Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự thực hiện thương mại điện tử trong doanh nghiệp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (232.58 KB, 7 trang )

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THỰC HIỆN
THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DOANH NGHIỆP
ThS. Võ Chiêu Vy
Khoa Quản trị Kinh doanh, trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh (HUTECH)

TĨM TẮT
Nghiên cứu nhằm mục đích điều tra tác động của năng lực tổ chức trong việc thực hiện thành công thương
mại điện tử. Cụ thể hơn, nghiên cứu đề xuất một mơ hình 3 yếu tố ảnh hưởng, bao gồm khả năng học tập
của tổ chức, khả năng quản lý tri thức, và khả năng sẵn sàng thực hiện của tổ chức. Một cách tiếp cận đa
chiều như vậy đã được khám phá trong các tài liệu, làm cho việc kiểm tra mơ hình nghiên cứu đề xuất trở
thành một chủ đề nghiên cứu thú vị. Bài viết thực hiện một nỗ lực phân tích để chỉ ra các lĩnh vực mà các
công ty nên nhấn mạnh để thực hiện thành công thương mại điện tử và từ đó sẽ có được những lợi ích tiềm
năng của nó.
Từ khóa: Khả năng học tập, khả năng tri thức, sự sẵn sàng, thực hiện thành công, thương mại điện tử.

1. GIỚI THIỆU
Trong những năm trở lại đây, thế giới đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của phương thức kinh
doanh mới, đó chính là thương mại điện tử. Với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin,
thương mại điện tử càng cho thấy những ưu thế vượt trội so với thương mại truyền thống. Tuy chưa hội đủ
điều kiện hạ tầng như một số quốc gia phát triển, nhưng Việt Nam ngày càng coi sự phát triển của thương
mại điện tử là một trong những cách thức phát triển hiệu quả nhất để bắt kịp tốc độ phát triển của kinh tế
thế giới. Đối với doanh nghiệp, thương mại điện tử góp phần hình thành những mơ hình kinh doanh mới,
tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh và mở ra một thị trường rộng lớn với mọi đối
tượng khách hàng trong và ngoài nước. Đối với người tiêu dùng, thương mại điện tử giúp người mua chỉ
ngồi tại nhà mà vẫn có thể lựa chọn hàng hóa, dịch vụ trên các thị trường ở mọi nơi trên thế giới bằng một
vài động tác kích chuột.

2. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Theo định nghĩa được cung cấp bởi Bộ Thương mại Đài Loan (2013), thương mại điện tử là internet cộng
với thương mại. Nói cách khác, thương mại điện tử tiến hành các hoạt động thương mại truyền thống
trong môi trường internet, nơi giao dịch thương mại được thực hiện bằng điện tử. Doanh nghiệp kinh


doanh áp dụng thương mại điện tử và sử dụng internet để giúp người tiêu dùng hiểu một sản phẩm hay
dịch vụ và nhà sản xuất của nó. Ngồi ra, thương mại điện tử có thể thu hút người tiêu dùng mới và tạo ra
được quy mô của thị trường (Chang Lee, 2011).
Sự phát triển vượt bậc của công nghệ đã mang lại những thay đổi lớn cho tổ chức. Cụ thể hơn, Internet đã
trở thành kênh phân phối cho hàng hóa và dịch vụ quan trọng của doanh nghiệp (Babbar và cộng sự, 2008;
DeYoung và cộng sự, 2007; Mainetti và cộng sự, 2012). Hoạt động trực tuyến đã tập hợp các nhân viên,
cộng tác viên, nhà cung cấp và khách hàng, với mục tiêu chính là tạo ra giá trị cho tổ chức (DuPlessis và
Boon, 2004; Lai và cộng sự, 2012). Theo Hsu và Fang (2009), cơ sở cho việc tạo ra một cuộc cạnh tranh
lợi thế của một tổ chức sử dụng thương mại điện tử có liên quan chặt chẽ với trí thức. Trí thức vốn bao
gồm các đặc tính tác động cơ cấu của một doanh nghiệp, chẳng hạn như khả năng, điều kiện làm việc,
661


cơng nghệ và quy trình. Trí thức góp phần tạo ra lợi thế cạnh tranh cho tổ chức trên thị trường (Harris,
2008; Tsai và cộng sự, 2011).

3. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
3.1. Sự thực hiện thƣơng mại điện tử
Sự hợp tác kinh doanh với đối tác là yếu tố quyết định việc thực hiện thương mại điện tử thành công trong
thị trường cạnh tranh khốc liệt ngày nay (Bhakoo và Chan, 2011). Sự hợp tác này là yếu tố chính có thể
giúp tổ chức nhanh chóng phản ứng đối với nhu cầu của khách hàng và từ đó có thể cung cấp ra thị trường
hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao (Kervenoael và cộng sự, 2009). Theo Baker và Sinkula (2005), một tổ
chức thực hiện thương mại điện tử thành cơng phải tạo ra và duy trì được lợi thế cạnh tranh của mình.
Ngồi ra, một yếu tố quan trọng để triển khai thương mại điện tử là hành vi và sự phối hợp của nhân viên
(Lai và Ong, 2010). Do đó, một cơng ty cần tập trung vào sự phối hợp nội bộ bằng cách đào tạo nhân viên,
đánh giá đúng và nâng cao năng suất của nhân viên (Lee và cộng sự, 2007).
Việc thực hiện thương mại điện tử sẽ chịu tác động của những yếu tố như công tác hoạch định chiến lược
và hợp tác với các đối tác của tổ chức (Lee và cộng sự, 2003). Thêm vào đó, khả năng kiến thức của doanh
nghiệp và sự hài lòng của khách hàng đối với doanh nghiệp cũng là những vấn đề quan trọng đối với quy
trình triển khai thương mại điện tử (Lai và cộng sự, 2012). Để đo lường thương mại điện tử thực hiện

thành công trong tổ chức bao gồm ba yếu tố: sự tác động đến hoạt động kinh doanh, sự tác động đến hiệu
quả nội bộ và sự tác động đến khả năng phối hợp trong tổ chức.

3.2. Khả năng học tập
Khả năng học tập của tổ chức được coi là quá trình mà theo đó tổ chức sẽ có được những kiến thức mới về
mơi trường, mục tiêu và quy trình (Schulz, 2006). Theo Harris (2008), tổ chức có khả năng học tập dẫn
đến việc thực hiện tốt hơn hoạt động thương mại điện tử của mình. Tổ chức có thể sử dụng thương mại
điện tử để ứng dụng phù hợp với sự thay đổi liên tục của môi trường kinh doanh phụ thuộc phần lớn vào
khả năng học tập của tổ chức. Argyris và Schoen (1996), Huber (1991) và Zahay và Handfeld (2004) nhấn
mạnh sự tồn tại về mối quan hệ tích cực giữa việc học tập và ý nghĩa việc thực hiện thương mại điện tử
thành công trong tổ chức. Thêm vào đó, cơng nghệ là một yếu tố quan trọng góp phần vào việc học tập tổ
chức, ví dụ như sự phát triển của các kênh truyền thông trực tuyến, điều này sẽ là sự hỗ trợ tuyệt vời cho
việc kinh doanh (Harris, 2008). Đào tạo được đề xuất cho là một trong những yếu tố quan trọng trong việc
học tập của tổ chức có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh về thương mại điện tử và hội nhập (Gerwin
và Kolodny, 1992).
Chuyên môn kỹ thuật trong một môi trường kinh doanh thương mại điện tử được coi là trình độ khả năng
kỹ thuật của các nhân viên chuyên ngành. Như vậy, sự đóng góp của yếu tố này vào kinh doanh thương
mại điện tử được thực hiện là rất quan trọng (Melville et al., 2004). Ngày nay, sự gia tăng số lượng doanh
nghiệp thương mại điện tử sử dụng các chuyên gia để nghiên cứu thu thập và giải thích thơng tin liên quan
đến nhu cầu và hành vi của khách hàng (Helms et al., 2008). Thực tiễn này cho phép một doanh nghiệp
ứng dụng thương mại điện tử trở nên rõ ràng hơn và tương tác hiệu quả với khách hàng của mình (Helms
và cộng sự, 2008). Đặc biệt, phát triển công nghệ trong một doanh nghiệp điện tử có ảnh hưởng lớn đến
việc học tập của tổ chức và góp phần vào q trình và đổi mới (Lee và cộng sự, 2000)

3.3. Khả năng quản lý tri thức
Theo Davenport và Prusak (1998) và Schreiber et al. (1999), kiến thức là yếu tố quan trọng của tổ chức
cần phải được quản lý. Tổ chức có khả năng quản lý kiến thức sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh, và đem lại sự
thành công trong kinh doanh (DeLong và Fahey, 2000). Khả năng quản lý kiến thức là khả năng thu thập,
662



sử dụng và chia sẻ thông tin chặt chẽ liên quan đến tính linh hoạt của một doanh nghiệp điện tử (Xu và
Ma, 2008). Theo Harris (2008), sự tương tác và chia sẻ kiến thức giữa các đối tác kinh doanh là một yếu tố
thúc đẩy quá trình học tập kinh nghiệm lẫn nhau của họ, đây là một tài sản rất quan trọng cho mọi tổ chức.
Argote et al. (2003) cho rằng ứng dụng tri thức là hoạt động hiệu quả để tích lũy kiến thức trong hoạt động
của tổ chức. Khi nói đến một tổ chức thành cơng, ứng dụng tri thức là một yếu tố còn quan trọng hơn việc
sáng tạo tri thức (Grant, 1996). Theo Lee et al. (2007), một tổ chức nâng cao ứng dụng kiến thức thì tổ
chức có khả năng triển khai thành công thương mại điện tử. Chia sẻ kiến thức làm tăng sự linh hoạt của
cơng ty và góp phần điều chỉnh sự thay đổi của công ty trong môi trường kinh doanh trực tuyến (Harris,
2008; DuPlessis và Boon, 2004). Theo Lee et al. (2003), chia sẻ kiến thức là phương tiện mà các tổ chức
học từ bỏ cách thức kinh doanh truyền thống, lỗi thời và tạo ra những thay đổi mạnh mẽ trong cách thức
kinh doanh của mình.

3.4. Sự sẵn sàng của tổ chức
Theo Kwon và Zmud (1987), việc thực hiện một hệ thống thơng tin chỉ có thể thành cơng khi có đủ nguồn
lực và được quản lý một cách thông minh. Những nguồn lực bao gồm số lượng nhân viên có khả năng,
nguồn vốn đủ, kỹ năng kỹ thuật, …Chang (2009) đã định nghĩa sự sẵn sàng tổ chức là sự sẵn có của tổ
chức đó về nguồn tài chính và nguồn nhân lực. Theo Molla và Licker (2005), sự sẵn có dẫn đến việc áp
dụng thành công thương mại điện tử trong tổ chức. Dựa trên định nghĩa này, các yếu tố của sự sẵn sàng
của tổ chức sẽ được áp dụng bởi nghiên cứu hiện tại là quy mô công ty và Kiến thức của nhà lãnh đạo.
Năm 1999, OECD đã đề xuất khung sau để phân loại các chỉ số (Colecchia 1999):
1. Các chỉ số sẵn sàng mô tả các cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thương mại và xã hội cần thiết để hỗ trợ
thương mại điện tử.
2. Các chỉ số cường độ mô tả cách sử dụng, khối lượng, giá trị và bản chất của giao dịch điện tử (nhằm
xác định ai đang tận dụng các cơ hội thương mại điện tử).
3. Các chỉ số tác động mô tả sự khác biệt của thương mại điện tử về mặt hiệu quả và tạo ra các nguồn
tài sản mới). Tác động thường được diễn giải theo cách "tích cực" (ví dụ: tăng lợi nhuận, tăng khả
năng học tập).
Quy mô doanh nghiệp đã được đề xuất là một yếu tố có tác động đáng kể về việc thực hiện hoạt động
thương mại điện tử trong thực tế. Densmore (1998) đưa ra nhiều nguyên nhân để giải thích những lợi thế

ưu việt của các tổ chức có quy mơ lớn trong việc thực hiện hoạt động thương mại điện tử như sau:
– Tổ chức có nhiều nguồn lực hơn
– Tổ chức có thể dễ dàng đạt được các nền kinh tế về quy mô và phạm vi
– Tổ chức có thể chấp nhận và chịu rủi ro về một thất bại có thể xảy ra
– Tổ chức có quyền thương lượng lớn hơn.
Theo Harrison và cộng sự. (1997), những đặc điểm của các nhà lãnh đạo cấp cao sẽ là yếu tố ảnh hưởng
đến thực hiện thương mại điện tử thành công. Jeon và cộng sự (2006) sử dụng hai yếu tố để kiểm tra điều
này đó là kiến thức của lãnh đạo về cơng nghệ thông tin và thái độ của lãnh đạo đối với sự đổi mới trong
tổ chức. Họ đã đưa ra kết luận là những đặc điểm của nhà lãnh đạo thực sự có ảnh hưởng trong việc triển
khai hoạt động thương mại điện tử.

663


Khả năng học tập
Sự thực hiện thương mại
điện tử

Khả năng quản lý tri thức
Sự sẵn sàng

Hình 1. Các yếu tố tác động đến sự thực hiện thương mại điện tử

Từ cơ sở lý thuyết nêu trên, mơ hình nghiên cứu đưa ra dựa trên lý thuyết về khả năng học tập, khả năng
quản lý tri thức và sự sẵn sàng của tổ chức. Các khái niệm dựa trên nghiên cứu của Lee và cộng sự
(2007), Huang và cộng sự (2008). Mơ hình kiểm tra tám yếu tố độc lập bao gồm: Sự sẵn sàng đào tạo,
Chun mơn kỹ thuật, Trình độ kiến thức, Tích lũy kiến thức, Ứng dụng kiến thức, Chia sẻ kiến thức, Quy
mô doanh nghiệp, Kiến thức của CEO.

4. PHƢƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng câu hỏi được gửi bằng email đến 50 tổ chức. Email giải thích các mục tiêu của nghiên cứu và bảng
câu hỏi gửi kèm theo. Bảng câu hỏi dựa trên mô hình đưa ra và các nghiên cứu trước đây. Nội dung của
bảng phỏng vấn nhằm nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến sự thực hiện thương mại điện tử trong doanh
nghiệp. Bảng câu hỏi được thiết kế thêm phần gợi mở để các đối tượng phỏng vấn có thể nêu lên thêm
những yếu tố trong mơ hình đề ra.
Việc đo lường thương mại điện tử thực hiện thành công trong tổ chức bao gồm ba yếu tố: (1) Sự tác động
đến hoạt động kinh doanh; (2) Sự tác động đến hiệu quả nội bộ; (3) Sự tác động đến khả năng phối hợp
trong tổ chức
Mơ hình được tạo ra kiểm tra tám yếu tố độc lập được phân loại theo ba loại chính: (1) Khả năng học tập
của tổ chức; (2) Khả năng quản lý tri thức; (3) Sự sẵn sàng của tổ chức.
Tám yếu tố bao gồm: (1) Sẵn sàng đào tạo; (2) Chuyên môn kỹ thuật; (3) Trình độ kiến thức; (4) Tích lũy
kiến thức; (5) Ứng dụng kiến thức; (6) Chia sẻ kiến thức; (7) Quy mơ doanh nghiệp; (8) Kiến thức CEO.
Bảng 1. Ước tính sự khác biệt và độ tin cậy

KMO

Bartlett‟s test of
sphericity

Eigen-value

Total variance
explained (%)

Cronbach‟s

Sẵn sàng đào tạo

0.678


103.56*

1.654

78.12

0.694

Chun mơn kỹ thuật

0.756

78.12*

1.542

69.47

0.795

Trình độ kiến thức

0.659

81.34*

2.023

71.73


0.758

Tích lũy kiến thức

0.832

75.12*

1.862

66.76

0.803

Ứng dụng kiến thức

0.753

58.67*

1.112

61.78

0.827

Chia sẻ kiến thức

0.723


121.54*

2.124

75.55

0.762

Kiến thức của CEO

0.845

77.34*

2.564

72.49

0.842

Tác động kinh doanh

0.753

89.65*

2.981

79.32


0.793

Tác động nội bộ

0.712

101.61*

1.546

66.19

0.657

Tác động sự phối hợp

0.697

66.91*

1.782

69.98

0.712

Variables

Note: * p < 0.01


664


Việc kiểm sốt tính hợp lệ của cấu trúc được tiến hành theo hai bước. Mỗi trong số bảy yếu tố nghiên cứu
được đánh giá về tính khơng đồng nhất và độ tin cậy và mức độ phù hợp với mơ hình nghiên cứu đề xuất.
Việc kiểm tra tính khơng đồng nhất của từng yếu tố nghiên cứu được thực hiện bằng phân tích nhân tố giải
thích với phương pháp phân tích thành phần chính. Ngồi ra, để ước tính độ tin cậy của các yếu tố này,
biện pháp thống kê đã được sử dụng. Tất cả các thử nghiệm kết luận rằng các thang đo được sử dụng là
hợp lệ và đáng tin cậy.
Để phân tích thống kê phù hợp, các biện pháp sau đây đã được kiểm tra (Hair et al., 1995):
– Xác định sự phù hợp của phân tích nhân tố: Thử nghiệm Bartlett (cần có ý nghĩa thống kê ở mức
0,05) và thử nghiệm thống kê của Kaiser Kaiser Meyer Muff Olkin (giá trị trên 0,8 là thỏa đáng ,
trong khi các giá trị trên 0,6 được chấp nhận).
– Xác định số lượng các yếu tố được trích xuất, tiêu chí của E evalvalue đã được sử dụng. Các yếu tố
mà trên đó, e evalvalue đã được chọn.
– Kiểm tra tầm quan trọng, hệ số tải của chúng đã được kiểm tra. Đối với cỡ mẫu của hơn 50 quan
sát, tải hơn 0,45 được coi là đáng kể.
– Kiểm tra độ tin cậy của các yếu tố, biện pháp alpha Cronbach alpha đã được sử dụng. Các giá trị lớn
hơn 0,7 được coi là hợp lệ.
Tóm lại, bốn giả thuyết được hỗ trợ bởi dữ liệu thực nghiệm, trong khi bốn giả thuyết bị bác bỏ. Dường
như các yếu tố quan trọng nhất có ảnh hưởng đến sự thành công của việc thực hiện thương mại điện tử là
trình độ kiến thức (tác động = 0,86), quy mô của doanh nghiệp (0,65), sự sẵn sàng đào tạo (0,55) và chia
sẻ kiến thức (0,34) (Hình 2). Mặt khác, các yếu tố cịn lại khơng ảnh hưởng đến sự thực hiện thương mại
điện tử.
Bảng 2. Thử nghiệm giải thuyết

Giả thuyết

Tác động


Giá trị t

Kết quả

H1

Sự sẵn sàng đào tạo ảnh hưởng thương mại
điện tử thành công

0.55

5.96

Chấp nhận

H2

Chuyên môn kỹ thuật ảnh hưởng thương mại
điện tử thành cơng

0.10

0.80

Bác bỏ

H3

Trình độ kiến thức ảnh hưởng thương mại
điện tử thành cơng


0.86

10.85

H4

Tích lũy kiến thức ảnh hưởng thương mại điện
tử thành công

0.27

1.56

Bác bỏ

H5

Ứng dụng kiến thức ảnh hưởng thương mại
điện tử thành công

0.24

1.34

Bác bỏ

H6

Chia sẻ kiến thức ảnh hưởng thương mại điện

tử thành công

0.34

3.24

Chấp nhận

H7

Quy mô doanh nghiệp ảnh hưởng thương
mại điện tử thành công

0.65

2.65

Chấp nhận

H8

Kiến thức CEO ảnh hưởng thương mại điện
tử thành công

0.24

0.99

Bác bỏ


665

Chấp nhận


5. KẾT LUẬN
Nghiên cứu hiện tại đã phát triển một mơ hình kiểm tra các khả năng của tổ chức góp phần thực hiện thành
cơng thương mại điện tử. Mơ hình nghiên cứu dựa trên sự tổng hợp của các nghiên cứu trước đó và kết
quả phân tích thống kê cho thấy trình độ kiến thức, sự sẵn sàng đào tạo và chia sẻ kiến thức của các nhóm
là những yếu tố quan trọng nhất để triển khai thương mại điện tử thành cơng. Hơn nữa, vai trị của các
cơng ty có quy mơ lớn, đã được nhấn mạnh bởi dữ liệu thực nghiệm. Từ quan điểm quản lý, điều này cho
thấy các nhà quản lý nên hỗ trợ những nỗ lực của họ để tăng trưởng và tối đa hóa lợi nhuận cùng với việc
áp dụng và triển khai thương mại điện tử.
Nghiên cứu đã điều tra các khả năng của tổ chức bằng cách sử dụng hai khía cạnh (khả năng học tập của
tổ chức và khả năng quản lý kiến thức), được đo bằng ba yếu tố phụ. Phân tích thực nghiệm cho thấy giữa
hai chiều này, khả năng học tập của tổ chức, có vẻ như là điều quan trọng nhất đối với các công ty triển
khai kinh doanh điện tử. Do đó, có thể kết luận rằng một tổ chức cung cấp cho nhân viên của mình đào
tạo đã tăng khả năng thực hiện thành cơng các quy trình thương mại điện tử. Hơn nữa, một tổ chức có
nhân viên am hiểu, quen thuộc với cơng nghệ hỗ trợ thương mại điện tử có nhiều khả năng cạnh tranh
thành công trong môi trường trực tuyến.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]

Aragon-Correa, J.A., Garcia-Morales, V.J. and Cordon-Pozo, E. (2007), “Leadership and
organisational learning‟s role on innovation and performance: lessons from Spain”, Industrial
Marketing Management.

[2]


Baker, W.E. and Sinkula, J.M. (2005), “Market orientation and the new product paradox”, Journal of
Product Innovation Management.

[3]

Bello, D.C., Lohtia, R. and Sangtani, V. (2004), “An institutional analysis of supply chain
innovations in global marketing channels”, Industrial Marketing Management.

[4]

Bhakoo, V. and Chan, C. (2011), “Collaborative implementation of e-business processes within the
health-care supply chain: the Monash pharmacy project”, Supply Chain Management: An
International Journal

[5]

Cegarra-Navarro, J.G., Jimenez, D.J. and Martinez, C.E.A. (2007), “Implementing e-business
through organisational learning: an empirical investigation in SMEs”, International Journal of
Information Management.

[6]

Chong, A.Y.-L., Ooi, K.-B., Lin, B. and Tang, S.Y. (2009), “Influence of interorganizational
relationships on SMEs‟ e-business adoption”, Internet Research.

[7]

Christensen, C.M. (1997), The Innovator’s Dilemma, HPS Press, Boston, MA.

[8]


Clark, T. and Fincham, R. (2002), Critical Consulting: New Perspectives on the Management Advice
Industry, Blackwell Publishers, Oxford.

[9]

Day, G.S. (1999), “Misconceptions about market orientation”, Journal of Marketing Focused
Management.

[10] Dennis, C., Merrilees, B., Jayawardhena, C. and Wright, L.T. (2009), “E-consumer
behaviour”,European Journal of Marketing.
[11] Harrison, D.A., Mykytyn, P. and Riemenschneider, C. (1997), “Executive decisions about adoption of
information technology in small business: theory and empirical tests”, Information Systems
Research
666


[12] Helms, M.M., Ahmadi, M., Jih, W.J.K. and Ettkin, L.P. (2008), “Technologies in support of mass
customization strategy: exploring the linkages between e-commerce and knowledge”, Computers in
Industry
[13] Huang, X., Kristal, M.M. and Schroeder, R.G. (2008), “Linking learning and effective process
implementation to mass customisation capability”, Journal of Operations Managemen.
[14] Jeon, B., Han, K. and Lee, M. (2006), “Determining factors for the adoption of e-business: the case of
SMEs in Korea”, Applied Economics
[15] John, O.P. and Robins, R.W. (1994), “Accuracy and bias in self-perception: individual differences in
self-enhancement and the role of narcissism”, Journal of Personality and Social Psychology
[16] Kacen, J.J. and Lee, J.A. (2002), “The influence of culture on consumer impulsive buying
behavior”,Journal of Consumer Psychology
[17] Kelloway, E.K. (1998), Using LISREL for Structural Equation Modeling: A Researcher’s Guide,
Sage, Thousand Oaks, CA.

[18] Kwon, T. and Zmud, R. (1987), “Unifying the fragmented models of information systems
implementation”, Critical issues in Information Systems Research
[19] Lee, C., Lee, G. and Lin, H.F. (2007), “The role of organisational capabilities in successful ebusiness implementation”, Business Process Management Journal
[20] Lee, H.L., So, K.C. and Tang, C.S. (2000), “The value of information sharing in a two-level supply
chain”, Management Science
[21] Lee, S. and Kim, B.G. (2009), “Factors affecting the usage of intranet: a confirmatory study”,
[22] Computers in Human Behaviour,
[23] Lee, S.C., Pak, B.Y. and Lee, H.G. (2003), “Business value of B2B electronic commerce: the
critical role of inter-firm collaboration”, Electronic Commerce Research and Applications
[24] Zhu, K. (2004), “The complementarily of information technology infrastructure and e-commerce
capability: a resource-based assessment of their business value”, Journal of Management
Information Systems

667



×