Tải bản đầy đủ (.pdf) (13 trang)

Phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong giao dịch thẻ ngân hàng và ngân hàng điện tử

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (312.1 KB, 13 trang )

Kỷ yếu HộI THảO KHOA HọC QUốC GIA

"CÁCH MạNG CÔNG NGHIệP 4.0 VÀ NHữNG ĐổI MớI TRONG LĨNH VựC TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG"

PHỊNG, CHỐNG TỘI PHẠM CƠNG NGHỆ CAO
TRONG GIAO DỊCH THẺ NGÂN HÀNG VÀ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
TS. Nguyễn Thị Bích Vượng1
Trường Đại học Trưng Vương và Trường Cao đẳng Công thương Hà Nội
ThS. Nguyễn Thị Vân
Chi nhánh Ngân hàng Hợp tác xã Thanh Hóa
Tóm tắt
Những năm gần đây, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp
lần thứ 4 mà công nghệ ngân hàng đã có bước tiến nhảy vọt. Khách hàng khơng cần đến
ngân hàng vẫn có thể quản lý tài khoản, thanh tốn, chuyển tiền, mua sắm... thơng qua
các dịch vụ ngân hàng điện tử; nhờ đó, số lượng khách hàng và những giao dịch qua
kênh này ngày một gia tăng, mang đến nhiều lợi ích thiết thực cho cả ngân hàng, trung
gian thanh toán, khách hàng và nền kinh tế. Tuy nhiên, những vụ vi phạm và tấn công
mạng đang gia tăng, dẫn đến lo ngại về tình trạng bất ổn, tiếp tục xói mịn niềm tin của
khách hàng. Thực tế cho thấy, tội phạm cơng nghệ cao có thể lấy cắp tài sản và thông tin
của ngân hàng mà không cần phải đến ngân hàng, thậm chí cũng khơng cần kết nối về
mặt vật lý. Do đó, Chính phủ, các cơ quan Nhà nước, ngân hàng cần chủ động có biện
pháp đối phó khả thi để đảm bảo an ninh mạng và thông tin của khách hàng.
Bài viết chỉ ra những rủi ro trong giao dịch thẻ ngân hàng và ngân hàng điện tử
thông qua những vụ việc cụ thể, từ đó đưa ra phương pháp phịng tránh tội phạm cơng
nghệ cao đối với người dân và giải pháp phịng chống tội phạm đối với cơ quan Nhà
nước và ngân hàng.
Từ khóa: Cách mạng cơng nghiệp 4.0, tội phạm cơng nghệ cao, thẻ ngân hàng, ngân
hàng điện tử
1. Mở đầu
Nhờ triển khai quyết liệt, mạnh mẽ Đề án Thanh toán khơng dùng tiền mặt của
Chính phủ, nhận thức và thói quen về sử dụng tiền mặt trong thanh toán trong nền kinh


tế đã có chuyển biến tích cực theo hướng ngày càng nhiều người chọn hình thức thanh
tốn khơng dùng tiền mặt (TTKDTM) thay cho thanh toán bằng tiền mặt.

1

Email:

153


Kỷ yếu HộI THảO KHOA HọC QUốC GIA

"CÁCH MạNG CÔNG NGHIệP 4.0 VÀ NHữNG ĐổI MớI TRONG LĨNH VựC TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG"

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, năm 2010, tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương
tiện thanh tốn là 14,02%, sau q trình triển khai Đề án TTKDTM, đến tháng 1/2017,
con số này còn giảm xuống còn 11,5%, ngược lại, tốc độ tăng trưởng về giá trị giao dịch
thanh tốn hàng hóa dịch vụ lại gấp 1,7 lần so với 2015. Tính đến 31/12/2017, tổng giá
trị giao dịch thanh toán nội địa theo các phương tiện TTKDTM đạt trên 24,92 triệu tỷ
đồng, tăng 43,5% so với năm 2016, trong đó giao dịch qua thẻ ngân hàng đạt 156.179 tỷ
đồng, séc là 95.133 tỷ đồng, lệnh chi và nhờ thu đạt trên 23 triệu tỷ đồng; các phương
tiện thanh tốn khác gồm: Hối phiếu, Lệnh phiếu, Thư tín dụng nội địa, SMS Banking,
Mobile Banking, Phone Banking, Internet Banking, Giấy chuyển khoản từ tài khoản
vãng lai CA-Current Account,... đạt gần 1,67 triệu tỷ đồng.
Cơ sở hạ tầng thanh toán cũng được đáp ứng đầy đủ để thúc đẩy TTKDTM trong
nền kinh tế. Tính đến tháng 6/2017, số lượng thẻ phát hành của toàn thị trường đạt trên
112 triệu thẻ; tồn quốc có 17.586 máy ATM và 293.324 máy POS. Các POS được lắp đặt
tại hầu hết các siêu thị, cơ sở, chuỗi phân phối, bán lẻ, khách sạn và đang được các ngân
hàng mở rộng dần ra các cơ sở y tế, bệnh viện, trường học. Doanh số thanh tốn qua thẻ
tăng trưởng mạnh, tính từ 1/1/2017 đến tháng 6/2017, doanh số thanh tốn qua thẻ tồn

thị trường đạt trên 1,2 triệu tỷ đồng.
Bên cạnh việc phát triển TTKDTM qua thẻ, Internet Banking, các ngân hàng đã và
đang triển khai mạnh mẽ ngân hàng điện tử, đặc biệt là Mobile Banking - chìa khố thúc
đẩy phát triển TTKDTM tại Việt Nam với sự tăng trưởng mạnh từ nhu cầu sử dụng thiết
bị di động của giới trẻ khi 70% giới trẻ Việt Nam sử dụng điện thoại thông minh. Đồng
thời, các ngân hàng còn chủ động đầu tư, ứng dụng các giải pháp cơng nghệ thanh tốn
mới, hiện đại, bảo mật như: xác thực vân tay, sinh trắc học, sử dụng mã QR để thanh
toán, thanh toán phi tiếp xúc... để mang lại tiện lợi và an toàn trong giao dịch thanh toán
điện tử.
Tại Việt Nam, nếu năm 2013, chỉ 20% dân số dùng điện thoại thông minh, đến năm
2016 là 72%. Hết tháng 6/2017, Việt Nam có khoảng 48 triệu thuê bao di động băng rộng
gồm cả 3G và 4G. Theo ước tính của Forrester Research Inc, thanh toán di động sẽ vượt
mức 142 tỷ USD vào năm 2019. Cịn theo Javelin, EY, tổng giá trị thanh tốn qua hình
thức ứng dụng di động sẽ đạt mức 194 tỷ USD năm 2017 và 319 tỷ USD vào năm 2020.
Số lượng người dùng hình thức thanh tốn di động ước tính là 1.476 triệu người năm
2017 và sẽ tăng 47% vào năm 2019, trong đó khu vực châu Á và châu Úc chiếm đa số.
Bên cạnh hệ thống ngân hàng, cịn có nhiều tổ chức trung gian giúp khách hàng
tham gia thanh tốn trực tuyến như VNPay, ví điện tử MoMo, Moca, Bankpay, VTCPay...
154


Kỷ yếu HộI THảO KHOA HọC QUốC GIA

"CÁCH MạNG CÔNG NGHIệP 4.0 VÀ NHữNG ĐổI MớI TRONG LĨNH VựC TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG"

Các tổ chức trung gian thanh tốn này đang dần đáp ứng nhu cầu thay đổi phương thức
thanh tốn khi giao dịch, mua hàng của người dân.
Có thể thấy rằng TTKDTM là xu hướng tất yếu của sự phát triển. Nắm bắt được
xu hướng này, thời gian gần đây, ngành Ngân hàng đã tích cực triển khai các dịch vụ
TTKDTM. Tất cả các Ngân hàng thương mại đã thiết lập được hệ thống ngân hàng

lõi (core banking), đồng thời phát triển hệ thống thanh toán nội bộ, tích hợp đa kênh
thanh tốn hiện đại từ thanh tốn trên di động (Mobile Banking), trên Internet (Internet
Baning), dịch vụ tin nhắn chủ động (SMS Banking)... đáp ứng được nhu cầu ngày càng
đa dạng của khách hàng.
Các dịch vụ, sản phẩm Mobile Banking, Internet Banking được hệ thống ngân hàng
triển khai như: quản lý tài khoản, cân đối tài khoản; thanh tốn dịch vụ; mua, bán, xem
thơng tin tỷ giá, chứng khốn; nạp tiền cho thẻ tín dụng, điện thoại; giao dịch chứng
khoán, mua vé máy bay, xem phim,... nhằm giúp khách hàng thuận tiện giao dịch ngay
trên máy tính, điện thoại thông minh với phương thức bảo mật thông minh như quét
mã, xác thực bằng vân tay, mống mắt, giọng nói...
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cơng nghệ, viễn thông, tội phạm công nghệ cao
trên thế giới và Việt Nam cũng đáng diễn biến phức tạp. Theo đó, các vụ phạm tội liên
quan đến lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt tội phạm thẻ càng trở nên phức tạp, khó lường;
quy mơ, tính chất, hậu quả, mức đợ thiệt hại đều không ngừng tăng nhanh và nghiêm
trọng hơn so với thời gian trước; đối tượng phạm tội sử dụng công nghệ cao ngày càng
đa dạng, từ đối tượng phạm tội chuyên nghiệp đến tầng lớp học sinh, sinh viên... Từ
những hành vi đơn giản ban đầu như sử dụng mạng Internet phát tán virut nhằm trộm
cắp thông tin hoặc phá hoại dữ liệu, đến nay, tội phạm sử dụng công nghệ cao đã triệt để
sử dụng mạng Internet, viễn thông như một công cụ đắc lực phục vụ hàng loạt hành vi
phạm tội như lừa đảo trong thương mại điện tử, trộm cắp thông tin thẻ tín dụng nhằm
chiếm đoạt tài sản, trộm cắp cước viễn thông... Loại tội phạm này được xếp vào nhóm
những nguy cơ đe dọa an ninh lớn nhất đối với các quốc gia, ngang hàng với tội phạm
khủng bố, vũ khí hóa học và thảm họa hạt nhân.
Chính vì vậy, Chính phủ, các cơ quan Nhà nước, ngân hàng cũng như người sử dụng
ngân hàng điện tử cần có những giải pháp phịng, chống loại tội phạm nguy hiểm này.
2. Lợi ích của Ngân hàng điện tử đối với nền kinh tế
Ngân hàng điện tử (E-Banking) là một loại hình dịch vụ ngân hàng diễn ra ở tất cả
các giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ
155



Kỷ yếu HộI THảO KHOA HọC QUốC GIA

"CÁCH MạNG CÔNG NGHIệP 4.0 VÀ NHữNG ĐổI MớI TRONG LĨNH VựC TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG"

liệu số hóa. Có thể kể đến một số dịch vụ ngân hàng kỹ thuật số xuất hiện phổ biến trên
thị trường hiện nay là: Home Banking, Internet Banking, Mobile Banking, Ví Điện tử,
Thẻ ngân hàng, Phone Banking... Dịch vụ Internet Banking, Mobile Banking với nhiều
tính năng, tiện ích như chuyển tiền đến thẻ Visa, chuyển tiền - nhận bằng di động, nạp
tiền điện thoại hoặc thẻ trả trước, mua vé máy bay, vé tàu, mua vé xem phim, thanh tốn
hóa đơn tự động bằng thẻ tín dụng... Mỗi dịch vụ có những tính năng và tiện ích riêng.
Với đặc tính là các giao dịch được thực hiện thông qua thiết bị điện tử và mạng viễn
thông, nên dịch vụ ngân hàng điện tử mang đến nhiều lợi ích thiết thực cho cả ngân
hàng, khách hàng và tồn xã hội.
Phải nói đến, ngân hàng điện tử mở ra một kênh phát triển mới cho các dịch vụ
ngân hàng. Thông qua việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng điện tử, ngân hàng có thể dễ
dàng mở rộng phạm vi hoạt động, tiếp cận với khách hàng mọi lúc mọi nơi mà không bị
giới hạn về không gian và thời gian. Thông qua phương tiện công nghệ thông tin hiện
đại, các ngân hàng có thể tiến hành giới thiệu sản phẩm đến khách hàng nhanh chóng,
thuận tiện và hiệu quả hơn. Đồng thời, cắt giảm được các chi phí liên quan đến giao dịch
như: chi phí văn phịng, nhân viên, văn phòng phẩm, giấy tờ, quản lý hệ thống kho quỹ...
Ngày nay, phương tiện thanh toán điện tử phát triển tạo cơ sở cho các dịch vụ ngân hàng
điện tử ngày càng có nhiều cơ hội để mở rộng thị trường và tiếp cận đến người sử dụng.
Đặc biệt, thẻ ngân hàng đã trở thành phương tiện thanh tốn phổ biến, đa dụng, tiện ích,
tốc độ tăng trưởng nhanh.
Theo số liệu của Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam, tính đến tháng 6/2017, số lượng thẻ
phát hành của tồn thị trường đạt trên 112 triệu thẻ, trong đó, thẻ ghi nợ nội địa chiếm
86,11%, còn lại là thẻ ghi nợ quốc tế, thẻ tín dụng nội địa, thẻ tín dụng quốc tế, thẻ trả
trước nội địa, thẻ trả trước quốc tế. Cùng với việc tăng nhanh số lượng thẻ, lượng máy
ATM và máy POS cũng tăng khơng ngừng, tính đến tháng 6/2017, có 17.586 máy ATM

và 293.324 máy POS được lắp đặt trên tồn quốc. Tính từ 1/1/2017 đến tháng 6/2017,
doanh số thanh tốn qua thẻ tồn thị trường đạt trên 1,2 triệu tỷ đồng. Điều này cho
thấy, các chính sách nhằm khuyến khích người dân, doanh nghiệp thanh tốn khơng
dùng tiền mặt của Chính phủ, ngành Ngân hàng đã có những bước phát triển, thói quen
sử dụng tiền mặt của người Việt Nam đã giảm dần.
Một số trung gian thanh toán cũng đã tham gia cung cấp các sản phẩm, dịch vụ giúp
khách hàng có thêm kênh giao dịch, thanh tốn. Có thể kể đến ví điện tử MoMo, đây là
một chiếc ví điện tử với nhiều dịch vụ tiện ích như chuyển khoản, thanh tốn hóa đơn
điện nước, mua vé tàu, mua vé máy bay, mua vé xem phim,...
156


Kỷ yếu HộI THảO KHOA HọC QUốC GIA

"CÁCH MạNG CÔNG NGHIệP 4.0 VÀ NHữNG ĐổI MớI TRONG LĨNH VựC TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG"

Về phía khách hàng, thực tế đã chứng minh các dịch vụ ngân hàng điện tử rất dễ sử
dụng, giao dịch tiện lợi lại hiệu quả và giúp khách hàng tiết kiệm thời gian, chi phí giao
dịch, đi lại. (Thực tế hiện nay giao dịch qua Mobile Banking giúp tiết kiệm thời gian đến
13 lần so với ATM và gấp nhiều lần so với giao dịch tại quầy. Đó là lý do các ngân hàng
đầu tư cơng nghệ, đặc biệt là dịch vụ Internet Banking và Mobile Banking). Các bước
giao dịch qua dịch vụ ngân hàng điện tử đều được định sẵn, chỉ cần thực hiện theo đúng
các bước yêu cầu, giao dịch sẽ được thực hiện một cách chính xác. Đồng thời khi giao
dịch khơng thành cơng do lỗi ở bước nào đó hoặc thơng tin nhập vào chưa đúng cũng
được hệ thống báo ngay. Sử dụng dịch vụ ngân hàng kỹ thuật số, các phương tiện điện tử
có kết nối mạng viễn thơng, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch bất cứ lúc nào và
ở đâu, dù đang làm gì chỉ cần kết nối mạng. Hơn nữa, với đặc điểm giao dịch qua mạng,
các ngân hàng có thể liên kết với nhau thành các liên minh thẻ tạo thuận lợi cho khách
hàng thực hiện các giao dịch liên ngân hàng của mình.
Về phía xã hội, dịch vụ ngân hàng điện tử là một phương thức hoạt động mới, góp

phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế thương mại, dịch vụ và du lịch phát triển, tạo điều
kiện mở rộng hợp tác kinh tế thương mại với khu vực và thế giới. Việc chấp thuận sử
dụng Internet như một kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ ngân hàng không những
đem lại cơ hội kinh doanh mới cho ngân hàng, mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng
mà cịn qua đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội trong sản xuất - phân phối - trao đổi tiêu dùng; xã hội kinh tế điện tử và quản lý điện tử.
3. Một số rủi ro khi giao dịch Ngân hàng điện tử
Song hành với những lợi ích thiết thực đối với người dân và nền kinh tế là những rủi
ro có thể xảy ra trong quá trình sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử. Tại Việt Nam, theo
báo cáo mới nhất về an tồn bảo mật thơng tin1: Trong xếp hạng an tồn bảo mật thông
tin các quốc gia trên thế giới, Việt Nam hiện xếp thứ 100, thuộc diện trung bình yếu.
Trên thế giới, trung bình đầu tư cho an tồn, bảo mật thông tin trong các dự án công
nghệ thông tin của các tổ chức chiếm 15% - 25%, thì tại Việt Nam chỉ chiếm gần 5%.
Cứ trong 100 thư rác phát tán trên thế giới, Việt Nam chiếm 11,17%, Trung Quốc
12,4%, Mỹ 8,5%, như vậy nếu tính theo đầu người thì Việt Nam gấp 13,4 lần Trung Quốc,
8 lần Mỹ, và đứng đầu thế giới về phát tán thư rác có chứa mã độc; 61% máy PC của
Trích từ Báo cáo giải trình Sự cần thiết của Luật An ninh mạng do Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam báo cáo trước
Quốc hội tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV.

1

157


Kỷ yếu HộI THảO KHOA HọC QUốC GIA

"CÁCH MạNG CÔNG NGHIệP 4.0 VÀ NHữNG ĐổI MớI TRONG LĨNH VựC TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG"

người dùng Việt Nam bị nhiễm mã độc so với trung bình thế giới là 19%; tỷ lệ lây nhiễm
các thiết bị cá nhân tại chỗ cao nhất thế giới, cuối năm 2016 là 71,38%.
Theo một báo cáo của bộ phận bảo mật McAfee thuộc Tập đoàn công nghệ Intel,

thiệt hại hàng năm do giới tội phạm mạng máy tính gây ra cho tồn thế giới ở mức khiêm
tốn nhất cũng lên tới 375 tỷ USD, trong khi mức tối đa sẽ rơi vào khoảng 575 tỷ USD.
Báo cáo là kết quả tổng hợp dữ liệu của 51 quốc gia trải rộng khắp nơi có tổng thu nhập
quốc dân khoảng 80% của toàn thế giới.
Năm 2017, thiệt hại do virus máy tính gây ra đối với người dùng Việt Nam đã lên tới
12.300 tỷ đồng, tương đương 540 triệu USD, vượt xa mốc 10.400 tỷ đồng của năm 2016.
Mức thiệt hại tại Việt Nam đã đạt kỷ lục trong nhiều năm trở lại đây. Trong bản đồ thiệt
hại do “tin tặc” gây ra trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP), Việt Nam là quốc gia có mức
độ bảo mật ở mức thấp (màu tím). Số thiệt hại do “tin tặc” gây ra đối với Việt Nam ước
tính vào khoảng 0,13% GDP mỗi năm.
Về nhận thức và hành vi của người dùng trong việc đảm bảo an toàn thông tin khi
truy cập mạng, người dùng Việt Nam thuộc diện “yếu” nhất thế giới; 60% người dùng
trên thế giới khi được hỏi đều có nhận thức về việc mất an toàn là do bản thân nhưng tại
Việt Nam, chỉ có gần 11% người dùng nhận biết được điều này.
Các chuyên gia quốc tế khi đánh giá về nhận thức đảm bảo an tồn, bảo mật thơng
tin của người dùng Việt Nam đã dùng 02 từ để mơ tả chính xác nhất, đó là “dễ dãi”. Tại
Việt Nam phát sinh nhiều vụ việc tin tặc lợi dụng sự “dễ dãi” của người dùng để lừa đảo,
đánh cắp thông tin, đăng nhập hệ thống ngân hàng điện tử, mật khẩu một lần (OTP) để
thực hiện hành vi đánh cắp tiền thông qua hệ thống ngân hàng điện tử. Vì vậy, một trong
các rào cản lớn trong việc đảm bảo an toàn, bảo mật khi cung cấp dịch vụ ngân hàng điện
tử tại Việt Nam là nhận thức của người dùng về an tồn, bảo mật thơng tin của người
dùng trên mơi trường mạng.
Phần lớn những vụ việc người dùng bị đánh cắp tiền qua ngân hàng điện tử là do
khách hàng vô ý để làm lộ thông tin cá nhân. Trên thực tế, thông tin cá nhân này thường
bị kẻ gian đánh cắp khi khách hàng truy nhập vào các trang website lạ, các trang website
giả mạo, các đường link do virus tự động gửi hoặc máy tính/điện thoại bị nhiễm mã độc.
Theo đánh giá chung, những người bị đánh cắp thông tin thường mù mờ về công nghệ,
dẫn đến những hậu quả khơn lường.
Ngồi sự “dễ dãi” của người sử dụng, những rủi ro trong giao dịch ngân hàng điện
tử phải đối mặt như: về sự cố mạng, an ninh...

158


Kỷ yếu HộI THảO KHOA HọC QUốC GIA

"CÁCH MạNG CÔNG NGHIệP 4.0 VÀ NHữNG ĐổI MớI TRONG LĨNH VựC TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG"

Bảo mật, an tồn và an ninh: Đặc điểm của các giao dịch ngân hàng điện tử là
thường qua hệ thống mạng, do đó khách hàng ln có tâm lý phải đối mặt với những
rủi ro như hacker, virus máy tính... Việc thực hiện các giao dịch qua mạng đem đến cho
khách hàng sự thuận tiện và nhanh chóng, tuy nhiên, các giao dịch lại phụ thuộc vào
công nghệ. Bảo mật, an ninh là một trong những vấn đề lớn nhất của ngân hàng điện
tử. Cho dù sử dụng hình thức bảo mật nào thì vẫn có khả năng bị đánh cắp thông tin
cá nhân bởi máy tính truy cập có thể bị cài những mã độc hại. Vấn đề này thường nằm
ngồi tầm kiểm sốt của ngân hàng vì bọn tội phạm ln sử dụng nhiều chiêu thức mới
nhằm lấy cắp thông tin khách hàng. Tại các máy ATM, những tên tội phạm vẫn có thể
xâm nhập vào hệ thống máy ATM, vì vậy mã PIN và mã thẻ của khách hàng có thể bị lấy
cắp sau khi sử dụng máy.
Giả mạo ngân hàng là chiêu trị khơng mới nhưng cũng khơng hề cũ. Đây là thủ
đoạn lừa đảo được kẻ gian thực hiện bằng cách đánh cắp thông tin truy cập dịch vụ của
khách hàng: tên đăng nhập, mật khẩu truy cập dịch vụ Internet Banking, mật khẩu truy
cập email cá nhân, mã xác nhận giao dịch một lần sau đó thực hiện việc giao dịch lấy cắp
tiền của khách hàng dưới nhiều hình thức.
Việc lừa lấy thông tin thường được kẻ gian thực hiện bằng cách thông báo về việc
khách hàng đã trúng thưởng, được ngân hàng hoàn tiền và họ cần xác nhận để được
nhận lại tiền hoặc giả danh bạn bè trên mạng xã hội để nhờ khách hàng chuyển tiền, nạp
tiền điện tử trên các kênh ngân hàng kỹ thuật số vào tài khoản hay số điện thoại của kẻ
gian để lấy cắp tiền.
Những chiêu trò này đã được các ngân hàng cũng như phương tiện thông tin cảnh
báo rộng rãi nhưng kẻ gian vẫn tiếp tục sử dụng để lừa đảo và nhiều khách hàng vẫn sơ

hở và bị lợi dụng.
Sự cố mạng và vấn đề kỹ thuật: Hệ thống mạng vẫn có những sự cố làm gián đoạn
giao dịch hoặc “chập chờn” trong giao dịch; mạng lưới ATM và sự kết nối thanh toán thẻ
qua POS của hệ thống ngân hàng chưa có được sự thống nhất. Bên cạnh đó, giao dịch
ngân hàng điện tử cũng gặp phải một số rủi ro như về vấn đề pháp lý, chứng thực khách
hàng, tính chính xác trong giao dịch.
Theo Cục Cảnh sát công nghệ cao (PC50), Công an TP. Hà Nội, tội phạm công nghệ
cao trong lĩnh vực Ngân hàng chủ yếu sử dụng 3 chiêu thức phạm tội, cụ thể:
Thứ nhất, mua, bán thông tin tài khoản thẻ ATM bị đánh cắp, sau đó tự sản xuất
thẻ giả để rút tiền. Loại tội phạm này chủ yếu là người nước ngồi, trong đó nhiều đối
159


Kỷ yếu HộI THảO KHOA HọC QUốC GIA

"CÁCH MạNG CÔNG NGHIệP 4.0 VÀ NHữNG ĐổI MớI TRONG LĨNH VựC TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG"

tượng là người Trung Quốc nhập cảnh vào Việt Nam qua đường tiểu ngạch hoặc đi du
lịch. Khi vào Việt Nam, chúng thường mang theo phôi thẻ ATM cùng các thiết bị để sản
xuất thẻ ATM, thẻ tín dụng giả.
Thứ hai, sử dụng Skimming, đây là một bộ thiết bị gồm: camera siêu nhỏ, khn
bàn phím của máy ATM, thiết bị đặt ở khe đút thẻ để sao lại dữ liệu. Loại tội phạm sử
dụng Skimming thường đến những trạm ATM vắng vẻ, ít người để ý rồi tiến hành lắp
đặt các thiết bị vào ATM. Người dùng thẻ ATM “sập bẫy”, khi gõ mật khẩu sẽ bị khn
bàn phím và camera ghi lại, khi thẻ đút vào khe sẽ bị sao chép lại dữ liệu. Từ đây các đối
tượng sẽ tiến hành đánh cắp thông tin của khách hàng và dùng thẻ giả để rút hết tiền
trong tài khoản rồi chiếm đoạt. Một số vụ việc điển hình sau có thể cho thấy, khách hàng
đã bị lộ thông tin do các thiết bị Skiming:
Anh N.V. Trung (Hà Nội) cho biết, bản thân sử dụng thẻ của Ngân hàng X để nhận
lương (số dư 74 triệu đồng), trong khi vợ anh nhận lương qua thẻ của Ngân hàng Y

(số dư hơn 120 triệu đồng). Do không đăng ký dịch vụ thông báo qua tin nhắn (SMS
Banking), đến kỳ nhận lương hàng tháng, hai vợ chồng mới đem thẻ đến trụ ATM kiểm
tra, sau đó đem về cất vào tủ. Trong kỳ trả lương tháng 7/2016, vợ chồng anh ra ATM
kiểm tra mới tá hỏa phát hiện cả hai thẻ đều có số dư bằng 0.
Sáng ngày 16/8/2016, anh Vũ Thành Phương (TP. Hồ Chí Minh) thức dậy và kiểm
tra điện thoại thấy có 14 tin nhắn báo về việc thẻ Master Card Debit của anh bị quẹt ở
Tokyo Disney Resrt Chiba JPN, Marriott HTL và Bookhaven NY. Trong số đó, có tất cả
5 giao dịch chuyển tiền thành công và tổng số tiền anh Vũ Thành Phương bị mất trong
một đêm là khoảng 17 triệu đồng.
Tháng 12/2017, chị Nguyễn Thúy Nga (quận Hà Đông, Hà Nội) bày tỏ sự bức xúc
khi phát hiện kẻ gian rút tiền từ thẻ ATM mất 20 triệu đồng qua 7 lần giao dịch, trong
khi thẻ ATM của chị vẫn ở trong túi.
Đặc biệt, cuối tháng 4/2018, 400 tài khoản khách hàng Agribank đã bị xâm nhập
và có hơn 10 tài khoản bị mất từ 10 - 24 triệu đồng/tài khoản dù đã báo khóa thẻ ATM
khiến dư luận đặc biệt quan tâm. Liên quan đến sự cố này, đại diện lãnh đạo Agribank
đã lên tiếng xác nhận và cho biết, các thẻ ATM của những khách hàng này sử dụng tại
máy ATM đã bị cài đặt các thiết bị sao chép dữ liệu thông tin của thẻ, dẫn đến một số thẻ
đã thẻ giả và bị rút mất tiền. Mặc dù phía ngân hàng đã phản hồi về cách thức giải quyết
và đưa khuyến cáo cho khách hàng mở tài khoản tại Agribank, song vẫn có nhiều ý kiến
lo ngại về cách thức kẻ gian đánh cắp thông tin dữ liệu tại ATM để trộm tiền đang ngày
càng tinh vi, phức tạp.
160


Kỷ yếu HộI THảO KHOA HọC QUốC GIA

"CÁCH MạNG CÔNG NGHIệP 4.0 VÀ NHữNG ĐổI MớI TRONG LĨNH VựC TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG"

Với những ví dụ trên, tội phạm đã tấn công vào hệ thống thẻ ATM nhằm ăn cắp
thông tin của khách hàng, tạo thẻ giả để rút tiền. Bên cạnh đó, tội phạm cịn lợi dụng hệ

thống thanh tốn qua POS để thơng đồng lấy tiền của ngân hàng. Đa số tội phạm mà cơ
quan Công an bắt giữ là người nước ngồi.
Cơng an Hà Nội đã điều tra bắt giữ 2 đối tượng người Trung Quốc liên kết với một
cơng ty tại Việt Nam có lắp đặt máy POS, thực hiện các giao dịch khống bằng thẻ tín
dụng giả của ngân hàng các nước chiếm đoạt số tiền gần 5,2 tỷ đồng.
Thứ ba, thủ đoạn Phishing. Trước tiên, các đối tượng sẽ mua thông tin khách hàng
như địa chỉ email, số điện thoại; sau đó giả danh các cơ quan, tổ chức gửi email, tin nhắn
thông báo trúng thưởng và yêu cầu khách hàng nộp một số tiền nhỏ vào tài khoản để
làm thủ tục nhận thưởng, nhận q từ đó chiếm đoạt thơng tin thẻ, mật khẩu, mã giao
dịch OTP...
Hoặc các đối tượng sẽ dụ người dùng đăng nhập vào các website giả mạo, có giao
diện giống với giao diện của ngân hàng mà người dùng sử dụng với mục đích đánh
cắp thơng tin tài khoản, mật khẩu... Thủ đoạn này cũng chính là phương thức được
các đối tượng sử dụng gây ra vụ việc đánh cắp 200 triệu đồng từ tài khoản Ngân hàng
Vietcombank của một khách hàng gây xôn xao dư luận vừa qua. Rất may, khi các đối
tượng định tiếp tục đánh cắp 300 triệu đồng của chủ thẻ, phía ngân hàng này đã kịp thời
phong tỏa.
Cách đây không lâu, tháng 12/2017, Đội Phịng chống tội phạm trong lĩnh vực Tài
chính - ngân hàng điện tử, Phòng Cảnh sát Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ
cao - CATP Hà Nội phát hiện, bắt giữ 2 đối tượng liên quan là Nguyễn Quang Tuấn và
Nguyễn Tuấn Anh sử dụng thủ đoạn đánh cắp tài khoản ngân hàng thông qua phương
thức đột nhập thư điện tử chiếm đoạt tiền. Với chiêu trò này, sau khi thu thập được
thông tin truy cập Internet Banking của khách hàng giao dịch, xác định trong tài khoản
có tiền, Tuấn Anh đã mang thông tin về cho Tuấn để hai người cùng dị tìm mật khẩu
trên thư điện tử của khách hàng A, khai thác tài khoản ngân hàng. Sau đó, Tuấn và Tuấn
Anh đã đột nhập tài khoản của khách hàng A, tự thao tác chuyển 90 triệu đồng sang tài
khoản do chúng lập ra.
Mới đây còn xuất hiện chiêu thức tội phạm làm quen và đề nghị người dùng mở tài
khoản, đăng ký dịch vụ ngân hàng điện tử, sau đó mua lại với giá cao nhằm sử dụng vào
mục đích lừa đảo, rút tiền mặt tại nước ngoài hoặc chuyển tiền. Chiêu thức mới của tội

phạm thẻ này đã được ngành Ngân hàng phát đi cảnh báo, đồng thời lưu ý người dùng
không đứng tên hộ người khác để mở tài khoản, mở thẻ và đăng ký dịch vụ ngân hàng
161


Kỷ yếu HộI THảO KHOA HọC QUốC GIA

"CÁCH MạNG CÔNG NGHIệP 4.0 VÀ NHữNG ĐổI MớI TRONG LĨNH VựC TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG"

điện tử. Trước đó, trên thị trường từng xuất hiện chiêu nhờ đứng tên làm thẻ ATM sau
đó mua lại nhằm sử dụng với mục đích tương tự như trên là lừa đảo, rút tiền mặt.
Không chỉ tấn công tài khoản khách hàng, các ngân hàng cũng là nạn nhân của các
tin tặc. Tháng 5/2016, Ngân hàng Tiên Phong cho biết đã từ chối yêu cầu chuyển hơn 1
triệu Euro (tương đương 1,13 triệu USD) vào cuối năm 2015. Yêu cầu chuyển tiền này
đến từ một dịch vụ của bên thứ ba mà các ngân hàng sử dụng để kết nối với hệ thống tin
nhắn SWIFT. Rất may là vụ việc đã không gây ra bất kỳ thiệt hại nào. Theo các chuyên
gia quốc tế, vụ tấn công này sử dụng phần mềm độc hại tương tự vụ tin tặc đánh cắp 81
triệu USD từ Ngân hàng Trung ương Bangladesh.
Thông qua nhiều vụ việc những năm gần đây cho thấy, tội phạm công nghệ cao tấn
công vào tài khoản khách hàng để rút tiền đều thông qua sử dụng Skimming, Phishing.
Lỗ hổng này đến từ cả 2 phía là ngân hàng và khách hàng. Ngân hàng chưa làm tốt cơng
tác bảo mật của mình, cịn khách hàng thiếu hiểu biết trong giao dịch, thanh toán tại
máy ATM và trên máy tính dưới hình thức Internet Banking.
Về tỷ lệ rủi ro trong thanh toán thẻ của Việt Nam so với các nước, đầu tháng 5/2018,
lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cho biết, các nước trên thế giới cũng có rủi ro khi thanh
tốn thẻ. Số liệu tháng 9/2016 của Tổ chức thẻ Visa cho thấy, tỷ lệ rủi ro trong thanh toán
thẻ của Việt Nam bằng 1/3 tỷ lệ mức trung bình các nước trong khu vực, thế giới.
4. Cách phòng tránh rủi ro trong giao dịch ngân hàng điện tử
Để phịng tránh những rủi ro khơng đáng có trong giao dịch ngân hàng điện tử,
người dùng có thể thực hiện những biện pháp sau:

Một là, tuyệt đối không cung cấp thông tin bảo mật các dịch vụ ngân hàng điện tử
(mật khẩu truy cập, OTP, mật khẩu truy cập địa chỉ email cá nhân) cho bất cứ ai và bằng
bất cứ hình thức nào (nhắn tin, trả lời điện thoại, tiết lộ trực tiếp...). Chỉ báo thông tin
cá nhân trừ khi chủ động gọi điện đến hotline của ngân hàng để được trợ giúp và ngân
hàng yêu cầu phối hợp cung cấp thông tin định danh khách hàng.
Hai là, tránh truy cập các website không đáng tin cậy, hoặc nhấp vào bất kỳ đường
dẫn nào yêu cầu cung cấp, cập nhật thông tin cá nhân và thông tin dịch vụ ngân hàng
điện tử. Sau khi kết thúc sử dụng dịch vụ hoặc hoàn thành các giao dịch thanh toán trực
tuyến, phải tiến hành đăng xuất tài khoản. Tuyệt đối không chọn chế độ lưu mật khẩu
đăng nhập Internet Banking trên thiết bị sử dụng chung, máy tính công cộng...
Ba là, người dùng cần bảo vệ và thay đổi thường xuyên mật khẩu truy cập các dịch
vụ ngân hàng điện tử, thẻ, email và cài đặt mật khẩu đảm bảo nguyên tắc an toàn. Ưu
162


Kỷ yếu HộI THảO KHOA HọC QUốC GIA

"CÁCH MạNG CÔNG NGHIệP 4.0 VÀ NHữNG ĐổI MớI TRONG LĨNH VựC TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG"

tiên sử dụng máy tính cá nhân có cài đặt cập nhật các phần mềm diệt virus để truy cập
các dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng.
Bốn là, chọn đăng xuất hay thoát khỏi hệ thống, màn hình dịch vụ sau mỗi lần truy
cập sử dụng hay thanh toán thẻ cho các giao dịch trực tuyến. Kiểm tra với ngân hàng để
xác minh thông tin qua hotline khi nhận được cuộc gọi thông báo trúng thưởng.
Năm là, nên đăng ký sử dụng dịch vụ nhận tin nhắn chủ động (SMS chủ động) để
nhận thông báo các biến động liên quan đến tài khoản cá nhân hoặc giao dịch thẻ ngay
khi giao dịch được thực hiện. Điều này sẽ giúp quản lý tốt tiến trình giao dịch, phòng
ngừa, hạn chế rủi ro.
Sáu là, trong trường hợp bị mất điện thoại hoặc thay đổi số điện thoại đã đăng ký
sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử, lập tức liên hệ hotline, đến điểm giao dịch của

ngân hàng đó để hủy các dịch vụ.
Bảy là, khơng được đứng tên hộ bất kỳ ai để mở tài khoản, mở thẻ và đăng ký dịch
vụ ngân hàng điện tử, bởi có thể tài khoản đó sẽ được sử dụng trong quá trình lừa đảo,
chiếm đoạt tiền của tội phạm.
5. Giải pháp phịng chống tội phạm cơng nghệ cao trong lĩnh vực
ngân hàng
Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển của cơng nghệ thơng tin cao, vì vậy, loại
tội phạm cơng nghệ cao cũng vì thế mà tăng nhanh chóng. Loại tội phạm này khơng chỉ
xuất hiện trong nước mà đã có tính quốc tế rõ rệt, diễn ra ở nhiều lĩnh vực, trong đó,
nguy hiểm nhất là tội phạm trong lĩnh vực Tài chính ngân hàng, bởi hành vi phạm tội
không chỉ gây thiệt hại về tài sản của người dân mà còn làm ảnh hưởng đến nền kinh tế
đất nước, nhất là khi Việt Nam đang gia nhập sâu, rộng vào kinh tế quốc tế thơng qua
các Hiệp định song phương và đa phương.
Để có thể phịng, chống tội phạm cơng nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng, cần chú
trọng một số giải pháp sau:
Thứ nhất, tăng cường thông tin truyền thông tới người dân về cách tự bảo vệ thơng
tin của mình trong giao dịch ngân hàng điện tử. Ngành Ngân hàng cần đẩy mạnh truyền
thơng thơng qua sách, báo, đài, truyền hình, đặc biệt là qua các chương trình giáo dục tài
chính như gameshow Tiền khéo tiền khôn vừa được triển khai gần đây.
Thứ hai, Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam (trực thuộc Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam)
phối hợp với Cục Cảnh sát phịng, chống tội phạm sử dụng cơng nghệ cao thiết lập kênh
163


Kỷ yếu HộI THảO KHOA HọC QUốC GIA

"CÁCH MạNG CÔNG NGHIệP 4.0 VÀ NHữNG ĐổI MớI TRONG LĨNH VựC TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG"

trao đổi định kỳ hàng tháng, hàng quý về phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm trong
lĩnh vực ngân hàng. Khi nhận diện được những phương thức, thủ đoạn mới, cần thơng

báo rộng rãi ra tồn xã hội để mọi người nhận biết và phòng tránh.
Thứ ba, các ngân hàng cần chú trọng cải tiến và phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân
hàng điện tử để phục vụ khách hàng tốt nhất. Các phương thức xác nhận khi giao dịch
qua ngân hàng điện tử như quẹt thẻ, Internet Banking... cần tiếp tục được cải tiến nhằm
tăng cường bảo mật thông tin khách hàng.
Hiện nay, khi giao dịch qua Mobile Banking, Internet Banking, các ngân hàng đã
có những phương thức xác thực như xác thực sinh trắc học: mống mắt, vân tay, giọng
nói; OTP... nhưng khi giao dịch tại các cây ATM, các ngân hàng Việt Nam đều chưa có
phương pháp chứng thực nào ngồi nhập password của thẻ. Trong khi đó, một số quốc
gia phát triển như Hàn Quốc, khi sử dụng dịch vụ tại cây ATM năm 2016 đã có chứng
thực bằng mống mắt và năm 2017 các ngân hàng ở quốc gia này đã có chứng thực bằng
âm thanh giọng nói.
Thứ tư, các ngân hàng cần tăng cường đào tạo nghiệp vụ, nhất là xử lý tình huống,
phối hợp với cơng an địa phương khi phát hiện dấu hiệu gian lận, giả mạo trong thanh
toán điện tử; giáo dục nâng cao đạo đức nghề nghiệp của nhân viên ngân hàng và nhân
viên của các đơn vị có liên quan để khơng bị lợi dụng, mua chuộc.
Thứ năm, tăng cường trách nhiệm cá nhân tham gia phòng ngừa tội phạm và vi
phạm pháp luật khác có sử dụng cơng nghệ cao như bảo vệ mật khẩu, khóa mật khẩu, cơ
sở dữ liệu, thơng tin cá nhân, thông tin tài khoản và hệ thống thiết bị cơng nghệ cao của
mình; phát hiện, kịp thời tố giác tội phạm và vi phạm pháp luật khác có sử dụng cơng
nghệ cao.
Kết luận
Vấn đề phịng, chống tội phạm cơng nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng đặt ra trách
nhiệm của 3 bên: khách hàng, ngân hàng và cơ quan quản lý Nhà nước. Trong bối cảnh
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra mạnh mẽ trùng với thời điểm kinh
tế nước ta đang hội nhập sâu, rộng vào kinh tế quốc tế, trong thời gian tới chắc chắn sẽ
phát sinh thêm nhiều loại tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực Ngân hàng. Do vậy
để đảm bảo sự phát triển lành mạnh của ngành Ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói
chung, việc đấu tranh phịng chống tội phạm cơng nghệ cao là vấn đề bức thiết, đòi hỏi
sự đồng lòng và nỗ lực của từng cá nhân, các ngành, các cấp và toàn xã hội.


164


Kỷ yếu HộI THảO KHOA HọC QUốC GIA

"CÁCH MạNG CÔNG NGHIệP 4.0 VÀ NHữNG ĐổI MớI TRONG LĨNH VựC TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG"

Tài liệu tham khảo
1. Tài liệu Hội thảo Banking Vietnam 2017
2. Tài liệu Hội thảo “Hành lang pháp lý cho ngân hàng số tại Việt Nam”
3. www.sbv.gov.vn
4. www.vietinbank.vn
5. www.vnba.org.vn
6. Tài liệu Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam, tháng 6/2017
Ngày gửi bài: 17/5/2018
Ngày gửi lại bài: 27/5/2018
Ngày duyệt đăng: 02/06/2018

165



×