
tương đương tiền như chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển đổi...)và khoản nợ đến hạn
phải trả. Nợ đến hạn phải trả bao gồm nợ ngắn hạn, trung hạn, dài hạn đến hạn trả.
Tỷ số thanh toán nhanh chưa bộc lộ hết khả năng thanh toán của doanh nghiệp bởi
nó mới tính đến các khoản nợ ngắn hạn. Nếu nợ dài hạn đến hạn trả doanh nghiệp
phải xử lý như thế nào nếu không lập kế hoạch từ trước và nó có khiến doanh
nghiệp mất khả năng thanh toán không?Tỷ số thanh toán tức thời cho chúng ta biết
khá rõ về tình trạng đó tuy nhiên hệ số này hết sức nhạy cảm nên doanh nghiệp cần
xác định phù hợp vì nếu hệ số thanh toán tức thời thấp hơn một thì doanh nghiệp
phải bán các tài sản lưu động khác như chứng khoán ngắn hạn... để thanh toán, còn
tỷ số thanh toán tức thời quá cao tức doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt thì
doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội sinh lời. Các chủ nợ đánh giá mức trung bình hợp lý cho
tỷ lệ này là 0.5. Khi tỷ lệ này lớn hơn 0.5 thì khả năng thanh toán tức thời của doanh
nghiệp là khả quan và ngược lại.
Trang 20
Tỷ số dự trữ trên vốn lưu động dòng: Tỷ số này cho biết dự trữ chiến bao
nhiêu phần trăm vốn lưu động ròng. Nó đượctính bằng cáchlấy dự trữ chia cho vốn
lưu động ròng. Nếu dự trữ trên vốn lưu động ròng quá cao thì sẽ không tốt vì dự trữ

khoản khonả khó chuyển đổi thành tiền nhất trong vốn lưu động ròng. Và khi
chuyển đổi dự trữ thành tiền thì chi phí chuyển đổi cao doanh nghiệp sẽ bị thiệt hại,
do vậy doanh nghiệp tính toán một mức dự trữ cho hợp lý tránh tình trạng tồn động
vốn gây thiệt hại.
Sau khi tính toán các chỉ tiêu trên doanh nghiệp, doanh nghiệp tiến hành phân
tích một cách chi tiết nhu cầu và khả năng thanh toán nhằm đánh giá chính xác tình
hình thanh toán của doanh nghiệp bằng cách đối chiếu và so sánh với các tỷ số
thanh toán năm trước và các chỉ số tham chiếu.
Không thể đưa ra một chỉ tiêu chuẩn mực về hệ số thanh toán cho tất cả các
loại hình doanh nghiệp. Nhưng thông thường hệ số thanh toán trên 0.5 thì coi là lành
mạnh còn dưới 0.5 là dấu hiệu không lành mạnh.
4.1.2-Các tỷ số về khả năng cân đối vốn
Tỷ số này dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu doanh nghiệp so
với phân ftài trợ của các chủ nợ đối với doanh nghiệp và có ý nghĩa quan trọng
trọng phân tích tài chính. Bởi lẽ, các chủ nợ nhìn vào số vốn chủ sở hữu của công ty
để thể hiện mức độ tin tưởng vào sự đảm bảo an toàn cho các món nợ. Nếu chủ sở
hữu doanh nghiệp chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro trong sản
xuất-kinh doanh chủ yếu do các chủ nợ gánh chịu. Mặt khác bằng cách tăng vốn
thông qua vay nợ, các chủ doanh nghiệp vẫn nắm quyền kiểm soát, điều hành doanh
nghiệp. Ngoài ra, nếu doanh nghiệp thu được lợi nhuận từ tiền vay thì lợi nhuận
dành cho các chủ doanh nghiệp sẽ gia tăng đáng kể.
Nghiên cứu các chỉ tiêu về khả năng cân đối vốn nhằm mục đích chỉ ra doanh
nghiệp đã có một cơ cấu vốn hợp lý hay chưa? Một trong nững mục tiêu của doanh
nghiệp là đạt được cơ cấu vốn tối ưu nhằm tối đa hoá giá trị tài sản sở hữu. Trong
quá trình hoạt động kinh doanh cơ cấu tài chính của doanh nghiệp luôn luôn thay
đổi, nghiên cứu nhóm chỉ tiêu này chúng ta xem xét một số chỉ chủ yếu: hệ số nợ,
khả năng thanh thanh toán lãi vay...
Trang 21
Tổng nợ
Hệ số nợ =

Tổng tài sản
Hệ số này xác định trong một đồng doanh nghiệp đang sử dụng có bao nhiêu
phần là nợ vay. Hệ số nợ là tỷ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ
doanh nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn. Hệ số nợ được các chủ nợ và
chủ đầu tư góp vốn liên doanh quan tâm rộng rãi. Thông thường các chủ nợ thích tỷ
số nợ trên tổng tài sản vừa phải tỷ số này càng thấp thì các khoản nợ càng được đảm
bảo trong truờng hợp doanh nghiệp bị phá sản. Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh
nghiệp ưa thích tỷ số này cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng nhanh và muốn toàn
quyền kiểm soát doanh nghiệp. Song nếu tỷ số nợ quá cao, doanh nghiệp dễ bị rơi
vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Khả năng thanh toán lãi vay =
lãi vay
Tỷ số về khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả
năng trả lãi hàng năm như thế nào. Việc không trả được các khoản nợ này sẽ thể
hiện khả năng doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản. Lãi vay là một khoản chi phí,
doanh nghiệp dùng thu nhập trước thuế để trả lãi. Nó phản ánh doanh nghiệp sử
dụng vốn vay có hiệu quả hay không cà chỉ tiêu này rất được các người cho vay
quan tâm.
Tài sản cố định/ Tài sản lưu động
Tỷ số cơ cấu tài sản =
Tổng tài sản
Tỷ số này phản ánh tương quan giữa TSCĐ và TSLĐ so với tổng tài sản.
Thông qua tỷ số này, ta có thể thấy được loại hình doanh nghiệp là sản xuất hay
kinh doanh thương mại.
Vốn chủ sở hữu
Tỷ số cơ cấu nguồn vốn =
Trang 22
Tổng nguồn vốn
Tỷ số này xác định mức đóng góp của của chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn

hiện có của doanh nghiệp. Tỷ số cơ cấu nguồn vốn có quan hệ mật thiết với hệ số
nợ. Tỷ số này lớn thì vốn chủ sở hữu lớn doanh nghiệp có được lợi thế khi tiếp cận
một số nguồn vốn vay mà yêu cầu vay phải có vốn chủ sở hữu lớn. Và ngược lại, tỷ
số này thấp gây bất lợi cho doanh nghiệp khi đi vay cũng như trong cạnh tranh.
4.1.3-Tỷ số về khả năng hoạt động
Các tỷ số hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của
doanh nghiệp. Vốn của doanh nghiệp được dùng để đầu tư vào các tài sản khác nhau
như tài sản cố định, tài sản lưu động. Do đó, các nhà phân tích không chỉ quan tâm
đến việc đo lường hiệu quả sử dụng tổng tài sản mà còn chú trọng đến hiệu quả sử
dụng từng bộ phận cấu thành tổng tài sản của doanh nghiệp. Chỉ tiêu doanh thu
được sử dụng chủ yếu trong tính toán các chỉ số này để xem xét khả năng hoạt động
của doanh nghiệp.
Doanh thu
Vòng quay tiền =
Tiền và chứng khoán dễ bán
Tỷ số này cho biết vòng quay của tiền trong năm. Vòng quay tiền càng cao
hiệu quả kinh doanh càng tốt.
Doanh thu
Vòng quay dự trữ =
Dự trữ
Vòng quay dự trữ là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh già hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vòng quay dự trữ được xác định bằng tỷ số giữa
doanh thu trong năm và giá trị dự trữ (nguyên vật liệu,vật liệu phụ, sản phẩm dở
dang, thành phẩm) bình quân. Chỉ tiêu này khá quan trọng nó đánh giá hiệu quả của
TSLĐ. Nếu chỉ tiêu này cao tức là mức độ luân chuyển dự trữ nhanh, lượng dự trữ
không lớn, ít bị ứ đọng vốn.
Các khoản phải thu
Trang 23
Kỳ thu tiền bình quân =
Doanh thu bình quân một ngày

Trong phân tích tài chính, kỳ thu tiền bình quân được sử dụng để đánh giá khả
năng thu tiền trong thanh toán trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu bình quân
một ngày. Các khoản phải thu lớn hay nhỏ phụ thuộc vào chình sách thương mại của
doanh nghiệp và các khoản trả trước. Trong nền kinh tế thị trường các chủ kinh tế có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau về sử dụng vốn và chiếm dụng vốn. Chỉ tiêu này rất
quan trọng ví nếu chu kỳ thu tiền bình quân lớn chứng tỏ khoản phải thu lớn, vốn
doanh nghiệp bị chiếm dụng, gây khó khăn cho việc huy động vốn, nếu kỳ thu tiền
bình quân nhỏ, các khoản phải thu nhỏ nhưng giao dịch với khách hàng và chính
sách tín dụng thương mại bị hạn hẹp, quan hệ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp
khác giảm, thị trường giảm, do đó việc để chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân cao hay
thấp tuỳ thuộc vào mục tiêu hiện tại của doanh nghiệp.
Doanh thu
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Tài sản cố định
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản cố định tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
trong một năm. Tài sản cố định ở đây được xác định theo giá trị còn lại đến thời
điểm lập báo cáo.
Doanh thu
Hiệu quả sử dụng TSLĐ =
Tài sản lưu động
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản lưu động tạo ra bao nhiêu đồng doanh
thu trong một năm. Tài sản lưu động ở đây được xác định theo giá trị còn lại đến
thời điểm lập báo cáo.
Doanh thu
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản =
Tổng tài sản
Trang 24
Chỉ tiêu này còn dược gọi là vòng quay toàn bộ tài sản, nó được đo bằng tỷ số
giữa doanh thu và tổng tài sản và cho biết một đồng tài sản đem lại mấy đồng doanh
thu.

4.1.4-Tỷ số về khả năng sinh lời
Với một kinh doanh, lợi nhuận là chỉ tiêu cuối cùng để đánh giá hoạt động sản
xuất kinh doanh. Chỉ khi hoạt động có lợi nhuận doanh nghiệp mới có khả năng
thanh toán những khoản nợ mà không ảnh hưởng tới nguồn vốn, mới có khả năng
tái đầu mở rộng sản xuất, khẳng địnhvị trí của mình trong nền kinh tế. Tuy nhiên chỉ
tiêu lợi nhuận chưa phản ánh đầy đủ tình hình kinh doanh, nếu ta chỉ nhìn chỉ tiêu
lợi nhuận để đánh giá hoạt động của doanh nghiệp là tốt hay xấu thì dễ dẫn đến sai
lầm. Bởi vì đánh giá lợi nhuận cần so sánh tương quan với chi phí, với lượng tài sản
mà doanh nghiệp sử dụng và bộ phận vốn chủ sở hữu huy động vào sản xuất kinh
doanh.
Khả năng sinh lời là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả sản xuất kinh
doanh, là đáp số sau cùng của quá trình kinh doanh, tỷ số khả năng sinh lời phản ánh
tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý doanh nghiệp. Nó
được các nhà đầu tư rất quan tâm và là cơ sở để nhà quản trị hoạch định chính sách.
Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu sau:
Lợi nhuận sau thuế
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm =
Doanh thu
Chỉ tiêu này xác định bằng cách chia lợi nhuận sau thuế (thu nhập sau thuế)
cho doanh thu. Nó phản ánh số lợi nhuận sau thuế trong một trăm đồng doanh thu.
Chỉ tiêu này nói chung càng cao càng tốt tuy nhiên nó còn phụ thuộc vào ngành
nghề kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp.
Lợi nhuận sau thuế
Doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) =
Vốn chủ sở hữu
Trang 25

×