Tải bản đầy đủ (.doc) (30 trang)

Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp khắc phục thất thu thuế ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (191.93 KB, 30 trang )

GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Thuế không chỉ là công cụ quan trọng của nhà nước để quản lý nền kinh tế mà
còn là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Thông qua việc thu thuế nhà nước có
thể tập trung một phần nguồn lực xã hội vào tay mình để có thể thực hiện chức năng của
mình.
Từ khi nước ta thực hiện đổi mới, Đảng và nhà nước chủ trương phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho các thành phần trong xã hội có thể tự do sản xuất, kinh doanh theo pháp luật, trong
đó có việc tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp. Các doanh nghiệp kinh doanh trong
nhiều lĩnh vực khác nhau, ở nhiều địa bàn khác nhau do vậy cũng đã góp phần vào sự
tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước.
Tuy nhiên ở nước ta hiện nay việc quản lý thuế đối với các doanh nghiệp này vẫn
còn nhiều bất cập, gây ra thất thu thuế lớn. Mặc dù các luật thuế đã ra đời và thực hiện
được một thời gian khá dài nhưng công tác quản lý chưa chặt chẽ vẫn còn nhiều kẽ hở
vì vậy một số doanh nghiệp đã lợi dụng để trốn lậu thuế, do đó một trong những nhiệm
vụ quan trọng của ngành thuế là phải tăng cường chống thất thu thuế đối với các doanh
nghiệp, tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh nhất là đối với các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh nhằm tránh thất thoát cho ngân sách nhà nước và đảm bảo sự công
bằng cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước.
Hiện nay nước ta ngày càng hội nhập sâu với kinh tế thế giới do vậy nhiều loại
thuế đang được cắt giảm theo những hiệp định đã ký kết nhất là các loại thuế xuất nhập
khẩu, đồng nghĩa với việc cắt giảm các loại thuế này là NSNN sẽ mất đi một khoản thu
đáng kể do vậy mà việc chống thất thu thuế ngày càng trở nên cấp thiết.
Từ những lý do trên em đã tìm hiểu nghiên cứu đề tài: “Thực trạng, nguyên nhân và
giải pháp khắc phục thất thu thuế ở VN”.
Nội dung đề tài gồm ba phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thuế và thất thu thuế tại Việt Nam
Chương 2: Nguyên nhân và thực trạng thất thu thuế tại Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp khắc phục thất thu thuế tại Việt Nam
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 1


GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ THẤT THU THUẾ TẠI VIỆT
NAM
1.1. Những nội dung cơ bản về thuế tại Việt Nam
1.1.1. Khái niệm
Theo các nhà kinh điển, ‘Thuế là cái mà Nhà Nước thu của dân nhưng không bù
lại” và ‘thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của
đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập
của người chịu thuế”.
Nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công

đã đưa ra một khái niệm
cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có
tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước
thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước”. Theo thời
gian, khái niệm cổ điển này đến nay đã được bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện như sau:
“Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp
do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp
những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của Nhà
nước”.
Trên góc độ phân phối thu nhập: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại
tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quĩ tiền tệ tập trung
lớn nhất của Nhà nước (quỹ ngân sách nhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Trên góc độ người nộp thuế thì thuế được định nghĩa như sau: thuế là khoản
đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước
theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại.
Trên góc độ kinh tế học, thuế được định nghĩa như sau: thuế là biện pháp đặc
biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ

khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà
nước.
1.1.2. Đặc điểm
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 2
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
Thứ nhất, thuế là khoản trích nộp bằng tiền: Về nguyên tắc, thuế là một khoản
trích nộp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái ngược với các hình thức thanh toán bằng
hiện vật đã tồn tại trước đây. Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được thực
hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường.
Thứ hai, thuế là khoản trích nộp bắt buộc được thực hiện thông qua con đường
quyền lực: Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc,
được thực hiện thông qua con đường quyền lực Nhà nước (qua hệ thống pháp luật thuế).
Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn định
hay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận. Những đối tượng
nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng
chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế.
Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện.
Thứ ba, thuế là khoản thu có tính chất xác định: Thuế là khoản thu xác định của
các tổ chức thụ hưởng, đó là Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương. Trái ngược
với vay, thuế không được hoàn trả trực tiếp.
Thứ tư, thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không hoàn trả trực
tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng
quản lý xã hội, chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước:
Khác với khoản vay, thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế (tuy
nhiên, một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các khoản
phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng). Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở cả
trước và sau khi thu thuế. Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp
một dịch vụ nào cho người nộp thuế. Sau khi thu thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi
hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản

đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ sử dụng ít các dịch vụ công cộng; họ cũng
không có quyền đòi hỏi được hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế họ phải
trả vì lý do này hay lý do khác; và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do họ đã
phải thanh toán cho các khoản chi trái với nguyên tắc này.
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 3
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
Thuế được thu nhằm đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, thuế không có
đối khoản cụ thể. Điều này thể hiện rõ ở chỗ nguồn thu từ mỗi loại thuế không được
quy định gắn với mục đích chi tiêu cụ thể nào cả mà đều được sử dụng để đáp ứng nhu
cầu chi tiêu chung của Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước.
Khái niệm “chi tiêu của Nhà nước” ngày nay không thể hiểu theo nghĩa hẹp là
chỉ bao gồm các chi phí liên quan đến chức năng duy trì bộ máy của Nhà nước để thực
hiện các chức năng của Nhà nước, mà còn gồm các chi phí cho việc thực hiện các chức
năng kinh tế - xã hội. Chính vì thế, khi xem xét khái niệm thuế cũng phải hiểu thuế trên
hai góc độ: thuế vừa là công cụ huy động nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của
Nhà nước và thuế vừa là công cụ giúp Nhà nước thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội
hay công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế.
1.1.3. Chức năng của thuế trong nền kinh tế Việt Nam
Lịch sử phát triển của thuế đã chứng minh rằng, thuế phải thực hiện được 3 chức năng
cơ bản, đó là: chức năng bảo đảm nguồn thu cho NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu
của Nhà nước; chức năng phân phối lại thu nhập và tài sản nhằm đảm bảo công bằng xã
hội và chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
a) Chức năng đảm bảo nguồn thu cho NSNN:
Mức độ động viên các nguồn thu từ thuế vào ngân sách phần lớn, gắn liền với tổng số
chi tiêu của của nhà nước vì các khoản thu này là nguồn bù đắp chủ yếu cho các khoản
chi ngân sách. Nhưng các khoản thu này cũng không phải là nguồn bù đắp duy nhất mà
bên cạnh đó, thâm hụt ngân sách còn được bù đắp bằng nguồn vay hoặc phát hành tiền
tệ. Mức độ động viên thu ngân sách với tỷ lệ giữa thâm hụt ngân sách trên tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) của mỗi nước cho thấy mức độ huy động của Nhà nước để bù

đắp cho các khoản chi này (tất nhiên kể cả khoản lãi phải trả khi hoàn trả nợ).
b) Chức năng phân phối lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội:
Về nguyên tắc, gánh nặng về thuế phải được phân chia một cách công bằng; thuế phải
có vai trò sửa chữa những khiếm khuyết của sự phân phối lần đầu để đảm bảo sự công
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 4
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
bằng và bình đẳng. Tuy nhiên, sự công bằng chỉ mang tính chất tương đối và tuỳ thuộc
vào quan niệm cho rằng sự phân phối phải công bằng hay không trong việc phân chia
quyền sở hữu diễn ra trên thị trường. Chính vì vậy, đánh thuế luỹ tiến, đối với một số
người, có thể được coi như đồng nghĩa với sự công bằng, với một số người khác, lại bị
coi là tuỳ tiện.
c) Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng
của thị trường:
Thuế là một công cụ của chính sách kinh tế có thể đóng vai trò khuyến khích, hạn chế
hoặc ổn định kinh tế. Thuế có thể được sử dụng để khắc phục những bất cân bằng của
thị trường, ví dụ, dựa trên cơ sở các phân tích kinh tế vi mô để quốc tế hoá những tác
động nội tại của nền kinh tế. Thuế cũng có thể góp phần thực hiện các cân bằng tổng thể
trong khuôn khổ chính sách ngân sách dựa trên cơ sở các phân tích kinh tế vĩ mô.
Cách tiếp cận kinh tế vi mô phù hợp với cách nhìn tự do về sự can thiệp của Nhà nước
mà với chức năng trợ cấp ngân sách, Nhà nước có thể xoá bỏ được những vật cản nảy
sinh trong kinh tế thị trường. Cách tiếp cận này đôi khi cũng là trung tâm của các cuộc
tranh luận.
Cách tiếp cận kinh tế vĩ mô thuộc quan niệm của Keynes về chính sách kinh tế, thuế là
một biến số mà Nhà nước sử dụng nhằm ổn định tình huống (chính sách tác động trên
nhu cầu tổng thể) hoặc cơ cấu (chính sách thuế nhằm tạo thuận lợi cho sự tăng trưởng
kinh tế). Khả năng của thuế trong việc thực hiện các mục tiêu hiệu quả kinh tế này đã bị
tranh luận khá gay gắt. Tuỳ theo quan niệm mà người ta thừa nhận vị trí tự do hay can
thiệp của thuế mà chức năng này được đánh giá ưu việt nhiều hay ít.
Tóm lại, để phát huy được vai trò của thuế trong nền kinh tế, phải sử dụng thuế
đúng với chức năng của nó. Tuy nhiên, vai trò của thuế đối với nền kinh tế ở mỗi quốc

gia không giống nhau mà tuỳ thuộc vào “nghệ thuật sử dụng” công cụ thuế của mỗi
quốc gia đó. Vấn đề có tính nguyên tắc là thuế phải luôn luôn phù hợp với mục tiêu,
đường lối phát triển kinh tế - xã hội và là công cụ đắc lực cho việc thực hiện đường lối,
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Đó
cũng là lý do mà các quốc gia phải thường xuyên rà soát mức độ phù hợp của hệ thống
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 5
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
thuế với chiến lược phát triển kinh tế xã hội cuả mình, thực hiện các cải cách thuế kịp
thời nếu thấy cần thiết.
1.1.4. Khái quát về hệ thống chính sách thuế Việt Nam
Hệ thống chính sách thuế của Việt Nam được hình thành và phát triển trong thời
kỳ “đổi mới” (sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986). Trước đó nền kinh tế
vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, thu ngân sách Nhà nước chủ yếu
từ kinh tế quốc doanh (chiếm tới 90% tổng số thu), thuế chỉ áp dụng đối với khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh dưới một số hình thức: thuế doanh nghiệp, thuế hàng hoá, thuế
lợi tức, thuế nông nghiệp, thuế môn bài vai trò của thuế trong quản lý điều tiết vĩ mô
nền kinh tế được sử dụng rất hạn chế.
Đầu những năm 1990, Việt Nam thực hiện cải cách thuế bước I, một hệ thống
chính sách thuế mới ra đời và áp dụng thống nhất đối với các thành phần, khu vực kinh
tế gồm các sắc thuế cơ bản như: Thuế doanh thu, Thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu, Thuế tài nguyên, Thuế lợi tức, Thuế thu nhập đối với người có
thu nhập cao, Thuế nông nghiệp (từ 1994 chuyển thành là thuế sử dụng đất nông
nghiệp), Thuế nhà đất, Thuế chuyển quyền sử dụng đất và một số loại phí, lệ phí như
lệ phí trước bạ, lệ phí chứng thư, lệ phí giao thông Sau 10 năm đổi mới, nền kinh tế
thị trường đã và đang hình thành, quan hệ đối ngoại của Việt Nam cũng có những cải
thiện đáng kể, nền kinh tế - xã hội chuyển sang giai đoạn phát triển mới: thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. Bối cảnh đó đã
đặt ra yêu cầu thực hiện cải cách thuế bước II, bắt đầu từ nửa cuối những năm 90, được
đánh dấu bằng việc Quốc hội ban hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế thu nhập
doanh nghiệp năm 1997 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999), thay thế Luật thuế

doanh thu, Luật thuế lợi tức. Năm 1998, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật thuế XNK
cũng được sửa đổi để bảo đảm sự đồng bộ. Các Luật thuế quan trọng này tiếp tục được
bổ sung, sửa đổi vào cuối năm 2003, 2005.
Thực hiện Chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010, Quốc hội đã ban
hành Luật thuế thu nhập cá nhân vào tháng 11/2007 với hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2009, thay thế cho Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất và Pháp lệnh thuế thu
nhập đối với người có thu nhập cao. Năm 2008, Quốc hội sửa đổi đồng bộ Luật thuế giá
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 6
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp để thống
nhất thực hiện từ đầu năm 2009. Như vậy, sau gần 20 năm xây dựng và hoàn thiện, hệ
thống chính sách thuế của Việt Nam đến nay gồm có các sắc thuế sau:
(i) Thuế giá trị gia tăng (GTGT),
(ii) Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB),
(iii) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (XNK),
(iv) Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN),
(v) Thuế thu nhập cá nhân (TNCN),
(vi) Thuế sử dụng đất nông nghiệp,
(vii) Thuế nhà đất,
(viii) Thuế tài nguyên,
(ix) Thuế môn bài,
(x) Các loại phí và lệ phí.
Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình cải cách thuế, một số dự án luật thuế
đang được nghiên cứu xây dựng để áp dụng trong thời gian tới, như: dự án Luật thuế sử
dụng đất, dự án Luật thuế tài sản (thời gia đầu ban hành Luật thuế nhà, đất), dự án Luật
thuế bảo vệ môi trường.
1.1.5. Khái quát về bộ máy quản lý thu thuế hiện hành ở Việt Nam
Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế hiện hành bao gồm hệ thống thu nội địa (Thuế Nhà
nước) và hệ thống thu thuế XNK.
Hệ thống Thuế Nhà nước:

Theo Nghị định số 281-HĐBT ngày 7/8/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính
phủ), hệ thống thuế Nhà nước được thành lập để thực hiện công tác thu và quản lý các
loại thuế và các khoản thu khác cho NSNN trong nội địa. Bộ máy quản lý thuế được tổ
chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương; cơ quan thuế đặt tại địa
phương chịu sự lãnh đạo song trùng của ngành thuế cấp trên và Chủ tịch UBND cùng
cấp; Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế là tổ chức trong hệ thống hành chính nhà
nước có tư cách pháp nhân công quyền, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho
bạc nhà nước.
Ngày 28 tháng 10 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
218/2003/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính. Theo đó, bộ máy quản lý thu thuế nội địa được
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 7
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
đổi mới tổ chức theo mô hình chức năng, chuyển sang thực hiện việc cung cấp thông tin
và dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế; đồng thời đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra xử lý
các hành vi vi phạm pháp luật thuế.
Hệ thống Hải quan:
Hệ thống Hải quan trước đây trực thuộc Chính phủ, được tổ chức thành 3 cấp:
Tổng cục hải quan (cấp trung ương), Cục hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
(hải quan vùng) và Hải quan cửa khẩu. Hệ thống hải quan đảm nhiệm việc quản lý thu
thuế đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu như: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thuế tiêu
thụ đặc biệt hàng nhập khẩu; thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu; thu nhập đối với hàng
là quà biếu, quà tặng vượt quá tiêu chuẩn miễn thuế.
Kể từ 4/9/2002, hệ thống Hải quan (Tổng cục Hải quan) được chuyển vào trực thuộc Bộ
Tài chính (Quyết định 113/2002/QĐ-TTg ngày 4/9/2002 của Thủ tướng Chính phủ).
1.2. Cơ sở lý luận về thất thu thuế
1.2.1. Khái niệm thất thu thuế
Thất thu thuế là một hiện tượng thực tế khách quan vốn có của bất kỳ hệ thống
thuế khoá nào. Nó phản ánh hai mặt của một vấn đề: lợi ích của Nhà nước và lợi ích của
người nộp thuế. Trên thực tế thì hai lợi ích này thường mâu thuẫn với nhau, Nhà nước

luôn có khuynh hướng tăng nguồn thu từ thuế, trong khi đó người nộp thuế luôn mong
muốn càng giảm số thuế phải nộp càng nhiều càng tốt. Hay nói cách khác, ở đâu có thuế
khoá thì ở đó có thất thu.
Thất thu thuế là khoản thuế quy định trong luật thuế phải thu được và tập trung
vào ngân sách nhà nước, song do nhiều nguyên nhân số tiền trên không được thu đủ để
tập trung vào ngân sách nhà nước đúng quy định.
1.2.2. Các dạng thất thu thuế:
Thất thu thuế biểu hiện, diễn biến rất đa dạng và phức tạp tuỳ theo điều kiện của
nền kinh tế - xã hội của một quốc gia, song có thể khái quát hoá thành 2 dạng: thất thu
thực tế và thất thu tiềm năng.
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 8
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
- Thất thu thực tế, có nghĩa là có nhiều khoản thu được quy định rõ ràng trong các luật
thuế, song do nhiều nguyên nhân số tiền đó không được tập trung vào ngân sách đúng
quy định.
- Thất thu tiềm năng, có nghĩa là thực tế có nhiều nguồn thu cần thiết phải động viên
vào ngân sách nhưng lại không thu được vì chưa có quy định của luật pháp.
1.2.3. Thất thu thuế do trốn thuế và tránh thuế:
Trốn thuế là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt hành chính hay bị
truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế.
Tránh thuế là hành vi lợi dụng những quy định của pháp luật thuế nhằm làm
giảm số thuế phải nộp cho Nhà nước. Tránh thuế hợp pháp không bị xử phạt hành chính
hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bởi lẽ, đối tượng nộp thuế am hiểu rõ về pháp luật
thuế và vận dụng tốt những phương thức hạch toán hợp pháp để giảm thiểu các khoản
thuế phải đóng, mà không trái với quy định pháp luật.
a) Các hình thức trốn thuế:
Việc trốn thuế ở Việt Nam thường diễn ra dưới nhiều hình thức và ở nhiều loại thuế
khác nhau. Chẳng hạn, trường hợp doanh nghiệp trong nước bắt tay với đối tác bán hàng
nước ngoài hạ giá hàng hóa nhập khẩu nhằm trốn thuế nhập khẩu; tổ chức, cá nhân mua
bán hóa đơn đầu vào khống (thuế giá trị gia tăng); doanh nghiệp không khai báo đầy đủ

doanh thu hay khai khống chi phí (thuế thu nhập doanh nghiệp); cá nhân không kê khai
thu nhập chịu thuế (thuế thu nhập cá nhân), hạ giá của hàng hóa mua bán chịu thuế
trước bạ (như xe hơi hay nhà ở) để giảm thiểu số thuế trước bạ phải đóng…
b) Các hình thức tránh thuế:
- Chuyển dịch thu nhập
- Hoãn thuế (vd như bán phiếu quà tặng)
- Trung gian thuế (vd bán cho doanh nghiệp khác tài sản sau thuê lại, doanh nghiệp
đó không đủ điều kiện khấu hao nhanh)
- Lợi dụng những ưu đãi của pháp luật thuế
- Lợi dụng những quy định bất cập của pháp luật thuế (cách phân bổ chi phí)
- Sử dụng phương pháp hạch toán chi phí thích hợp
- Chuyển giá
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 9
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
CHƯƠNG II: NGUYÊN NHÂN VÀ THỰC TRẠNG THẤT THU THUẾ Ở VIỆT
NAM
2.1. Nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế ở Việt Nam
2.1.1. Nguyên nhân từ người nộp thuế:
- Không thực hiện đúng chế độ đăng ký doanh, đăng mã số thuế và không nộp thuế.
- Khai báo nộp thuế không đúng, cụ thể là khai thấp giá bán và số lượng bán ra, để
ngoài sổ sách kế toán nguồn thu, khoản thu đáng lẽ ra phải thu, kê khai không đúng các
khoản chi phí hợp lý, hợp lệ (trường hợp khi bán hàng các doanh nghiệp ghi hóa đơn
thấp hơn giá thị trường, khi mua ghi hóa đơn cao hơn giá thị trường hoặc sử dụng hóa
đơn bất hợp pháp để khấu trừ khống thuế GTGT).
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 10
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
- Chậm nộp, kéo dài thời gian nộp thuế nhằm chiếm dụng thuế vào hoạt động kinh
doanh.
- Lợi dụng chính sách của nhà nước tự kê khai thuế, tự điều chỉnh thuế kế tiếp nhau
trong ba tháng từ đó họ tìm cách cân đối thấp nhất số thuế phải nộp, cụ thể là các sai

phạm khi họ kê khai thuế GTGT.
2.1.2. Nguyên nhân từ cơ quan thuế
- Những năm qua vấn đề nợ đọng thuế của các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh liên
tục gia tăng, mặc dù chính quyền địa phương các cấp và ngành thuế đã tích cực có nhiều
biện pháp tích cực nhưng cũng chưa chuyển biến. Bộ tài chính chỉ đạo phấn đấu nợ tồn
đọng thuế cuối năm chỉ dưới 5%, nhưng thực tế các địa phương đều nợ thuế tồn đọng
trên 10%, cá biệt có địa phương hơn 50% nợ thuế tồn đọng. Có nhiều nguyên nhân
khách quan và chủ quan.
- Về mặt khách quan do chế độ chính sách nộp thuế các đối tượng nộp thuế được kéo
dài đến 90 ngày, nếu quá thời gian đó ngành thuế mới áp dụng các biện pháp hành chính
để xử lý. Trong thời gian này các đối tượng nộp thuế chỉ nộp tiền phạt thuế do nộp
chậm, số tiền nộp phạt chậm quá thấp so với mức lãi vay ngân hàng hiện nay của các
ngân hàng, do vậy không doanh nghiệp, hộ kinh doanh nào lại đi vay ngân hàng để nộp
thuế với mức lãi suất cho vay quá cao như hiện nay.
- Về mặt chủ quan có nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh làm ăn có tinh thần trách
nhiệm, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế theo quy định, tuy nhiên có doanh nghiệp, hộ
kinh doanh cố tình trốn thuế, khi biết đến thời điểm ngành thuế sẽ áp dụng các biện
pháp hành chính thì các đơn vị này đã tẩu tán tài sản, nơi kinh doanh chỉ là nơi thuê mặt
bằng để kinh doanh, nơi ngân hàng đăng ký tài khoản thì không còn số dư. Cuối cùng cơ
quan thuế chuyển hồ sơ sang cơ quan công an điều tra để xử lý, nhưng không xử lý
được do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, vì các tổ chức này chỉ nợ thuế chứ không
phải trốn thuế.
- Hệ thống luật thuế còn nhiều bất cập, chưa theo kịp tốc độ phát triển của nền kinh tế
trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam.
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 11
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
- Công tác quản lý và khai thác nguồn thu thuế của một số địa phương chưa thật sự chặt
chẽ, hiệu quả.
- Trình độ của cán bộ thuế ở một số địa phương, một số lĩnh vực chưa thực sự đáp ứng
được yêu cầu quản lý của ngành thuế, nhất là đối với công tác quản lý thuế của các

doanh nghiệp FDI (chủ yếu tập trung ở 2 khu tam giác kinh tế lớn nhất nước là :
TPHCM - Bình Dương - Bà Rịa Vũng Tàu, và Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh).
- Hiện tượng tiêu cực của một số ít cán bộ thuế cũng có tác động không nhỏ dẫn tới việc
thất thu thuế ở một số địa phương.
2.2. Thực trạng thất thu thuế ở Việt Nam:
2.2.1. Khái quát số liệu tổng hợp thất thu thuế của ngành thuế:
- Năm 2011, toàn ngành Thuế đã thanh tra, kiểm tra tại 50.276 doanh nghiệp (đạt
90,65% chỉ tiêu kế hoạch và bằng 158,3% so năm 2010), xử lý truy thu, truy hoàn và
phạt qua thanh tra, kiểm tra 7.582 tỉ đồng, bằng 138,8% (7.582 tỉ đồng/5.462 tỉ đồng) so
năm 2010, giảm khấu trừ qua thanh tra, kiểm tra là 567 tỉ, giảm lỗ qua thanh tra, kiểm
tra là 11.021 tỉ đồng. Trong đó, thanh tra tại 6.167 doanh nghiệp, xử lý truy thu và phạt
3.386 tỉ đồng, giảm lỗ qua thanh tra là 7.011 tỉ đồng, giảm khấu trừ thuế GTGT 209 tỉ
đồng; nộp NSNN 2.093 tỉ đồng bằng 120.9% so với năm 2010. Đối với thanh tra chống
chuyển giá đã thực hiện thanh tra tại 921 doanh nghiệp lỗ, doanh nghiệp có dấu hiệu
chuyển giá, xử lý giảm lỗ 6.617 tỉ đồng (tăng 3,5 lần so với năm trước), truy thu thuế và
phạt 1.669 tỉ đồng (tăng hơn 4 lần so với cùng kỳ năm trước).
- Đối với vấn đề nợ thuế theo đánh giá của Tổng cục chiếm 72,3% tổng số nợ thuế,
trong đó trên 90 ngày chiếm 63,3%. Dù vậy, cơ quan chức năng vẫn cho rằng “số nợ
này còn có khả năng thu hồi được”.
- Theo báo cáo của Tổng cục thuế, tỷ trọng nợ thuế trên tổng thu NSNN giảm mạnh qua
các năm; năm 2008 là 9,5%; năm 2009 là 7,7%; năm 2010 là 7,3% và năm 2011 là
6,9%. Có tới 17 địa phương có mức nợ đọng dưới 5% như: Bà Rịa - Vũng Tàu; Bến
Tre, Bình Dương; Bình Thuận; Đà Nẵng; Đồng Nai; Hà Tĩnh; Hậu Giang; Khánh Hòa;
Lai Châu; Lạng Sơn; Quảng Ngãi; Quảng Ninh; Thái Nguyên; TT-Huế; Tuyên Quang
và Vĩnh Phúc.
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 12
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
- Cũng theo báo cáo của ngành Thuế hiện tổng nợ thuế đang chiếm tỷ trọng 6,9% trên
toàn bộ tổng thu NSNN năm 2011. Nợ thuế năm 2011 tiếp tục tăng 29,5%. Trong đó, nợ
chờ xử lý năm 2011 tăng 7,7% so với năm 2010; nợ có khả năng thu tăng 33,3%. Một

số địa phương có số nợ thuế năm 2011 tăng trên 50% so với năm 2010 như: An Giang,
Bắc Ninh, Bình Phước, Cao Bằng, Lào Cai, Tây Ninh….
- Đặc biệt năm 2011, Cục thuế các địa phương đã xử lý tích cực nợ chờ điều chỉnh (nợ
ảo), tính đến 31/12/2011 đã xử lý hết số nợ ảo tính đến 31/12/2010, với số nợ chiếm
0,3% trên tổng số thu NSNN. Công tác thanh kiểm tra tại 50.276 doanh nghiệp (đạt
90,65% chỉ tiêu kế hoạch và bằng 158,3% so với 2010) đã xử lý truy thu, truy hoàn và
phạt đạt 7.582 tỷ đồng (bằng 138,8% so với 2010); giảm khấu trừ được 576 tỷ đồng;
giảm số lỗ qua thanh kiểm tra đạt 11.021 tỷ đồng.
- Theo Báo cáo Đánh giá thực hiện nhiệm vụ tài chính - ngân sách năm 2011của Bộ Tài
chính, công tác quản lý, kiểm tra, giám sát chống thất thu thuế; đấu tranh chống chuyển
giá, nhất là đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), các khoản thu liên
quan đến đất đai, kinh doanh bất động sản, tài nguyên khoáng sản và thuế xuất-nhập
khẩu được xem là một trong những thành công đáng ghi nhận nhất trong năm 2011 của
ngành tài chính.Nhờ tích cực chống thất thu và nợ đọng thuế, nên thu ngân sách cả năm
2011 vẫn đạt 647.500 tỷ đồng, vượt 13,4% so với dự toán, tăng 20,6% so với năm 2010.
Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm 2011, ngành thuế đã thu hồi 67% số nợ thuế năm
2010 chuyển sang, với tổng số tiền lên tới 18.039 tỷ đồng, ngành hải quan đã xử lý thu
trên 709 tỷ đồng tiền nợ thuế.
Hiện nay, ngành Thuế đã chuyển sang cơ chế tự khai, tự nộp, vì vậy, cán bộ thuế cần
nâng cao trách nhiệm, hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp kê khai cho đúng. Từ nội dung
kê khai này, tìm ra những doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro kịp thời thanh tra, kiểm tra
đúng đối tượng.
Với một năm kinh doanh khó khăn như 2011, nhiều doanh nghiệp không tránh khỏi thua
lỗ, bao gồm cả những “đại gia” trong các ngành nghề mà báo cáo của Tổng cục Thuế
cũng phải “điểm mặt chỉ tên”.
Chẳng hạn, tình trạng “đóng băng” ở thị trường bất động sản đã khiến Hoàng Anh Gia
Lai phải nợ thuế lên đến hàng trăm tỉ đồng.
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 13
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
Hay như những doanh nghiệp có số nợ hàng chục tỉ đồng, nhưng thời gian nợ lại kéo dài

như Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) – Công ty TNHH một thành
viên, Tổng công ty Xây dựng Hà Nội, công ty Cavico xây dựng cầu hầm, CTCP Bia và
nước giải khát Phú Yên, CTCP tập đoàn Thành Công…
2.2.2. Các lĩnh vực thất thu thuế trọng tâm:
- Thời gian vừa qua, thực trạng thất thu thuế đang làm ảnh hưởng tới nhiệm vụ thu ngân
sách của ngành. Năm 2012, ngành thuế đã xác định 6 lĩnh vực trọng tâm của ngành
Thuế trong công tác chống thất thu và thu hồi nợ đọng thuế.
2.2.2.1. Thực trạng thất thu thuế do chuyển giá:
Đấu tranh chống chuyển giá từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(FDI) và gần đây là cả các doanh nghiệp trong nước. Những cách thức chuyển giá của
các doanh nghiệp này bước đầu đã được định dạng để cơ quan thuế tập trung đấu tranh
như chuyển giá từ khâu đầu vào, thu nhập nguyên liệu đến khâu đầu ra và các chi phí
dịch vụ quản lý.
a) Tình hình chung về chuyện giá hiện nay ở Việt Nam:
Số liệu từ Bộ Tài chính cho biết, hiện nay có đến 20 - 30% trong tổng số doanh
nghiệp FDI đang hoạt động trên các địa bàn kê khai có kết quả kinh doanh lỗ liên tiếp
trong 2 - 3 năm, thậm chí 5 năm. Rõ ràng, theo các quy định hiện hành, với tình trạng
kinh doanh thua lỗ, doanh nghiệp đó sẽ tránh được việc nộp thuế.
Nhưng nghịch lý ở chỗ, dù lỗ triền miên, nhưng các doanh nghiệp đó vẫn liên tục
mở rộng sản xuất - kinh doanh. đây là biểu hiện của tình trạng lợi dụng việc chuyển giá
để gian lận, trốn thuế. Các doanh nghiệp FDI này đã dùng những phương thức khác
nhau để trốn tránh các khoản thuế, phí thông qua việc báo lỗ trong hoạt động kinh
doanh, sau đó chuyển lợi nhuận về công ty mẹ ở nước ngoài.
Trong số 1.200 DN kê khai lỗ trong nhiều năm, trong năm 2011, các cơ quan Thuế
đã thực hiện kiểm tra được 500 DN, bước đầu phát hiện nhiều thủ đoạn chuyển giá rất
tinh vi. Kết quả đạt được sau khi kiểm tra và phát hiện các DN chuyển giá, cơ quan
Thuế đã chỉnh giảm lỗ trên 3.600 tỉ đồng; tăng thu thuế Thu nhập DN 1.200 tỉ đồng. 700
DN còn lại sẽ được cơ quan Thuế tiếp tục kiểm tra quyết liệt cho đến cuối năm 2011.
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 14
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam

Trong tổng số DN FDI của cả nước thì 2/3 số DN hoạt động tại các tỉnh phía Nam.
Qua đợt kiểm tra các DN báo cáo lỗ có dấu hiệu chuyển giá cho thấy tình trạng này xảy
ra nhiều ở TP.HCM, Bình Dương, Lâm Đồng. Theo Cục Thuế TP.HCM, tình trạng kê
khai lỗ nhiều năm liên tục, không phát sinh số thuế phải nộp của các DN FDI có các dấu
hiệu của việc chuyển giá thông qua việc mua bán hàng hóa, dịch vụ với các đơn vị có
quan hệ liên kết… chiếm tới trên dưới 60% tổng số các DN FDI tại TP.HCM.
b) Các trường hợp chuyển giá hiện nay ở Việt Nam
Chuyển giá thông qua việc nâng giá trị vốn góp:
Các MNC định giá cao máy móc thiết bị đầu tư ban đầu. Với suất đầu tư ban đầu
cao, hoạt động của DN nước ngoài sẽ không có lãi vì chi phí đầu tư cao thì giá thành
cũng cao lên cộng thêm chi phí khấu hao hàng năm; qua đó lợi nhuận thấp xuống và làm
cho nhà nước thất thu thuế.
Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ:
Ngoài việc nâng giá trị tài sản vốn góp khi tiến hành liên doanh thì các MNC còn
thực hiện việc chuyển giá thông qua việc chuyển giao công nghệ và thu phí tiền bản
quyền, đây là một loại chi phí chiếm tỷ trọng lớn do khấu hao giá trị tài sản cố định vô
hình. Một ví dụ điển hình cho việc chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ đó là
tại Công ty Liên doanh Nhà máy Bia Việt Nam. Khi đi vào hoạt động sản xuất kinh
doanh thì tình trạng kinh doanh của công ty bị thua lỗ kéo dài qua các năm, nguyên nhân
chủ yếu là do phải trả cho chi phí bản quyền quá cao và tăng dần qua các năm. Trong
tình hình công ty liên doanh thường xuyên thua lỗ, phía liên doanh Việt Nam chịu ảnh
hưởng nặng nề nhưng ngược lại phía liên doanh nước ngoài vẫn không hề hấn gì vì họ
vẫn nhận đủ tiền bản quyền từ nhãn hiệu và tiền bản quyền lại có xu hướng ngày càng
tăng.
Trong các dự án đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam, một số công nghệ đã
rất lỗi thời và bán tự động do không thông qua việc đăng ký với Bộ Khoa Học và Môi
Trường vẫn được xem là chuyển giao công nghệ trong các liên doanh. Điều này đã dẫn
đến tình trạng là chúng ta vẫn đang sử dụng công nghệ cũ, lỗi thời trên thế giới. Hậu
quả là một mặt gây ảnh hưởng môi trường, đồng thời chúng ta phải trả phí bản quyền
chuyển giao công nghệ. Một nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng này là do chúng ta

SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 15
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
không chuẩn bị tốt trong khâu soạn thảo hợp đồng và đàm phán chi phí bản quyền khi
tham gia liên doanh vì vậy mà chi phí cao hơn mức chi phí chuyển giao công nghệ cho
phép.
Chuyển giá thông qua kê cao giá nguyên vật liệu và khai tăng chi phí đầu
vào:
Thủ thuật chuyển giá phổ biến của MNC là việc kê giá nguyên liệu đầu vào rất
cao, đồng thời tìm mọi cách khai tăng chi phí quảng cáo, khuyến mãi nhằm triệt tiêu lợi
nhuận. So với các doanh nghiệp trong nước cùng ngành nghề có thể thấy chi phí sản
xuất của các MNC thường cao bất thường.
Để có thể “phù phép” lãi thành lỗ thông qua hình thức chuyển giá, các MNC không
thể làm riêng lẻ mà hoạt động trong cùng tập đoàn hoặc liên kết thành từng nhóm. Từ
đó các đơn vị này tự dàn xếp giá với nhau thông qua các giao dịch liên kết nhằm tìm
kiếm thêm lợi nhuận mà không phải bỏ thêm vốn hay mở rộng sản xuất. Với phương
thức sử dụng giá giao dịch nội bộ hay còn gọi là giao dịch liên kết, các tập đoàn cũng
giảm đi tổng nghĩa vụ thuế trên phạm vi toàn cầu nhằm tăng lợi nhuận sau thuế.
Chuyển giá nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường:
Các MNC khi đi vào đầu tư kinh doanh tại một quốc gia thì họ thường sẽ thích liên
doanh với một công ty nội địa hơn là vào đầu tư thẳng là công ty 100% vốn nước ngoài.
Nguyên nhân là các MNC này muốn sử dụng hệ thống phân phối và thị phần có sẵn của
các công ty nội địa. Sau một thời gian liên doanh thì các MNC này sẽ dùng các thủ thuật
khác nhau, trong đó có thủ thuật chuyển giá để đẩy công ty nội địa ra và chuyển công ty
liên doanh thành công ty 100% vốn nước ngoài. Điều này đã xảy ra tại công ty P&G
Việt Nam và công ty liên doanh Coca Cola Chương Dương.
Chuyển giá thông qua chênh lệch thuế suất:
Các trường hợp chuyển giá được xem xét ở trên là chuyển giá dựa vào sự chênh
lệch thuế suất thuế thu nhập giữa các quốc gia.
MNC sẽ lập công ty mẹ hoặc công ty con ở các quốc gia có thuế suất thấp, công ty
tại Việt Nam sẽ bán sản phẩm cho công ty tại các quốc gia này với giá bằng giá gốc để

tránh nộp thuế tại Việt Nam. Sau đó bên mua sẽ bán lại cho bên thứ ba thu lãi. Do thuế
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 16
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
thu nhập doanh nghiệp tại những quốc gia nơi công ty trú đóng bằng 0 hoặc ở mức rất
thấp nên MNC không phải đóng thuế hoặc thuế rất thấp.
2.2.2.2. Thực trạng thất thu thuế do hàng biên mậu:
Liên quan đến hàng biên mậu. Đáng chú ý là nhóm đối tượng mua gom hàng hoá ở
khu vực biên giới vào nội địa là khâu có khả năng thất thu rất cao
Theo Bộ Tài chính, mỗi năm, số tiền mà Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thuế
phát hiện sai phạm, truy thu thuế lên tới hàng nghìn tỷ đồng, trong đó có một phần
không nhỏ gian lận thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu. Đây mới chỉ là thống kê chưa đầy
đủ, chưa phản ánh hết thực tế. Tình trạng gian lận thuế trong hoạt động xuất nhập khẩu
ngày càng diễn biến tinh vi, phức tạp. Trong đó, gian lận thông qua khai báo mã số và
xuất xứ hàng hóa là hai hình thức phổ biến và có dấu hiệu gia tăng. Đây là thực tế đáng
lo ngại, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế gặp khó khăn như hiện nay. Bởi Việt Nam đã
hội nhập khu vực và nền kinh tế thế giới, theo đó nhiều dòng thuế được cắt giảm và
mức ưu đãi khác nhau. Nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng để trục lợi, thực hiện hành vi
bất chính.
2.2.2.3. Thực trạng thất thu thuế do bất động sản:
Nguồn thu liên quan đến bất động sản như thu tiền sử dụng đất, thuế trước bạ. Đây
cũng là khâu cần chấn chỉnh vì thực trạng tại nhiều địa phương việc thu còn tồn tại nợ
đọng, thu không đúng, không đủ.
2.2.2.4. Thất thu trong thương mại điện tử, dịch vụ kinh doanh qua mạng:
Rủi ro về thất thu trong thương mại điện tử, dịch vụ kinh doanh qua mạng, nguồn thu từ
quảng cáo của các đơn vị kinh doanh mạng xã hội.
2.2.2.5. Thất thu trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng:
Hoàn thuế và thuế giá trị gia tăng qua thanh tra có nhiều dấu hiệu vi phạm như cố
tình hoạch toán 3 tháng âm liên tục để hoàn thuế.
Một trong những loại thuế thường bị lợi dụng để “rút tiền” của Nhà nước là thuế
giá trị gia tăng (GTGT). Hầu hết cơ quan thuế của các địa phương đều cho rằng, vi

phạm liên quan đến thuế GTGT là khá phổ biến, đặc biệt quản lý thuế đối với các doanh
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 17
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
nghiệp (DN) ngoài quốc doanh, các hộ kinh doanh cá thể trong lĩnh vực thủy sản là vô
cùng khó khăn.
Lợi dụng quy định khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng nông, lâm, thủy
sản để tháo gỡ khó khăn cho người trực tiếp sản xuất, không ít người đã tạo ra hiện
trường “lỗ giả, lãi thật” bằng nhiều cách để khấu trừ, hoàn thuế. Chiêu trò phổ biến là
bán hàng không xuất hóa đơn; mua hàng rồi tự kê khai giá, ghi địa chỉ vùng sâu, vùng
xa để được ưu đãi; lập hóa đơn bán hàng giá trị thấp hơn thanh toán. Ngoài ra, rất nhiều
DN có trụ sở một nơi, mua hàng một nẻo, nhưng lợi dụng lúc đêm khuya vắng vẻ mới
chở hàng về nhằm trốn thuế. Thực trạng này không chỉ gây thất thu ngân sách mà còn là
nguyên nhân dẫn đến tình trạng mua bán hóa đơn khống để hợp thức hóa hồ sơ. Do đó,
việc trao quyền tự tạo, tự in hóa đơn cho DN là một trong những giải pháp hạn chế tình
trạng thất thu thuế GTGT, đồng thời tạo thuận lợi cho DN chủ động trong tự tạo và
quản lý hóa đơn.
Giao quyền tự tạo hóa đơn (tự in, đặt in và tự tạo hóa đơn điện tử) cho doanh nghiệp
(DN) là một xu thế tất yếu của sự phát triển. Thế nhưng, vấn đề đặt ra là khi “mở”
quyền cho DN phải “siết” ở công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra thì mới làm cho chính
sách pháp luật phát huy được hiệu quả.
Trước đây, DN mua hóa đơn từ cơ quan thuế và để tránh việc mua - bán hóa đơn
bất hợp pháp, cơ quan thuế buộc các DN phải đóng dấu rõ tên, địa chỉ, mã số thuế của
DN mua hóa đơn lên mỗi tờ hóa đơn (liên giao cho khách hàng). Nhưng sau khi đóng
dấu lên hóa đơn, các DN vẫn bán hóa đơn cho nhau, vì ngành Thuế chưa liên thông để
kiểm tra hết các liên hóa đơn đầu ra, đầu vào của DN. Hiện, Nghị định 51/2010/NĐ-CP
giao quyền tự tạo hóa đơn cho DN với những trình tự, thủ tục tạo hóa đơn khá đơn giản,
nhưng công tác quản lý cần phải tiếp tục tăng cường và đẩy mạnh hơn nữa. Vấn đề đặt
ra là trong điều kiện kiểm soát gắt gao như trước đây (hóa đơn chỉ duy nhất một mẫu do
Bộ Tài chính phát hành, DN phải đóng dấu trên từng hóa đơn) mà tình trạng buôn bán
hóa đơn bất hợp pháp vẫn diễn ra, gây thất thu thuế, thì giờ đây, khi Nhà nước giao

quyền tự tạo hóa đơn cho DN, liệu việc “thông thoáng” này có trở nên “lỏng lẻo” hay
không khi mà ý thức chấp hành pháp luật của DN nói chung chưa cao. Sau một thời gian
thực hiện, với quy định giao quyền tự tạo hóa đơn cho DN, bên cạnh những hình thức
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 18
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
gian lận phổ biến như mua bán hóa đơn, xuất hóa đơn khống… đang phát sinh thêm các
hình thức gian lận mới như:
In trùng số sê-ri trên hóa đơn: Trong quá trình tạo lập hóa đơn, DN tự in hóa đơn,
tự tạo hóa đơn điện tử có thể tự mình in trùng số sê-ri hóa đơn để sau khi bán hàng DN
không khai thuế những hóa đơn in trùng. Nhất là những DN có hệ thống bán lẻ rộng
khắp các tỉnh thành trong cả nước thì việc in trùng số sê-ri và sử dụng ở các chi nhánh
khác nhau rất khó bị phát hiện. Ngay cả DN đặt in cũng dễ dàng phối hợp với DN nhận
in hóa đơn để in thừa, in trùng số sê-ri hóa đơn để sử dụng nhưng không khai thuế đầu
ra làm giảm doanh số bán ra nhằm trốn thuế. DN bán lẻ đến tay người tiêu dùng, người
tiêu dùng cá nhân thường không dùng hóa đơn để kê khai, quyết toán thuế nên cơ quan
thuế sẽ không thể phát hiện được số hóa đơn in thừa này.
Sử dụng hóa đơn xoay vòng: do luật không quy định buộc DN không ghi mã số
hàng hóa, số sê-ri từ sản phẩm bán ra trên hóa đơn nên nhiều DN sử dụng hóa đơn với
thông số lượng hàng hóa chung chung để chứng minh cho hàng hóa bất hợp pháp. Tức
là dùng một hóa đơn sử dụng nhiều lần cho các lô hàng trôi nổi, hàng lậu, hàng không
hóa đơn chứng từ để trốn thuế. Nếu cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra thì DN xuất
trình hóa đơn lô hàng đã bán (nhưng không lập hóa đơn bán hàng) để đối phó…
Trong khi đó, công tác thanh tra, kiểm tra hiện nay chưa thật sự đảm bảo về số lượng và
chất lượng. Số lượng thanh tra, kiểm tra tại DN chiếm tỷ lệ còn thấp so với tổng số DN
quản lý. Chẳng hạn, Cục thuế TP. HCM hiện đang quản lý 143.648 DN nhưng công tác
thanh tra, kiểm tra chiếm số lượng chưa cao. Cụ thể:
Số hồ sơ đã thanh tra thuế nói chung trong năm 2011 là 1.003 hồ sơ, chiếm 0,7%
tổng số DN Thành phố đang quản lý. Qua đó, truy thu và phạt nộp ngân sách là 1.115 tỷ
đồng; giảm khấu trừ được 62 tỷ đồng; giảm lỗ được 2.034 tỷ đồng.
Số hồ sơ đã kiểm tra tại cơ quan thuế là 112.425 hồ sơ. Riêng kiểm tra tại DN là

7.791 hồ sơ, chiếm 5,4% tổng số DN. Số truy thu và phạt quy đổi 2.849 tỷ đồng.
Nội dung thanh tra của ngành thuế chủ yếu trên cơ sở kê khai, báo cáo “tự tính,
tự khai, tự nộp thuế” của DN, mà trong khi đó phần lớn DN ý thức tuân thủ pháp luật
chưa cao, cơ chế giám sát việc tuân thủ pháp luật DN chưa triệt để… Do đó đã ảnh
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 19
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
hưởng không nhỏ đến chất lượng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng và thu
nộp thuế nói chung của DN.
2.2.2.6. Thất thu do hạch toán chi phí không hợp lý, hợp lệ:
Thuế với những chi phí không hợp lý hợp lệ, doanh số đầu ra trên tài sản cố định,
nguyên vật liệu.
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC THẤT THU THUẾ Ở VIỆT
NAM
3.1. Về cơ chế, chính sách:
- Tổng cục Thuế chủ trì phối hợp với các đơn vị trong Bộ, các Cục Thuế, khẩn trương
thực hiện rà soát, xây dựng, sửa đổi, bổ sung các cơ chế chính sách về thuế đảm bảo
hành lang pháp lý phục vụ tốt cho công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu, giảm nợ
đọng thuế.
- Hoàn thiện hơn nữa cơ chế chính sách, tạo cơ sở và hành lang pháp lý cho hoạt động
của doanh nghiệp cũng như trong công tác chống chuyển giá của cơ quan chức năng.
Hiện nay, Bộ Tài chính đang trình Chính phủ, Quốc Hội sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Quản lý thuế theo hướng cho phép quy định áp dụng thoả thuận giá trước –
APA.
- Quy định riêng về thời hạn thanh tra đối với hoạt động chuyển giá.
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 20
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
- Quy định về quyền điều tra cho cơ quan thuế; bổ sung thêm quy định về ngưỡng kê
khai thông tin giao dịch liên kết để đơn giản hoá cho người nộp thuế trong việc kê khai
và phù hợp với điều kiện Việt Nam.
- Xây dựng chế tài xử phạt đủ mạnh để đảm bảo tính răn đe.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ, chính xác nhằm tập trung công tác thanh tra kiểm tra
vào các doanh nghiệp có dấu hiệu bất thường, sao cho đạt mục tiêu từ 15 – 20% doanh
nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh được thanh kiểm tra hàng năm và tăng
cường hướng dẫn, kiểm tra để số doanh nghiệp có tờ khai thuế hàng tháng, hàng quý đạt
tỉ lệ 98%. Tuy nhiên, trong việc lập danh sách các doanh nghiệp cần kiểm tra này phải
tuân theo nguyên tắc quản lý rủi ro, giảm tối thiểu sự tác động của các yếu tố khách
quan vào việc xác định danh sách doanh nghiệp.
- Phối hợp với lực lượng của các bộ ngành sao cho nâng cao hiệu quả quản lý doanh
nghiệp và chống thất thu ngân sách Nhà nước.
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, xây dựng cơ chế xác định chính xác giá trị tài sản cố
định và giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào; xây dựng danh mục một số hàng hoá dịch vụ
chủ yếu trên cơ sở tham khảo giá hàng hoá cùng loại tại các nước trong khu vực và trên
thế giới làm cơ sở chung cho các Cục Thuế sử dụng, tham chiếu khi xác định giá hàng
hoá bán ra, hỗ trợ cho các Cục Thuế trong đấu tranh chống chuyển giá.
- Vụ Pháp chế Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Tổng cục Thuế kịp thời hướng dẫn
thực hiện trong ngành thuế Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 về quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế. Phân định rõ
chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận tuyên truyền, hỗ trợ, pháp chế để thực hiện tốt
nhiệm vụ; Tổ chức rà soát, xác định văn bản pháp luật thuế, phí, lệ phí, tài chính phải
sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới để trình Bộ phân công cho các đơn vị thực hiện.
- Khẩn trương rà soát, tổng hợp những vướng mắc trong quá trình quản lý thuế liên quan
đến hoạt động thương mại biên giới báo cáo Bộ để kiến nghị với Bộ Công Thương sửa
đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế.
3.2. Về quy trình nghiệp vụ:
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 21
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
- Tổng cục Thuế phối hợp với các Cục Thuế tổ chức rà soát, tổng kết, đánh giá để hoàn
thiện, sửa đổi, bổ sung các quy trình nghiệp vụ quản lý thuế, đảm bảo đáp ứng yêu cầu
thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý thuế. Đồng thời, xây dựng các
quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể, quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu

người nộp thuế để phục vụ cho công tác quản lý thuế theo phương pháp rủi ro; Rà soát
sửa đổi các quy trình liên quan đến thanh tra, kiểm tra thuế theo hướng tăng thời gian
nghiên cứu tại cơ quan thuế, nâng cao hiệu quả đối với thời gian làm việc tại doanh
nghiệp, trụ sở người nộp thuế; Xây dựng sổ tay nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra, quản lý
nợ thuế, cưỡng chế nợ thuế.
- Tổ chức nghiên cứu, xây dựng các chuyên đề quản lý thuế chuyên sâu phục vụ cho
công tác quản lý của toàn ngành Thuế: Giao Tổng cục Thuế chủ trì phối hợp với các
Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh
Phúc … xây dựng chuyên đề quản lý giá chuyển nhượng; Cục Thuế các tỉnh Quảng
Ninh, Khánh Hoà, TP Đà Nẵng và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xây dựng chuyên đề quản lý
thuế đối với kinh doanh dịch vụ du lịch, khách sạn,…
3.3. Về công tác tổ chức, đánh giá, tổng kết:
Cục Thuế các tỉnh, thành phố tổ chức đánh giá tổng kết công tác chống thất thu,
nợ đọng thuế của cả giai đoạn 2009-2012 trên địa bàn quản lý, đánh giá mức độ thất
thu, nợ đọng thuế trên từng địa bàn, lĩnh vực, xác định rõ lĩnh vực còn thất thu, nhận
dạng chính xác các nhóm tổ chức, cá nhân người nộp thuế có khả năng rủi ro cao để lập
danh sách các doanh nghiệp cần thanh tra, kiểm tra thuế, tập trung thu nợ thuế.
- Tập trung sáu lĩnh vực chủ yếu: kiểm tra, thanh tra chống chuyển giá đối với các loại
hình doanh nghiệp trên địa bàn; hoàn thuế, khấu trừ thuế GTGT; thu thuế đối với lĩnh
vực bất động sản, thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; quản lý thu thuế đối với hàng hoá
biên mậu theo Quyết định số 139/2009/QĐ-TTg ngày 23/12/2009 của Thủ tướng Chính
phủ ở các địa phương có biên giới đường bộ; chống thất thu đối với kinh doanh thương
mại, dịch vụ du lịch, khai thác mỏ; chống thất thu đối với những loại hình kinh doanh
mới phát sinh như thương mại điện tử, kinh doanh qua mạng,…
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 22
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
3.4. Về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo:
Thủ trưởng cơ quan thuế các cấp phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và thường
xuyên kiểm tra, kiểm soát, đôn đốc thực hiện đối với công tác thanh tra, kiểm tra, chống
thất thu, nợ đọng thuế đảm bảo hoàn thành được kế hoạch thanh tra, kiểm tra và thu nợ

thuế đã đề ra và thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo định kỳ.
- Đối với công tác quản lý nợ thuế: Cơ quan thuế các cấp triển khai đồng bộ các biện
pháp thu hồi nợ đọng thuế, đôn đốc, cưỡng chế nợ thuế theo đúng thủ tục, trình tự quy
định của pháp luật. Cục trưởng Cục Thuế các tỉnh, thành phố căn cứ nhiệm vụ thu nợ
thuế Tổng cục Thuế giao, giao chỉ tiêu thu nợ cho từng đơn vị, cụ thể hoá theo từng
tháng, từng quý và từng nhóm nợ thuế. Tổ chức theo dõi, giám sát chặt chẽ thường
xuyên sự biến động của các khoản nợ thuế để đôn đốc thu nợ kịp thời. Yêu cầu phải ban
hành 100% thông báo nộp tiền nợ thuế, tiền phạt chậm nộp số thuế nợ đến từng doanh
nghiệp, người nộp thuế. Tổ chức đôn đốc thu nộp, thực hiện cưỡng chế theo đúng quy
định pháp luật, đảm bảo tổng số tiền thuế nợ đến thời điểm 31/12/2012 không vượt quá
5% so với số thực hiện thu năm 2012 (số tiền thuế nợ không bao gồm các khoản: nợ
không còn đối tượng để thu, nợ phát sinh từ các khoản thu không giao trong dự toán và
tiền thuế đã nộp vào ngân sách nhà nước đang chờ điều chỉnh). Nghiên cứu đầy đủ các
trường hợp cơ quan thuế thực hiện gia hạn nộp thuế cho doanh nghiệp, người nộp thuế
không đúng chế độ quy định; thủ trưởng cơ quan thuế chịu trách nhiệm đôn đốc đầy đủ,
kịp thời các khoản nợ đọng, thực hiện cưỡng chế đúng pháp luật đối với những doanh
nghiệp, người nộp thuế “chây ỳ”, cố tình chiếm dụng tiền thuế của ngân sách nhà nước.
- Đối với công tác thanh tra, kiểm tra: Trên cơ sở chỉ tiêu kế hoạch thanh tra và nhiệm
vụ kiểm tra thuế năm 2012 đã được Tổng cục Thuế giao tại Quyết định số 43/QĐ-TCT
ngày 16/01/2012 và danh sách các doanh nghiệp chi tiết theo từng nhóm cần thanh tra,
kiểm tra đã được Tổng cục Thuế chấp nhận. Cục Thuế giao chỉ tiêu thanh tra, nhiệm vụ
kiểm tra cho từng phòng, từng Chi cục Thuế, từng đoàn thanh tra, kiểm tra, bố trí lực
lượng để tổ chức triển khai thực hiện được nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra đã giao. Hàng
tháng, hàng quý phải tổ chức theo dõi đánh giá và kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch
thanh tra, kiểm tra đối với từng đơn vị để kịp thời đôn đốc đảm bảo tiến độ thực hiện kế
hoạch thanh tra, kiểm tra đã được giao. Yêu cầu thực hiện trong năm 2012 phấn đấu
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 23
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
thanh tra đạt tối thiểu 1,5% số doanh nghiệp đang quản lý thuế và kiểm tra tại doanh
nghiệp tối thiểu 12,5% số doanh nghiệp đang quản lý thuế. Tập trung đẩy mạnh công

tác thanh tra đối với hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp, xác định đây là nhiệm
vụ công tác trọng tâm trong năm 2012. Đồng thời, đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra nội bộ
theo kế hoạch được giao để phát hiện các hành vi vi phạm làm thất thoát nguồn thu
NSNN, kịp thời chấn chỉnh các sai phạm và xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của
pháp luật.
- Đẩy mạnh việc thanh tra, kiểm tra công tác hoàn thuế giá trị gia tăng, tập trung đối với
những địa phương có số hoàn thuế tăng đột biến. Đối với những Cục Thuế có số lượng
hồ sơ hoàn thuế không lớn (dưới 1.000 tỷ/năm), trong vòng 3 tháng sau khi hoàn thuế
phải tổ chức kiểm tra 100% số hồ sơ (hoàn thuế trước kiểm sau); các địa phương có hồ
sơ hoàn thuế lớn thực hiện kiểm tra 100% số hồ sơ (hoàn thuế trước kiểm sau) chậm
nhất là 6 tháng sau khi hoàn thuế.
- Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng và phát triển kỹ thuật quản lý rủi ro trong công tác thanh
tra, kiểm tra, phân loại người nợ thuế, các khoản nợ thuế ở mức độ cao hơn và hiệu quả
tốt hơn như: mở rộng ứng dụng phần mềm phân tích rủi ro của người nộp thuế để lập kế
hoạch thanh tra thuế cho các Cục Thuế và các Chi cục Thuế; Kịp thời xây dựng và triển
khai phần mềm ứng dụng kiểm tra hồ sơ khai thuế GTGT tại cơ quan thuế; nâng cấp
ứng dụng hỗ trợ thanh tra kiểm tra thuế, thu nợ thuế theo quy trình thanh tra sửa đổi phù
hợp với Luật thanh tra mới và quy trình quản lý nợ thuế.
3.5. Về công tác miễn, giảm, hoàn thuế:
- Cơ quan thuế các cấp tổ chức xử lý miễn, giảm, hoàn thuế kịp thời, đúng quy định của
pháp luật thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế. Tăng cường công tác hậu
kiểm để đảm bảo việc hoàn thuế, xử lý miễn, giảm, gia hạn thuế chặt chẽ, đúng đối
tượng, đúng chính sách pháp luật của Nhà nước. Khi phát hiện các trường hợp đề nghị
hoàn thuế sai, kê khai miễn, giảm thuế không đúng quy định, cơ quan thuế có biện pháp
truy thu ngay tiền thuế vào ngân sách nhà nước, nếu có yếu tố cấu thành tội phạm thì
chuyển cơ quan có chức năng điều tra truy cứu trách nhiệm hình sự.
3.6. Về thực hiện các kết luận, kiến nghị sau thanh tra, kiểm toán:
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 24
GVHD: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp khắc phục thất thu thuế ở Việt Nam
- Cơ quan thuế các cấp phải trả lời đầy đủ, kịp thời, các khiếu nại, kiến nghị của người

nộp thuế đối với các kết luận, thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế theo đúng quy định
thời gian của pháp luật, đúng chức trách nhiệm vụ được giao. Đối với những vấn đề, vụ
việc người nộp thuế chưa đồng tình với ý kiến trả lời của cơ quan thuế xử lý trực tiếp thì
cơ quan thuế cấp trên phải có trách nhiệm làm rõ vấn đề theo nguyên tắc phải tổng hợp
đầy đủ thông tin từ đơn vị quản lý thuế trực tiếp. Đối với các vấn đề phức tạp liên quan
đến các ngành khác thì phải xin ý kiến tham gia để giải quyết kịp thời dứt điểm.
- Tổ chức thực hiện nghiêm túc các kết luận của cơ quan Kiểm toán Nhà nước, thanh
tra. Khẩn trương xử lý dứt điểm các vi phạm, tồn tại trong lĩnh vực thuế đã được cơ
quan kiểm toán, thanh tra, phát hiện, kiến nghị. Truy thu đầy đủ, kịp thời vào ngân sách
nhà nước đối với số tiền phát hiện qua thanh tra, kiểm tra của cơ quan kiểm toán và
thanh tra. Triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 05/CT-BTC ngày 21/12/2011 của Bộ Tài
chính về thực hiện nghiêm chính sách tài khoá và các kết luận, kiến nghị của cơ quan
kiểm toán, thanh tra và văn bản hướng dẫn của Tổng cục Thuế.
3.7. Về nguồn nhân lực để thực hiện nhiệm vụ:
- Tổng cục Thuế khẩn trương xây dựng đề án biên chế, định biên đối với ngành Thuế
đến năm 2020 đảm bảo có căn cứ khoa học. Đổi mới mạnh mẽ hơn nữa công tác thi
tuyển và xét tuyển công chức trong thời gian tới theo hướng xã hội hoá, chuyên sâu,
chuyên nghiệp, mạnh dạn ký hợp đồng, giao cho Học viện Tài chính tổ chức khâu thi
tuyển, phúc tra… Kịp thời xây dựng trình Bộ các phương án về tuyển dụng công chức
Tổng cục Thuế năm 2012 trên cơ sở thông báo biên chế ngành thuế của Bộ, nhu cầu
thực tế, số lượng công chức nghỉ hưu.
- Cục Thuế các tỉnh, thành phố phải tổ chức bố trí, cơ cấu lại nguồn nhân lực thực tế để
bảo đảm tăng tỷ lệ cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra. Phấn đấu đến 31/12/2012 số
cán bộ chuyên làm công tác thanh tra, kiểm tra tăng 2-3% so với thời điểm đầu năm,
đồng thời trưng dụng 5-6% số cán bộ ở các bộ phận khác tham gia công tác thanh tra,
kiểm tra.
SVTH: Lâm Thị Kiều Thanh – Lớp TCDN Đêm 1 K20 Trang 25

×