Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

Ảnh hưởng của tình trạng Dollar hóa đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay- Nguyên nhân và giải pháp khắc phục

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (203.32 KB, 22 trang )

Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Lời mở đầu
ảnh hởng của tình trạng dollar hoá đối với nền kinh tế việt nam hiện
nay nguyên nhân và giải pháp khắc phục

Trong những năm gần đây, vấn đề dollar hoá ngày càng thu hút sự
quan tâm của các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia trong lĩnh
vực tài chính tiền tệ ngân hàng. Dollar hoá là tình trạng phổ biến của các nớc đang phát triển và các nớc đang trong quá trình chuyển đổi. ở những nớc
này, tình trạng lạm phát cao thờng là trên 2 con số, đồng tiền trong nớc mất
ổn định, mất giá... tức là đồng tiền bị mất lòng tin, nên các chức năng thuộc
tính của tiền tệ bị thu hẹp, nhờng chỗ cho ngoại tệ mạnh, chủ yếu là dollar
Mỹ, lấn lớt.
Tại Việt nam, tình trạng dollar hoá trong nền kinh tế đà diễn ra trong
nhiều năm nay sau một thời gian dollar hoá có xu hớng chững lại do lạm
phát ổn định, kiểm soát ngoại tệ chặt chẽ, lÃi suất huy động USD ở mức
thấp. Nhằm ngăn chặn hiện tợng dollar hoá, Ngân hàng Nhà nớc đà có chỉ
đạo tìm kiếm giải pháp hạn chế dollar hoá,mà tập trung nhất là đợc thể
hiện tại hội nghị triển khai nhiệm vụ của ngành Ngân hàng năm 2001.
Trong quá trình đổi mới hoạt động nền kinh tế đất nớc, Đảng và Nhà
nớc ta chủ trơng thực hiện đờng lối kinh tế mở cửa và hội nhập với khu vực
và thế giới. Thực hiện đờng lèi ®ã, chóng ta ®· gia nhËp khèi ASEAN, ký
kÕt Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ, cam kết tham gia AFTA và trong tơng
lai sẽ tham gia vào tổ chức Thơng mại thế giới (WTO). Việc hội nhập quốc
tế về kinh tế nh trên, tạo ra cho nền kinh tế nớc nhà nhiều cơ hội và đồng
thời nó cũng đặt ra nhiều thách thức đối với các ngành kinh tế nớc ta. Xét
trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, Chính phủ ta kêu gọi nguồn vốn đầu t nớc ngoài vào trong nớc. Nhờ đó làm cho nền kinh tế trong nớc phát triển,
thu nhập ngời dân tăng lên và tạo công ăn việc làm cho một bộ phân dân c,
nhng bên cạnh đó nó cũng gây ra tình trạng dollar hoá. Tuy nhiên, đây
không phải là nguyên nhân duy nhất gây nên tình trạng này mà nó còn do
nhiều nguyên nhân khác gây ra.


ĐÃ có rất nhiều bài báo đề cập đến vấn đề dollar hoá nền kinh tế dới
các góc độ phân tích khác nhau. Trong khuôn khổ bài viết này, em không
dám chắc rằng mình sẽ có thể nêu lên đầy đủ các ý kiến phân tích ở mọi
khía cạnh về tình trạng dollar hoá tại nớc ta trong thời kỳ chuyển đổi sang
cơ chế thị trờng. Để hiểu thêm tình trạng này, em cũng cố gắng đa ra một
số phân tích cơ bản về dollar hoá ở nớc ta.

Nội dung
I-

Khái niệm, nguyên nhân và các loại dollar hoá.

1.

Khái niệm :

Trong một nền kinh tế khi ngoại tệ đợc sử dụng một cách rộng rÃi thay
thế đồng bản tệ trong toàn bộ hoặc một số các chức năng của tiền tệ thì theo
thông lệ chung có thể hiểu nền kinh tế đó bị ngoại tệ hoá. Khi một nền kinh

Trịnh Thị Thu Hà - 3022

1


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

tế nào đó sử dụng ngoại tệ là dollar một cách rộng rÃi nh trên thì gọi là
dollar hoá nền kinh tế.
Theo IMF, tỷ lệ dollar hoá của nền kinh tế đợc căn cứ vào tỷ lệ giữa

tiền gửi ngoại tệ tại các Ngân hàng so với lợng tiền cung ứng theo nghĩa
rộng (M2). Theo cách tính này, IMF cho rằng nếu tiền gửi ngoại tệ trên M2
(Bao gồm : Tiền mặt trong lu thông, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ
hạn và tiền gửi ngoại tệ) trong một nền kinh tế lớn hơn 30% thì nền kinh tế
đó có thể coi là gặp phải tình trạng dollar hoá cao.
2.

Nguyên nhân của dollar hoá :
Theo các nhà nghiên cứu tình trạng dollar phụ thuộc vào các yếu tố

sau :
Trình độ ph¸t triĨn cïng tÝnh chÊt cđa nỊn kinh tÕ : Dollar hoá thờng
rơi vào các nớc có trình độ phát triển thấp, các nớc đang phát triển, đang
trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trờng, nền kinh tế có tỷ lệ lạm
phát cao, giá trị đồng nội tệ giảm liên tục. Do đó công chúng thích giữ các
tài sản bằng ngoại tệ nhằm tự phòng ngừa rủi ro giảm giá, phá giá đồng nội
tệ. Đồng ngoại tệ đợc coi là phơng tiện thanh toán, cất trữ tồn tại song song
với đồng nội tệ... Tình trạng buôn lậu cha đợc kiểm soát chặt chẽ, nhất là
buôn lậu qua biên giới, buôn bán tiểu ngạch.
Trình độ tâm lý và dân trí của ng ời dân : tại các nớc có trình độ dân
trí cha cao ngời dân vẫn còn thói quen giữ vàng và dollar để tránh rủi ro.
Do vậy thờng xảy ta tình trạng dollar hoá trong nền kinh tế.
Trình độ phát triển của hệ thống ngân hàng : Khi hệ thống ngân hàng
còn non trẻ thì hoạt động thanh toán cha phát triển, khoa học công nghệ hỗ
trợ cho việc hiện đại hoá máy móc, trang thiết bị còn lạc hậu cha theo kịp
với các nớc trong khu vực cũng nh trên thế giới. Điều này cũng là một trong
những nhân tố không nhỏ gây ảnh hởng trực tiếp đến tình trạng dollar hoá
nền kinh tế hiện nay.
Chính sách tiền tệ và cơ chế quản lý ngoại hối cùng với mức độ đảm
bảo tính nghiêm minh của cơ chế quản lý : Mục tiêu hàng đầu của chính

sách tiền tệ là ổn định giá trị của tiền tệ, tức là ổn định sức mua của tiền tệ.
Nếu mục tiêu này đạt đợc cùng với cơ chế quản lý ngoại hối chặt chẽ thì
tình trạng dollar hoá nền kinh tế rất khó xảy ra.
Khả năng chun ®ỉi cđa ®ång néi tƯ(®ång tiỊn cđa qc gia đó) :
Khi đồng tiền của một quốc gia lâm vào tình trạng lạm phát hoặc nền kinh
tế có mức tăng trëng vµ GDP thÊp, khoa häc kü tht cịng nh cơ sở hạ tầng
không phát triển hoặc phát triển chậm... so với các nớc trong khu vực sẽ dẫn
đến việc đồng tiền nội tệ của nớc đó sẽ không đợc a chng cho viƯc thanh
to¸n xt nhËp khÈu cịng nh việc cất trữ vì giá trị không ổn định. Vì vậy nớc đó phải sử dụng đồng tiền khác để thay thế.

Trịnh Thị Thu Hà - 3022

2


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

3.

Các loại dollar hoá :

Về cơ bản, dollar hóa gồm ba loại chính, đó là : Dollar hóa không
chính thức(unoficial dollarization) ; Dollar hoá bán chính thức(semiofcial
dolarization) và Dollar hoá chính thức(official dollarization).
a. Dollar hoá không chính thức (unoficial dollarization) :
Dollar hoá không chính thức là trờng hợp ngoại tệ đợc sử dụng rộng
rÃi trong nền kinh tế mặc dù không đợc quốc gia này chính thức thừa nhận.
Thuật ngữ " dollar hoá không chính thức " bao gồm các trờng hợp nắm giữ
tài sản nớc ngoài hợp pháp và không hợp pháp. Tại một vài nớc, việc giữ
một số tài sản ngoại tệ hợp pháp nh các tài khoản bằng USD ở các ngân

hàng trong nớc, nhng lại không hợp pháp khi có tài khoản tại ngân hàng nớc ngoài, trừ khi đợc cấp giấy phép.
Dollar hoá không chính thức có thể gồm các loại sau :
* Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nớc ngoài.
* Tiền gửi bằng ngoại tệ ở các ngân hàng nớc ngoài.
* Tiền gửi bằng ngoại tệ ở các ngân hàng trong níc.
* Tr¸i phiÕu hay c¸c giÊy tê cã gi¸ bằng ngoại tệ ở trong công chúng.
Dollar hoá không chính thức đợc chia thành 3 giai đoạn :
* Giai đoạn 1 của dollar hoá không chính thức thờng đợc các nhà
kinh tế gọi là giai đoạn" thay thế tài sản" (asset substitution). Trong giai
đoạn này, ngời dân giữ trái phiếu ngoại tệ và các khoản tiền gửi ở nớc ngoài
nh là một phơng tiện cất trữ nhằm tránh việc giảm giá trị tài sản do lạm phát
ở trong nớc hay việc tịch thu tài sản xung công mà một số nớc đà làm.
* Giai đoạn 2 của dollar hoá không chính thức đợc các nhà kinh tế
gọi là giai đoạn "thay thế tiền tệ " (currency substitution). Trong giai đoạn
này, ngời dân giữ một khối lợng lớn các trái phiếu ngoại tệ và tiền gửi ngoại
tệ tại hệ thông ngân hàng trong nớc (nếu đợc phép). Ngoại tệ vừa thực hiện
chức năng là phơng tiện thanh toán và phơng tiện cất trữ. Tiền lơng, thuế
hay những chi tiêu hàng ngày nh hàng tạp phẩm hay các hoá đơn điện nớc
đợc thanh toán bằng đòng ngoại tệ, nhng với những tài sản có giá trị lớn
hơn nh ô tô và nhà cửa thờng đợc trả bằng ngoại tệ.
* Giai đoạn 3 của dollar hoá không chính thức là giá cả của hàng
hoá đợc tính bằng nội tệ nhng mọi ngời đều liên tởng đến ngoại tệ theo tỷ
giá hối đoái.
Dollar hoá không chính thức rất phổ biến ở các nớc đang phát triển.Tại
thời điểm tháng 01 / 2002 có các nớc :
- Dollar hoá không chính thức(USD) : hầu hết các nớc Mỹ - Latinh và
Caribê nh Argentina, Bôlivia, Mexicô, Pêru, Trung Mỹ ; hầu hết các nớc
thuộc Liên xô cũ nh Armenia, Turkey và Việt Nam.

Trịnh Thị Thu Hà - 3022


3


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Dollar hoá không chính thức(các ngoại tệ khác) : Đồng France
Pháp : một số nớc trớc đây là thuộc địa của Pháp ; §ång Mark cđa §øc :
Balkans ; §ollar Hång K«ng : Macao và phía nam Trung Quốc ; Đồng Rúp
của Nga : Belarus.
b.

Dollar hoá bán chính thức (semioficial dollarization) :

Trên thế giới có khoảng 12 nớc đợc IMF xếp là các níc " dollar ho¸
b¸n chÝnh thøc " hay cã hƯ thống lu hành hai đồng tiền. Tại các nớc này,
đồng ngoại tệ là đồng tiền đợc lu hành hợp pháp và thậm chí có thể chiếm u
thế trong các tài khoản tiền gửi ngân hàng, nhng đóng vai trò thứ cấp trong
việc trả lơng, thuế và nhng chi tiêu hàng ngày. Không giống các nớc có
dollar hoá chính thức, các nớc dollar hoá bán chính thức duy trì Ngân hàng
trung ¬ng hay mét c¬ quan tiỊn tƯ cã qun h¹n tơng tự để thực hiện chính
sách tiền tệ của họ.
Theo thời điểm tháng 01 / 2000, có các nớc :
Dollar ho¸ b¸n chÝnh thøc (USD) : Bahamas, Cambodia,
Laos,Thailand, Liberia
- Dollar hoá bán chính thức (ngoại tệ khác) : Bhutan(Rupi của Ên
§é)n; Bosnia (Mark cđa §øc, Kuna cđa Croatia, Dinar cđa Yugoslav) ;
Brunei(dollar Singapo); Channel Islands(Pound cña Anh) ; Lesotho(Rand
cña Nam Phi) ; Luxembourg(France cđa Belgian) ; Montegro(Mark cđa
§øc, Dinar cđa Yugoslav) ; Namibia (Rand cña Nam Phi) ; Tajikistan(Rup

cña Nga).
c.

Dollar hóa chính thức (Dollar hoá hoàn toàn - full dollarization).
Dollar hóa chính thức xuất hiện khi đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp
pháp duy nhất đợc lu hành. Nghĩa là đồng ngoại tệ không chỉ đợc sử dụng
hợp pháp trong các hợp đồng giữa các bên t nhân mà còn hợp pháp trong
các khoản thanh toán của chính phủ. Nếu đồng nội tệ còn tồn tại thì nó chỉ
có vai trò thứ yếu và thờng chỉ là những đồng tiền xu hay các đồng tiền có
mệnh giá nhỏ. Các nớc thờng chỉ áp dụng dollar chính thức khi thất bại
trong việc thực thi các chơng trình ổn định kinh tế.
Dollar hoá chính thức không có nghĩa là chỉ có một hoặc hai ngoại tệ
đợc lu hành hợp pháp. Tuy nhiên, các nớc dollar hoá chính thức thờng chỉ
chọn một đồng ngoại tệ làm đồng tiền hợp pháp, nhng chỉ có Andorra dùng
cả đồng Franc của Pháp và đồng Pezota của Tây ban nha. Tại hầu hết các nớc dollar hoá chính thức, các đối tác t nhân đợc phép ký hợp đồng bằng bất
cứ loại tiền nào mà họ cùng đồng ý.
Theo IMF, hiện nay có khoảng 14 nớc đợc xếp là các nớc dollar hoá
chính thức.
Theo nghiên cứu của hệ thống dự trữ liên bang Mĩ, hiện tại ngời nớc
ngoài nắm giữ khoảng 55% đến 70% số USD lu hành. Còn theo ớc tính của
Bundesbank, ngời nớc nắm giữ khoảng 40% tổng số DM đợc lu hành.

Trịnh Thị Thu Hµ - 3022

4


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

II-


TìNH TRạNG DOLLAR HOá ở MộT Số Nớc trên thế giới

1.

Tình trạng dollar hoá

Thông thờng mỗi một quốc gia đều có đồng tiền riêng của mình, thực
hiện hầu nh đầy đủ các chức năng tiền tệ, trừ chức năng tiền tệ thế giới mà
không phải đồng tiền nào cũng làm đợc. Do các ®iỊu kiƯn kinh tÕ - chÝnh
trÞ- x· héi lÞch sư cụ thể nên đô la Mĩ, một ngoại tệ mạnh, có phạm vi giao
dịch rộng lớn nhất trên thế giới dần dần đợc sử dụng song hành với đồng
nội tệ của quốc gia, đến một mức nào đó thì gọi là dollar hoá nền kinh tế.
Tình trạng này có thể đợc chính phủ quốc gia đó chính thức tuyên bố thừa
nhận, đợc dụng trong chi trả lơng, thanh toán mua bán hàng hoá và dịch vụ
cho phép sử dụng đô la Mĩ trong các giao dịch thanh toán nội địa khác nh
Enxanvado, Ecuador, Panama... hoặc không tuyên bố chính thức.
Theo IMF đánh giá năm 1998, có 18 nớc đợc xếp là nớc có mức độ
dollar hoá cao, tức là tiền gửi ngoại tệ trên M2 trong nền kinh tế lớn hơn
30%. Đó là các nớc : Argetina, Azerbaijian, Belaus, Bolivia, Cambodia,
Costarica, Croatia, Georgia, Guinea bissau, Laos, Latvia, Mozambique,
Nicagua, Peru, Saotome, Principe, Tajikistan, Turkey, Uruguay và 34 nớc
khác đợc IMF xếp là nớc có mức độ dollar hoá vừa phải với tỉ lệ tiền gửi
ngoại tệ trên M2 khoảng 16,4%. Theo thống kê năm 2001 của IMF thì
Enxanvado chính thức thực hiện dollar hoá nền kinh tế từ 01/01/2001 Đây
là nớc MÜ- La tinh thø ba sau Panama vµ Ecuado dollar hoá nền kinh tế.
Tình trạng dollar hoá tại các thị trờng đang lên đợc lựa chọn bởi IMF.

Trịnh Thị Thu Hµ - 3022


5


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

TrÞnh ThÞ Thu Hµ - 3022

6


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

2.

Các tác động của dollar hoá

a.

Tác động tích cực :
Quá trình dollar hoá có thể có một số tác động đợc coi là tích cực :

Việc sử dụng đồng dollar sẽ tạo cho nền kinh tế " một cái van giảm
nhẹ sức ép " của những mất cân đối, kết quả của tính không hiệu quả dới
cơ chế kế hoạch tập trung, đồng thời cung cấp cho các tác nhân kinh tế tự
bảo vệ chống lại lạm phát và phơng tiện đẻ mua hàng hoá ở thị trờng phi
chính thức.
Hạ thấp chi phí giao dịch : ở những nớc dollar hoá chính thức, các
chi phí nh chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán khi chuyển từ đồng tiền này
sang đồng tiền khác đợc xoá bỏ. Dollar hoá chính thức cũng loại bỏ những
giao dịch với các nớc khác. Các chi phí dự phòng cho rủi ro tỷ giá cũng

không cần thiết, điều này giúp thúc đẩy thơng mại và đầu t giữa các nớc. Ví
dụ thông qua việc dùng đồng USD, Mêhicô đà giảm đợc một khối lợng
đáng kể chi phí giao dịch thơng mại với Nhật bản vì khâu thơng mại Pêso Đô la đợc loại bỏ.
Một khía cạnh khác của lợi ích giảm chi phí là các ngân hàng có thể
hạ thấp lợng dự trữ, vì thế giảm đợc chi phí kinh doanh. Việc tồn tại hai
đồng tiền buộc các ngân hàng phải tiến hành danh mục đầu t tách biệt giữa
nội tệ và ngoại tệ. Những nghiên cứu của Moren năm 1999 cho thấy, thông
qua dollar hoá chính thức, các nhân hàng Panama hạ thấp đợc mức dự trữ tơng đơng 5% GDP so với việc lu hành hai đồng tiền.
Hạ thấp lạm phát hiện tại và rủi ro lạm phát trong tơng lại thấp hơn :
Bằng việc sử dụng đồng ngoại tệ, các nớc dollar hoá chính thức bảo đảm
duy trì tỷ lệ lạm phát gần với mức lạm phát thấp ở các nóc phát hành đồng
ngoại tệ. Lạm phát thấp làm tăng sự an toàn đối với tài sản t nhân, khuyến
khích tiết kiệm và cho vay dài hạn. Lạm thấp cũng giúp những ngời nghỉ hu, những ngời có thu nhập cố định và các ngời nghèo có các tài khoản tại
ngân hàng và đảm bảo khoản tiết kiệm của họ đợc duy trì giá trị.
LÃi suất thấp hơn khuyến khích phát triển kinh tế : Tại các nớc
dollar hoá chính thức,ngời ta sẽ thực hiện so sánh vá tiếp nhận đồng tiền
nào có giá trị hơn, có mật bằng lÃi suất thấp hơn. Mặt bằng lÃi suất thấp sẽ
cho phép tăng trởng kinh tế cao hơn và sẽ tạo điều kiện để thu hẹp khoảng
cách so với các nớc công nghiệp.
Dollar hoá ở mức độ lớn sẽ thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trờng chính thớc và phi chính thức : Tỷ giá chính thức càng sát với tỷ giá trên
thị trờng phi chính thức, các hoạt động càng có động cơ chyển từ thị trờng
"bất hợp pháp " sang thị trờng " hợp pháp "(thị trờng chính thức).
Mức độ mở cửa lớn hơn và minh bạch hơn : Các nớc thực hiện dollar
hoá chính thức có thể loại bỏ rủi ro cán cân thanh toán và những kiểm soát
mua ngoại tệ, khuyến khích tự do thơng mại và đầu t quốc tế. Đấc biệt là

Trịnh Thị Thu Hà - 3022

7



Website: Email : Tel (: 0918.775.368

khi mét nÒn kinh tế bị dollar hoá hoàn toàn thì Ngân hành trung ơng sẽ
không còn khả năng phát hành tiền và gay ra lạm phát, đồng thời ngân sách
nhà nớc sẽ không trông chờ vào nguồn phát hành này để trang trải thâm
hụt, kỷ luật về tiền tệ và ngân sách đợc thắt chặt. Do vậy, các chơng trình
ngân sách sẽ mang tính tích cực hơn.
b.

Tác động tiêu cực :
Với những tác động tích cực nêu trên dollar hoá cũng bao hàm nhiều
tác động tiêu cực. Đó là các tác động :
Xét về góc độ tài chính :
- Dollar hoá làm yếu kém hoạt động và hiệu quả chính sách tài chính :
Nó hạ thấp doanh thu từ phát hành tiền(seigniorage- is revenue from issuing
money) và làm trầm trọng hơn tác động lạm phát từ việc tài trợ thâm hụt
ngân sách thông qua hệ thống ngân hàng(ở Achentina, những năm sâu khi
tiến hành dollar hoá, doanh thu từ việc phát hành tiền giảm 0,3% GDP).
Dollar hoá cũng cho phép một bộ phận nhất định các hoạt động kinh tế trốn
thuế. Dollar hoá cũng làm yếu kém hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớc xét về khả năng tạo lợi nhuận cũng nh đóng góp cho ngân sách, đặc biệt
là các doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp vì nó đà góp phần làm chệch
hớng sản xuất sang thị trờng không chÝnh thøc.
CÇn chi phÝ lín trong viƯc thu håi néi tệ và đa nhoại tệ vào lu
thông : Các nớc áp dụng dollar hoá chính thức cần phải có lợng ngoại tệ đủ
để thay thế số nội tệ đang lu thông. Nghiên cứu của Stanley Fihser năm
1982 cho thấy chi phí trung bình đối với các nớc tiến hành dollar hoá chính
thức vào những năm 70 tơng đong 4%- 5% GDP.
Xét về góc độ tiền tệ :
Dollar hoá làm giảm hiệu quả kiểm soát tiền tệ : Dollar hoá không

chính thức có thể khiến cho cầu về nội tệ không ổnn định. Nếu mọi ngời bất
ngờ chuyển sang ngoại tệ có thể làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu
một chu kỳ lạm phát. Khi ngời dân giữ một khối lợng lớn tiền gửi bằng
ngoại tệ, những thay đổi về lÃi suất trong nớc hay nớc ngoài có thể gây ra
sự chuyển dịch lớn từ đồng tièen này sang đồng tiền khác(hoạt động đàu cơ
tỷ giá). Những thay đổi này sẽ gây khó khăn cho Ngân hàng trung ơng
trong việc đặt mục tiêu cung tiền trong nớc và có thể gây ra những bất ổn
trong hệ thống ngân hàng.
Những cố gắng của Ngân hàng trung ơng nhằm kìm hÃm(khuyến
khích) tổng cầu thông qua giảm(tăng) tín dụng cũng sẽ ít hiệu quả, do thay
đổi về lÃi suất nớc ngoài sẽ trực tiếp tác động đến các quyết định phân bổ
tài sản của những ngời giữ USD. Nói cách khác, những thay đổi lÃi xuất nớc ngoài sẽ tác động đến tổng cầu nội địa vì khi lÃi xuất nớc ngoài tăng
(giảm) ngời giữ dollar sẽ có xu hớng thu hẹp(mở rộng) tiêu dùng và đầu t.
Nh vậy, việc thi hành chính sách lÃi suất thấp trong trờng hợp kinh tế suy

Trịnh Thị Thu Hà - 3022

8


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

thoái không nhất thiết khuyến khích đầu t mà có thể làm nảy sinh tâm lý
chuyển đổi sang USD nhằm bảo tồn giá trị.
Trong trờng hợp dollar hoá chính thức, chính sách tiền tệ và chính
sách lÃi suất của đồng tiền lúc này sẽ đợc quyết định ở Mỹ, trong khi một
nớc đang phát triển và một nớc công nghiệp phát triển nh Mỹ không có
những chu kỳ tăng trỡng kinh tế giống nhau. Giả sử nếu có xảy ra một quá
trình điều chỉnh cho phù hợp thì quá trình này cũng phải kéo dài nhiều năm.
Sự khác biệt về chu kỳ tăng trởng kinh tế tại hai khu vực kinh tế đòi hỏi

phải có những chính sách tiền tệ khác nhau.
Cuối cùng, với doanh thu thuế lạm phát thấp hơn và những tác động
bất lợi của dollar hoá đối với hoạt động của doanh nghiệp nhà nớc khiến
cho chính sách tiền tệ, ở một mức độ nào đó, phải cung cấp những nhu cầu
tài chính lớn hơn cần thiết cho khu vực Nhà nớc.
Dollar hoá cũng làm giảm hiệu lực của chính sách tỉ giá : Dollar
hoá tác động đến cơ chế truyền dẫn của tỷ giá hối đoái. Tác động khuếch
đại của phá giá tiền tệ sẽ trở nên yếu kém do phá giá tiền tệ cỉ tác động đến
một bộ phận nhỏ hơn các tài sản có tính thanh khoản . Sù u kÐm cđa
chÝnh s¸ch tû gi¸ xt hiƯn bất kể có hay không trên thị trờng phi chính
thức so với thị trờng chính thức.
Bên cạnh đó, nếu mặt bằng giá cả trong nớc tăng nhanh hơn ở Mỹ thì
hậu quả là đồng dollar sẽ tăng giá trị thực, khả năng cạnh tranh so với
Mỹ(và các nớc còn lại trên thế giới) sẽ giảm sút. Khi các đối thủ cạnh tranh
trên thị trờng thế giới thực hiịen phá giá đồng tiền thì quốc gia bị dollar hoá
sẽ không còn khả năng để bảo vệ sức cạnh tranh của khu vực xuất khẩu
thông qua viêc điều chỉnh lại tỷ giá hối đoái. Điều này xảy ra trong năm
1999, khi Braxin thực hiện phá giá mạnh đồng Real và hệ quả là hàng xuất
khẩu của Argentina sang Braxin đà giảm dáng kể và hàng hoá của Braxin
lại có khả năng cạnh tranh hơn một cách rõ rệt tại Argentina.
Rõ ràng lợi thế của việc tiếp nhận đồng dollar là có giá trị ổn định chỉ
thực có nếu nh Mỹ là đối tác thơng mại quan trọng nhất. Chừng nào không
có đợc điều kiện này thì luôn luôn xuất hiện nguy cơ lên giá của đồng
dollar so voứi đồng Euro, đồng Yên và các đồng tiền khác sẽ làm giảm sút
khả năng cạnh tranh của xuất khẩu trong nớc.
Dollar hoá chính thức sẽ làm mất đi Ngân hàng trung ơng và chức
năng của nó là ngời cho vay cuối cùng của các Ngân hàng.
III- TìNH TRạNG DOLLAR HOá ở VIệT NAM.

1.


Hình thức dollar hoá ở Việt nam.

Dollar hoá diễn ra ở mỗi nớc rất khác nhau và đợc đánh giá qua các
chỉ tiêu nh tỷ lệ tiền gửi bằng ngoại tệ trên tổng phơng tiện thanh toán, tỷ lệ
cho bằng ngoại tệ so với tổng d nợ cho vay đối với nền kinh tế hoặcc tỷ
trọng tiền gửi bằng ngoại tệ so với tổng tiền gửi của hệ thống ngân

Trịnh Thị Thu Hµ - 3022

9


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

hàng...Đối với Việt Nam, dollar hoá xảy ra dới hình thức nào ? Dollar hoá
tiền gửi, dollar hoá tiền vay hay cả hai.
a.

Dollar hoá tiền gửi :
Vào những năm cuối của thập kỷ 80, lạm phát tiền tệ ở Việt Nam lên
cao tột đỉnh đến bốn chữ số, đồng Việt Nam bị mất giá nặng, ngời ta đổ xô
nắm giữ vàng, dollar Mỹ hoặc bất động sản ... hầu hết đều lấy USD làm
chuẩn mực dể cất giữ và thanh toán trong nớc. Hiện tợng dollar hoá xuất
hiện ở mức cao tới 41% tổng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng. Đến đầu
những năm 90, Ngân hàng trung ơng đà sử dụng chính sách tiền tệ mới, lạm
phát tiền tệ hạ thấp xuống còn một chữ số, đặc biệt đà áp dụng chính sách
lÃi xuất thực dơng, đà hấp dẫn hớng mọi ngời tÝch l ®ång néi tƯ(VND).
Thùc tÕ ®· cã nhiỊu ngêi rút tiền gửi USD chuyển qua gửi vào ngân hàng
bằng VND đợc hởng lÃi xuất cao hơn dẫn đến tỷ lƯ tiỊn gưi USD trong tỉng

tiỊn gưi trong hƯ thèng ngân hàng lúc đó giảm xuống. Bớc đầu coi nh đÃ
thiết lập VND thành đồng tiền ổn định giá trị cả về đối nội và đối ngoại.
Thế nhng trong ba, bốn năm trở lại đây, mức độ dollar hoá lại gia tăng
với tỷ lệ trên 40% trong tổng tiền gửi của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là
vào năm 2000(ở đây cha lợng tính đợc số USD trôi nổi nằm ngoài hệ thống
ngân hàng). Trong năm 2000, lÃi xuất tiết kiệm USD tăng cao càng làm gia
tăng mức độ dollar hoá trong hệ thống ngân hàng. Tỷ lệ lợi tức trên một
đồng ngoại tệ gửi tại ngân hàng lớn hơn nhiều so với một đồng nội tệ đÃ
làm thay đổi việc lựa chọn tài sản tiết kiệm.
Bảng 1 : Cơ cấu tiền gửi ngoại tệ trong tổng vốn huy động của hệ thống
ngân hàng.
Đơn vị :%

1994

1995

1996

1997

1998

1999

2000

Ngoại tệ

39,2


33,5

31,7

33.2

33,6

39,1

45,3

VND

60,8

66,5

68,3

66,8

66,4

60,9

54,7

Tổng


100

100

100

100

100

100

100

Năm 2000 : số liệu tính đến hết tháng 09 /2000.
Nguồn : Tính từ Table 22, Vietnam : Statistical Appendix, IMF Staf
Country Report No.99/56. July 1999, p.24; Báo cáo thơng niên của NHNN
năm 1999, và Thời báo ngân hàng số 78,2000.
Nhìn vào bảng 1 nhận thấy rằng mức độ dollar hoá đà trở lại năm
1999, sau khi giảm bớt trong giai đoạn 1995 - 1998, thực sự bùng nổ trở lại
năm 2000. Dollar hoá kh«ng chØ diƠn ra ë khu vùc tiỊn gưi tiÕt kiệm của c,
mà còn xuất hiện ở tổ chức kinh tÕ - x· héi. TiỊn gưi cđa tỉ chøc kinh tế xÃ
hội tăng mạnh không phải là do lÃi xuất huy động USD trong năm 2000
tăng cao, bởi lÃi xuất USD ngân hàng trả cho ccs tổ chức kinh tế gửi tại
mình ràng buộc bởi trần lÃi suất quy định của Ngân hàng nhà nớc. Nguyên

Trịnh Thị Thu Hà - 3022

10



Website: Email : Tel (: 0918.775.368

chính làm tăng tiền gửi của tổ chức kinh tế là do các công ty có nguồn
ngoại tệ cha giải ngân cho các dự án tạm thời gửi tại ngân hàng hay ngoại
tệ thu đợc từ xuất khẩu tăng trong năm 2000 nhng công ty lại không bán mà
giữ lại do tỷ giá VND/USD có xu hớng tăng cao. Nh vậy, lÃi xuất ngoại tệ
doanh nghiệp thực hởng sau khi điều chỉnh sự biến đổi tỷ giá sẽ hấp dẫn
hơn gửi bằng VND. Trờng hợp thiếu vốn VND, doanh nghiệp sẽ vay của
ngân hàng với lÃi suất thật hấp dẫn vì cạnh tranh giữa các ngân hàng khốc
liệt hơn.
Đứng trớc tình hình dollar hoá cha có dấu hiệu thuyên giảm đáng kể,
Ngân hàng nhà nớc đà can thiệp bằng một số công cụ. Sự can thiệp này một
phần đà ngăn chặn làn sóng tăng lÃi suất huy động tiết kiệm USD của các
ngân hàng thơng mại. Một yếu tố khách quan bên ngoài cũng làm giảm bớt
tình hình là việc lÃi suất USD trên thị trờng quốc tế bắt đầu giảm từ cuối
tháng 11/2000 do dù b¸o nỊn kinh tÕ Mü suy u.
b.

Dollar hoá cho vay :
Trên cở sở lý thuyết và xu hớng chung của nền kinh tế dollar hoá, các
ngân hàng cho vay bằng USD nhiều hơn nếu rủi ro phá giá cao hơn. Ngợc
lại, tín dụng bằng nội tệ tăng cao. Trờng hợp dollar hoá ở Việt Nam có nằm
ngoài phạm vi này không?
Bảng 2 : Cơ cấu cho vay ngoại tệ trong tổng d nợ của
hệ thống ngân hàng.
Đơn vị : %

1994


1995

1996

1997

1998

1999

2000

Ngoại tệ

38,6

38,7

36,6

31,2

25,2

22,6

18,6

VND


61,4

61,3

63,4

68,8

74,8

77,4

81,4

Tổng

100

100

100

100

100

100

100


Năm 2000 : số liệu tính đến hÕt th¸ng 10/2000
Nguån : TÝnh tõ Table 26, Vietnam : Statistical Appendix, IMF Staf
County Report No. 99/56, July 1999, p.28, Tạp chí ngân hàng, số 1+2/
2000, Tin tức (TTXVN), số 434/ 2000
Nhìn vào bảng 2 thấy rằng cho vay ngoại tệ của hệ thống ngân hàng đến
năm 2000 chỉ chiếm cha đầy 20% tổng d nợ đối với nền kinh tế của hệ thống
ngân hàng. Bảng 2 mô tả tỷ träng cho vay b»ng ngo¹i tƯ so víi tỉng d nợ
cho vay của hệ thống ngân hàng cho thấy dollar hoá ccho các khoản vay ở
mức trung bình, nhng đánh giá qua tốc độ tăng trởng liên hoàn (bảng 3),
dollar hoá cho vay hầu nh không diễn ra trong 3 năm 1998- 2000.
Tại sao các doanh ngiệp lại không mặn mà với việc sử dụng vốn ngoại
tệ ? Nh chúng ta đà phân tích ở trên, doanh nghiệp vay bằng ngoại tệ vừa
phải chịu lÃi suất USD khá cao so với VND, vừa phải gánh thêm phần giảm
giá đồng nội tệ. Nếu trong năm 2000, khách hàng vay ngoại tệ với lÃi suất

Trịnh Thị Thu Hà - 3022

11


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

cùc kú u đÃi ở mức 5,8 - 6,60%/năm thì lÃi suất sau điều chỉnh mức độ
giảm giá của VND so với USD đà lên tới 9,2 - 9,4%/năm. Trong khi đó, vay
bằng VND các doanh nghiệp chỉ phải trả ở mức 8,0 - 8,5%/năm, mức u đÃi
7,5m-8,0%/năm.Hơn nữa doanh nghiệp vay ngoại tệ chủ yếu cho mục đích
nhập khẩu, nhuồn thu laịi chủ yếu bằng VND. Trên cơ sở đà phân tích,
doanh nghiƯp thÊy vay b»ng VND sau ®ã chun sang mua ngoại tệ nhập
khẩu sẽ có lợi hơn. Ngoại trừ doanh nghiệp có nguồn ngoại tệ để cân đối

cho khoản vay bằng ngoại tệ.
Bảng 3: Tốc độ tăng trởng liên hoàn cho vay ngoại tệ, VND của hệ
thống ngân hàng (năm gốc 1994).
Đơn vị : %

1995

1996

1997

1998

1999

2000

Ngoại tệ

+27,0

+13,5

+4,5

-5,6

+0,2

+2,0


VND

+26,6

+24,1

33,0

+26,8

+12,0

+30,0

Năm 2000: số liệu tính ®Õn hÕt th¸ng 10/ 2000.
Nguån : TÝnh tõ Table 22, Vietnam : Statistical Appendix, IMF Staf
Country Report No 99/56, JULY 1999, Tạp chí ngân hàng, số 1+2/ 2000,
Tin tức (TTXVN), sè 534/2000
Tû träng tiỊn gưi b»ng ngo¹i tƯ trong tỉng tiền gửi tăng lên khônh phù
hợp với tỷ trọng gia tăng của tín dụng bằng ngoại tệ trong tổng số tín dụng
ngân hàng. Do đó, chênh lệch giữa lợng vốn huy động và cho vay khách
hàng đợc nới rộng ra. Để sử dụng phần vốn ngoại tệ d thừa, các ngân hàng
chỉ lựa chọn danh mục đàu t là mua trái phiếu chính phủ của các nớc phát
hành bằng ngoại tệ hay gửi trên thị trờng tiền tệ quốc tế. Chính vì vậy, đây
là nguyên nhân giải thích vì sao tiền gửi tại nớc ngoài của các ngân hàng
tăng lên. Sự đào hối không phải là do các ngân hàng không muốn đầu t vào
trong nớc mà chính khách hàng từ chối vay bằng ngoại tệ. Bảng 4 dới đây
chỉ rõ mức sử dụng vốn huy động ngoại tệ. Trong giai đoạn 1994 - 1997,
cho vay bằng ngoại tệ vợt quá khả năng của các ngân hàng. Do đó nguồn

vốn nớc ngoài sẽ bù đắp phần thiếu hụt này. Giai đoạn 1998 - 2000 có xu hớng ngợc lại, đầu t tÝn dơng cho nỊn kinh tÕ chØ chiÕm mét phần vốn huy
động. Giải toả phần vốn huy động ngoại tệ d thừa, các ngân hàng kinh
doanh trên thị trờng tiền tệ quốc tế hay đầu t vào trái phiếu chÝnh phđ.
B¶ng 4 : Tû träng sư dơng vèn so với huy động ngoại tệ của hệ thống
ngân hàng.
Đơn vị : %

Năm
Tỷ trọng

1994 1995 1996
135 148 141

Trịnh Thị Thu Hà - 3022

1997
104

1998 1999 2000
73
47
33
12


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Nguån : TÝnh tõ Table 22 & table 26, Vietnam : Statistical Appendix,
IMF Staf Country Report No.99/56, July1999 p.24&28; Tạp chí ngân
hàng,số 1+2/2000 ; Tin tức (TTXVN) số 534/2000; Báo cáo thờng niên của

NHNN năm 1999 và thời báo ngân hàng, số 78/2000.
c.

Dollar trong xà hội :

Đây là khối lợng dollar đợc dân chúng cất giữ và thanh toán trong các
giao dịch xà hội. Việc xác định lợng dollar này rất khó khi mà ở nớc ta tình
trạng buôn lậu còn lớn, pháp luật không nghiêm, tình trạng tham nhũng
đáng lo ngại.Do đó chỉ có thể căn cứ vàonguồn dollar Mỹ từ nớc ngoài
chuyển vào trong nớc qua con đờng t nhân nh : thu nhập từ buôn lậu hay
buôn bán tiểu ngạch, kiều hối,quà biếu và quà tặng bằng dollar Mỹ, cá nhân
mang trực tiếp theo mình khi xuất nhập cảnh có khai báo(trên mức quy
định) và không khai báo(không tự giác khai báo và dới mức phải khai báo),
các nguồn thu b»ng dollar Mü ë trong níc nh : dÞch vơ du lịch với khách nớc ngoài,... Bởi vậy,chủ yếu dựa vào quan sát, thông tin d luận, nhìn nhận
các giao dịch thanh toán trong dân c, nhất là các giao dịch có giá trị lớn nh :
mua bán bất động sản, mua xe máy... Thực trạng này thấy rất rõ ở nớc ta.
2.

Nguyên nhân dollar hoá ở nớc Việt Nam :

Ngoài những nguyên nhân của dollar hoá đà đợc trình bày ở trên thì
Việt Nam còn có một số nguyên nhân khác nữa. Đó là :
a.

Nguyên nhân sâu xa :

Tình trạng dollar hoá là do tính ổn định của đồng tiền cha cao, năng
lực kinh tế của Việt Nam cha phát triển. Đây cũng là nguyên nhân chung
của các nớc có tình trạng dollar hoá.
b.


Nguyên nhân trực tiếp :

Chế độ quản lý ngoại tệ và cơ chế quản lý hối đoái đà hạn chế sự ra
đời và phát triển của thị trờng hối đoái.
Tình trạng buôn bán qua biên giới và trên biển khá phát triển và quản
lý lỏng lẻo. Tình trạng các doanh nghiệp của mọi thành phần kinh tế, các
cửa hàng kinh doanh, cửa hiệu vàng bạc... bán hàng thu bằng ngoại tệ, thu
đổi ngoại tệ cßn tïy tiƯn, diƠn ra phỉ biÕn, doanh thu xt khẩu hàng hoá và
dịch vụ của t nhân bằng ngoại tệ mà không cần phải cân đối cho nhập
khẩu... ớc tính cũng vài trăm triệu USD mỗi năm.
Thu nhập của các tầng lớp dân c còn thấp, tâm lý tiết kiệm và để
dành lo xa cho cuộc sống tĩnh dỡng tuổi già, lo nơi ăn chốn ở, lo cho con
cái học hành còn lớn nhất là thói quen cất giữ vàng trong thời bao cấp vẫn
còn in đậm trong mọi ngời dân cho đến ngày nay. Do đó, trong giai đoạn
chuyển đổi nền kinh tế hiện nay vàng giảm giá và không đợc a chuộng cộng
với những lo sợ về biến động tỷ giá, mức độ mất giá của VND,... ngời dân

Trịnh Thị Thu Hà - 3022

13


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

chỉ còn cách lựa chọn tối u là dollar Mỹ nên Việt Nam khó tránh khỏi tình
trạng dollar hoá trong xà hội.
Nguồn thu kiều hối :
Con số chính thức thống kê đợc Ngân hàng nhà nớc cho hay, nếu nh
năm 1991 mới đạt 35 triệu USD thì năm 2000 đà đạt 1.757 triệu USD.

Trong cơ cấu các nguồn chuyển kiều hối năm 2000 thì :
Chuyển qua các ngân hàng : 950 tr USD, chiÕm 54,6%.
Chun qua c¸c doanh nghiƯp : 165 tr USD, chiÕm 9,3%.
Chun qua bu ®iƯn : 32 tr USD, chiếm 1,4%.
Mang trực tiếp có khai báo với hải quan : 610 tr, chiếm 34,7%.
Năm 2001, mặc dù bị ảnh hởng bởi sự kiên bị khủng bố ngày 11/9 tại
Mỹ nhng nguồn kiều hối chuyển về nớc cũng đạt 1.850 tr USD. Trong 6
tháng đầu năm 2002, lợng kiều hối chuyển về nớc đạt hơn 1,0 tỷ USD, ớc
tính cả năm sẽ đạt 2,1 tỷ USD bởi vì lợng kiều hối thòng tăng lên vào các
tháng cuối năm. Nguồn kiều hối chuyển về nớc đều thuộc sở hữu cá nhân,
hầu nh không mấy ai bán cho ngân hàng vì tỷ giá không phù hợp.Đsố gửi
tiết kiệm vào ngân hàng, cất trữ để dành trong nhà, hay chi tiêu mua sắm
trực tiếp bằng USD nếu hàng hoá có giá trị lớn.
Nguồn ngoại tệ cá nhân mang trực tiếp theo mình khi nhập cảnh vào
Việt Nam có khai báo (trên mức quy định) và không khai báo(không tự giác
khai báo và dới mức phải khai báo). Ngời Việt Nam đi xuát khẩu lao động,
đi du học, thực tập sinh, đi khảo sát,thăm quan... theo các chơng trình và dự
án tài trợ của nớc ngoài có các nguồn thu bằng dollar Mỹ, mang thu nhập
về nớc đầu t, làm ăn, mua bán đất đai và nhà ở, cho tặng, để dành... Nhiều
con số ớc tính khác nhau, nhng vào khoảng 1,0 tỷ USD mỗi năm trong 1-2
năm gần đây. Tơng tự, nguồn ngoại tệ này hầu nh không đợc bán cho ngân
hàng, mà nếu có, họ chỉ bán cho t nhân, cất trữ, thanh toán hay gửi vào
ngân hàng lấy lÃi.
Nguồn thu ngoại tệ do khách du lịch mang vào chi tiêu tại Việt Nam,
bao gồm cả những ngời nớc ngoài không c trú đến khảo sát thị trờng, làm
ăn, tham quan, làm việc ngắn ngày... Số ngoại tệ này hầu hết chi trả cho các
khách sạn, nhà hàng,công ty du lịch và dịch vụ t nhân, liên doanh hay
100% vốn nớc ngoài. Với số lợng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam năm
2002 là 2,2 triệu ngời, ớc tính chi tiêu tại Việt Nam bình quân 1.000 USD
(không kể tiền vé máy bay), thì mỗi năm nớc ta có nguồn thu 2,2 tỷ USD,

phần lớn rơi vao tay t nhân.
Nguồn thu ngoại tệ từ tiền lơng của ngời Việt Nam làm việc trong các
dự án nớc ngoài hay liên doanh, chơng trình quốc tế, các tổ chức nớc ngoài
tại nớc ta, ớc tính cũng lên tới vài trăm triệu USD hay thanh toán phần lớn
cũng thực hiện trong khối t nhân và liên doanh... tỷ lệ thực sự thu hút vào
ngân hàng không cao.

Trịnh Thị Thu Hà - 3022

14


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

 Ngêi ViÖt Nam đi du lịch nớc ngoài gia tăng nhanh chóng. Các
công ty du lịch đều niêm yết, thông báo, quảng cáo giá các tour du lịch
bằng dollar Mỹ. Do đó muốn đi du lịch phải có ngoại tệ, phải tích trữ dollar
Mỹ. Ngời Việt Nam đi xuất khẩu lao động nớc ngoài phải đặt cọc một
khoản dollar Mỹ trong tài khoản của ngân hàng. Mà số lợng ngời này cũng
tăng lên nhanh chóng trong thời gian qua.Bên cạnh đó, ngời Việt Nam đi du
học nớc ngoài bằng các hình thức khác nhau, chủ yếu là du học tự túc đang
tăng lên gấp bội. Muốn đợc chấp nhận vào học các trờng ở nớc ngoài, ngời
xin học phải chứng minh đợc năng lực tài chính của mình, thể hiện bằng số
d tiền gửi dollar Mỹ trong các ngân hàng ở Việt Nam.Tiếp đến trong quá
trình học,gia đình ở trong nớc thờng xuyên phải chuyển tiền cho con em
mình theo học bằng dollar Mỹ thông qua các ngân hàng. Do đó, phải có số
d tiền gửi dollar Mỹ tại các ngân hàng ®Ĩ chun tiỊn ra níc ngoµi cho con
em du häc.
 Cơ chế chính sách của ta kích thích mạnh, đến mức các NHTM cạnh
tranh sôi động nên đà có lúc đẩy lÃi suất tiền gửi USD lên rất cao, USD

chảy vào NHTM, lấn át VND gây ra hiện tợng thiếu VND để hoạt động.Số
ngoại tệ huy động đợc đà chuyển thẳng gửi vào các ngân hàng nớc ngoài để
hởng chênh lệch lÃi suất lớn. Mới đây, Ngân hàng trung ơng đà cho thả nổi
lÃi suất về ngoại tệ càng tạo điều kiện cho các NHTM thoải mái trong việc
định lÃi suất huy động tiền gửi USD. Đồng dollar đợc đăng quang gây thêm
tâm lý cất giữ và thanh toán, còn có cả kỳ vọng sẽ đợc lợi nhiều về chính
sách phá giá VND dài hạn. Lại thêm việc khuyến khích các doanh nghiệp
trong nớc vay ngoại tệ của các NHTM. Nguồn ngoại tệ này do cácNHTM
huy động đợc đang d thừa gửi ở nớc ngoài. Xét về lợi ích trớc mắt, việc
này thấy có lợi,nhng nhìn vào tầm quản lý vĩ mô thì không ổn. Việc ngân
hàng chấp nhận nhận tiền gửi và cấp tín dụng ngoại tệ ở trong nớc là hợp
pháp hoá thừa nhận đồng ngoại tệ có quyền phát huy đầy đủ các chức năng
tiền tệ, khác nào đó là sự hoàn thiện tình trạng dollar hoá.
IV- ảNH HƯởng của dollar hoá đến nền kinh tế nớc ta

1.

ảnh hởng tích cực của dollar hoá

Nó tạo ra cơ hội tái trung gian trong nền kinh tế khi phải trải qua các
thời kỳ lạm phát rất cao và các điều kiện kinh tế vĩ mô không ổn định, bởi
vì có một lợng lớn dollar Mỹ trong hệ thống ngân hàng, cũng nh không có
tình trạng ngời dân ồ ạt đổ xô dùng nội tệ đi mua dollar Mỹ.
Có một lợng lớn ngoại tệ, các ngân hàng có điều kiện mở rộng các
hoạt động của mình, nhất là hoạt động ngoại hối. Hơn nữa, sự tồn tại các
khoản tiền gửi bằng đồng dollar Mỹ tại các ngân hàng trong nớc tạo công
cụ hội nhập thị trờng trong nớc với thị trờng khu vực và thị trờng thế giới,
giảm thiểu các chi phí giao dịch tài chính quốc tế.
Một lợng lớn dollar Mỹ đợc gửi trong các ngân hàng, tạo thành
nguồn vốn ngoại tệ để cho vay và đầu t cho nền kinh tế, hạn chế việc đi vay

nớc ngoài. Song trong điều kiện cho vay bằng ngoại tệ của các ngân hàng

Trịnh Thị Thu Hà - 3022

15


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

gặp khó khăn, thì với lÃi suất trên thị trờng quốc tế cao, các ngân hàng
trong nớc đem gửi ở nớc ngoài. Rõ ràng là ngời dân cũng đợc hởng lÃi suất
từ lÃi suất lớn hơn là cấtgiữ trong nhà, các ngân hàng cịng cã thu nhËp vỊ
nghiƯp vơ tiỊn gưi vµ cã lợi ích nh phần trên. Quốc gia cũng có thêm nguồn
dự trữ ngoại tệ. Theo số liệu của IMF, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam (đầu
năm 2001) là 3.297 triệu USD, tơng đơng với 9,7 tuần nhập khẩu, có thêm
nguồn ngoại tệ khác gần 2,5 tỷ USD của các ngân hàng trong nớc gửi ở nớc
ngoài và theo số liệu công bố của ADB dự đoán, đến hết năm 2001, con số
này của Việt Nam sẽ tăng lên là 4,66 tỷ USD và 14 tuần nhập khẩu.
2.

ảnh hởng tiêu cực của dollar hoá

Dự trữ ngoại tệ của nhà n ớc khó tăng do trốn thoát vốn : Số lợng
USD của t nhân, cơ quan hay doanh nghiệp đà biến thành phơng tiện cất trữ
thì nhà nớc chẳng sử dụng đợc nữa. Trong lúc dự trữ ngoại tệ tại ngân hàng
thơng mại còn ít ỏi thì lợng ngoại tệ của các ngân hàng thơng mại gửi ra nớc ngoài lại rất lớn. Rõ ràng là dollar hoá đi cùng với sự chạy trốn vốn bao
gồm cả nghĩa xuất khẩu t bản. Đó là một sự lẩn tránh việc tạo lập tài sản
danh nghĩa bằng đồng bản tệ.
Trong bài của tiến sĩ Hajo Riese - Trờng Đại học tự do Berlin phát
biểu trong một cuộc Hội thảo ở Việt Nam năm 1986,(trang 157 - 196) cuốn

sách " Lý thuyết về lạm phát " - NXB Tuybimben của Đức đà nêu : " Xuất
khẩu t bản không phải là một khái niệm về địa lý, mà thuộc về chức năng
xuất khẩu miêu tả sự chuyển đổi tiền tệ của mình ra ngoại tệ. Số ngoại tệ
này không do Ngân hàng trung ơng nắm giữ, bất kể liệu đồng nhoại tệ ấy đợc cất giữ dới gối đầu giờng hay gửi vào hệ thống ngân hàng trong nớc
hoặc nớc ngoài ".
Dollar hoá càng nặng, đồng bản tệ trở thành đồng tiền chuyển đổi
còn xa vời : Sự khác nhau giữa đồng tiền mạnh và đồng tiền yếu là dựa trên
cơ sở sự ổn định danh nghĩa của nó. Tiêu thức này liên quan đến chức năng
làm phơng tiện cất giữ và thanh toán. ở Việt Nam dollar hoá làm cho VND
bị lấn át về chức năng này, nếu không sớm kiềm chế và đẩy lùi, đến lúc nào
đó sẽ làm mất vai trò của Ngân hàng trung ơng. Xét về bên trong với đồng
bản tệ thì Ngân hàng trung ơng không bao giờ thiếu khả năng thanh toán,
nhng lại rất có thể xảy ra với ngoại tệ đối với bên ngoài. Vì lẽ đó mà có
nhiều nớc đang phát triển không phải ngẫu nhiên mà họ thực hiện chính
sách kiềm chế dollar hoá để bảo vệ đồng bản tệ. Họ có những giải pháp
không khuyến khích gửi ngoại tệ vào ngân hàng, không cho vay ngoại tệ
trong nớc. Cần ngoại tệ để thanh toán quốc tế thì mua tại các ngân hàng thơng mại, thiếu đồng bản tệ thì vay để mua ngoại tệ... Tất cả đều hớng vào
mua bán ngoại tệ nên thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng hoạt động mạnh.
Nếu dollar hoá còn tiếp diễn, đồng bản tệ khó đóng đợc vai trò làm đồng
tiền chuyển đổi.
Dollar hoá càng tăng, thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng càng tẻ nhạt:
Bởi thị trờng này chủ yếu là mua bán ngoại tệ. Nhng dollar hoá làm cho l-

Trịnh Thị Thu Hµ - 3022

16


Website: Email : Tel (: 0918.775.368


ợng ngoại tệ bị sức hút vào cất giữ trên các tài khoản của ngân hàng thơng
mại . Lợng ngoại tệ này cũng là vốn khả dụng mà chủ sở hữu là ngời gửi
tiền nên ngân hàng thơng mại không thể đa ra thị trờng liên ngân hàng để
mua bán mà đợc. Mặt khác, các ngân hàng thơng mại lại cho vay trực tiếp
bằng ngoại tệ, rất ít liên quan đến thị trờng mua bán ngoại tệ. Ngân hàng
trung ơng sử dụng phơng tiện mua và bán kiểm soát, can thiệp thị trờng, nhng một lợng ngoại tệ lớn vận động lại không qua thị trờng này nên không
thể nào làm sôi động lên đợc.
Dollar hoá gây trở ngại cho Ngân hàng rung ơng về kiểm soát, điều
tiết nguồn vốn khả dụng : Việc kiểm soát lợng tiền cung ứng qua thị trờng
mua bán ngoại tệ , Ngân hàng trung ơng dùng phơng tiện của thị trờng để
điều tiết cung cầu ngoại tệ, mua ngoại tệ vào dự trữ là thay đồng bản tệ ra lu
thông thị trờng, khi bán ngoại tệ ra là thu hồi lại đồng bản tệ về. Động tác
này tuy không làm thay đổi tổng phơng tiện thanh toán (M=MVND + MUSD),
chỉ là một sự chuyển dịch giữa hai đồng tiền, nhng lại có ý nghĩa tác động
đến cung cầu ngoại tệ, có liên quan đến biến đổi tỷ giá hối đoái, và điều
quan trọng là qua trạng thái chuyển đổi này, Ngân hàng tung ơng mới nắm
đợc tơng đối chính xác về tổng phơng tiện thanh toán (M2). Rất tiếc vì
dollar hoá làm cho thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng của chúng ta hoạt động
không đầy đủ, công cụ của chính sách tiền tệ về lĩnh vực này không có cơ
hội hoạt động tốt.
Dollar hoá làm giảm tác dụng của chính sách tỷ giá khuyến khích
xuất khẩu : Chính sách phá giá đồng bản tệ là hạ thấp giá trị của nó đế cho
các nhà xuất khẩu khi thu đợc ngoại tệ chuyển đổi qua tiền bản tệ sẽ đợc hởng một giá trị lớn hơn cộng thêm lÃi xuất tiền gửi đồng bản tệ hấp dẫn, thu
nhập của các nhà xuất khẩu tăng cao tạo ra khả năng cạnh tranh giá cả hàng
hoá trên thị trờng quốc tế có lợi về mình. Nhng vì dollar hoá thu hút sự cất
giữ và thanh toán bằng ngoại tệ vẫn có lợi, các nhà xuất khẩu không muốn
bán ngoại tệ cho ngân hàng dẫn đến chính sách tỷ giá kém hiệu lực.
Dollar hoá còn diễn biến, chủ tr ơng đi đến thả nổi tỷ giá có sự quản
lý của Nhà nớc khó thực hiện : Nh trên đà nêu, dollar hoá làm cho thị trờng
mua bán ngoại tệ liên ngân hàng thiếu điều kiện hoạt động, tỷ giá không

hoạt động đúng cung cầu của cạnh tranh, lực lợng dự trữ ngoại tệ mỏng
manh, Ngân hàng trung ơng cha đủ sức can thiệp và kiểm soát, những điều
kiện còn thiếu nên rất khó rhực hiện chính sách thả nổi tỷ giá hối đoái để
chuyển công cụ quản lý trực tiếp qua công cụ quản lý gián tiếp.
V-

CáC GIảI PHáP KHắC PHụC TìNH TRạNG DOLLAR HOá ở nớc ta

Dollar hoá càng kéo dài, cái giá phải trả ngày càng đắt. Vì vậy chính
lúc này chúng ta phải đa ra các giải pháp nhằm kiềm chế, đẩy lùi và đi đến
chấm dứt dollar hoá. Do đó, cần phải giải quyết vấn đề cơ bản là thúc đẩy
tăng trởng kinh tế một cách bền vững, củng cố tính vững mạnh của hệ
thống ngân hàng, qua đố củng cố lòng tin của dân chúng vào đồng bản tệ ;
tăng cờng vai trò kiểm soát tiền tệ của NHNN, tăng dự trữ ngoại tệ ; cần

Trịnh Thị Thu Hà - 3022

17


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

thùc hiƯn nh÷ng bớc đi tích cực trong việc đổi mới chính sách lÃi xuất và
chính sách tỷ giá , tạo điều kiện đủ và cần thiết để tiến tới tự do hoá lÃi xuất
và tỷ giá ở Việt Nam.
Việc giải quyết tình trạnh dollar hoá không thể thực hiện ngay một lúc
mà cần đợc tiến hành từng bớc, theo từng giai đoạn cụ thể với những biện
pháp thích hợp và phải có sự phối kết hợp giữa các bộ, nghành. Kết hợp các
biện pháp kinh tế với các biện pháp hành chính phù hợp với diều kiện kinh
tế xà hội cuả đất nớc trong từng thời kỳ và xuất phát từ những nguyên nhân

gây ra tình trạng dollar hoá.
Dới đây là một số giải pháp để kiềm chế, đẩy lùi tình trạng dollar hoá
ở nớc ta, cụ thể là :
Thiết chế một chính sách lÃi suất nhằm tạo ra chênh lệch lÃi suất
thực dơng giữa tiền gửi VND có lÃi suất cao hơn tiền gửi USD. Theo một lịch
trình hạ lÃi suất tiền gửi USD xuống dần cho đến điểm bằng không. LÃi xuất
tiền gửi VND phải tính cả độ tin cậy z của USD để bf đắp cho VND mới đủ
sức hấp dẫn. Cuối cùng, các khách hàng muốn gửi ngoại tệ vào ngân hàng
thơng mại vẫn không bị hạn chế, không từ chối hoặc cấm đoán, nhng không
còn đợc hởng lÃi suất. Đối với tiền gửi ngoại tệ trớc đây đang trong thời hạn
vẫn đợc hởng lÃi suất nh cũ cho đến khi hết thời hạn.
Xoá bỏ tâmm lý mong đợi tiếp tục phá giá VND so với USD, giải
pháp này không thể bàn công khai đợc.
Công cụ chính sách kích thích lợi ích thu hút đợc mọi ngời hớng vào
cất giữ và thanh toán bằng VND, lúc ấy ngay các nhà xuất khẩu cũng
không muốn găm giữ ngoại tệ, chẳng cần quy định tỷ lệ kết hối mà họ vẫn
tự nguyện chuyển ngoại tệ thu đợc qua tài khoản VND để hởng lÃi suất có
lợi hơn. Việc mua và bán ngoại tệ qua hệ thống Ngân hàng trung ơng sẽ gia
tăng, cơ cấu tiền gửi ngoại tệ trên cân đối tài sản của hệ thống ngân hàng
thơng mại sẽ thay đổi. Thị trờng mua bán ngoại tệ liên ngân hàng sôi động
lên, không khí cạnh tranh trên thị trờng đợc hâm nóng, cung cầu ngoại tệ
phản ánh thực chất tỷ giá hối đoái. Ngân hàng trung ơng có điều kiện tham
gia thị trờng để điều tiết, phân bổ vốn có hiệu quả, tạo ra khả năng để tăng
nguồn ngoại tệ dự trữ của nhà nớc.
Các ngân hàng luôn luôn ứng xử dễ dàng, đáp ứng kịp thời cho
khách hàng về nhu cầu ngoại tệ thanh toán quốc tế, đừng để khách hàng
quá lolắng về việc này. Nhng cũng phải có chế tài nghiêm khắc để chống
việc sử dụng ngoại tệ nhập các loại hàng không cần thiết.
Ngân hàng trung ơng sử dụng giải pháp nghiệp vụ quy định tỷ lệ hạn
mức của trạng thái hối đoái cho từng ngân hàng thơng mại có hoạt động

kinh doanh ngoại tệ phù hợp với thông lệ quốc tế, không loại trừ ngoại tệ
huy động qua tiền gửi ra khỏi cơ chế này. Số ngoại tệ d thừa vợt mức phải
bán qua thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng để điều hoà cung và cầu. Giải
pháp này sẽ tác động rất mạnh đến các, ngân hàng thơng mại, ngân hàng
nào vẫn cố tình huy động tiền gửi ngoại tệ và cho vay bằng ngoại tệ trong

Trịnh Thị Thu Hµ - 3022

18


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

níc sÏ gỈp nhiều điều bất lợi, nên các ngân hàng thơng mại phải tự phải tự
chuyển hớng qua mua bán ngoại tệ có lợi hơn. Nguồn huy động ngoại tệ
dần dần bị triệt tiêu dẫn đến nguồn vồn ngoại tệ để cho vay cũng không
còn. Các doanh nghiệp cần ngoại tệ để thanh toán quốc tế thì sử dụng VND
để mua, nếu thiếu VND thì vay VND rồi mua ngoại tệ tại các ngân hàng thơng mại để mở L/C(th tín dụng) với nớc ngoài. Hàng hoá nhập về bán ra thu
VND và trả nợ ngân hàng thơng mại cũng bằng VND, cách vận hành này
vẫn trôi chảy mà lại tránh rủi ro về ngoại tệ.
Các chi nhánh ngân hàng nớc ngoài cũng đợc tháo bỏ hạn chế
hoạtđộng VND, đa họ vào quỹ đạo của các cơ chế nói trên để quản lý thống
nhất.
Điều hành tỷ giá cần linh hoạt hơn, chứa đựng nhiều yếu tố thị trờng
hơn :
Mở rộng biên độ giaodịch trên thị trờng ngoại hối để vừa đảm bảo
sự kiểm soát của Ngân hàng nhà nớc, vừa phù hợp với cung cầu thị trờng
mà không gây tâm lý chờ đợi về việc giảm giá VND.
Thay cho việc chỉ gắn với dollar Mỹ nh trớc đây, tỷ giá của VND
cần phải dựa trên cơ sở một rổ ngoại tƯ(bao gåm mét sè ngo¹i tƯ m¹nh nh

USD, EURO, JPY và một số đồng tiền của các nớc trong khu vực nh Trung
quốc, Thái lan, Indonesia...), các đồng tiền này tham gia vµo rỉ tiỊn tƯ theo
tû träng quan hƯ thơng mại và đầu t với Việt Nam. Việc xác định tỷ giá nh
trên nhằm giảm bớt sự lệ thuộc của VND vào USD và phản ánh sát thực hơn
quan hệ cung cầu trên thị trờng, trên cơ sở có tính đến xu hớng biến động
các đồng tiền của các nớc bạn hàng lớn.
Còn nhiều lĩnh vực khác nữa cần phải phối hợp đồng bộ nh tăng xuất
nhập khẩu, thu hẹp nhập siêu, thăng bằng cán cân thanh toán, thu hẹp các
đói tợng bán hàng hoá và dịch vụ trong nớc thu bằng ngoại tệ, không để
tình trạng tuỳ tiện, tràn lan nh hiện nay, chống buôn lậu... và rất nhiều việc
phải bàn tiếp kỹ hơn.
Cuối cùng, hiện tợng dollar hoá sẽ phải triệt tiêu, thị trờng ngoại tệ
liên ngân hàng sẽ hoạt động tốt, dự trữ ngoại tệ của Nhà nớc nhất định sẽ
tăng lên, Ngân hàng trung ơng có đièu kiện đủ sức điều tiết phân bổ vốn có
hiệu quả và giữ vững chính sách tỷ giá có lợi cho xuất khẩu. Với môi trờng
ấy rất thuận lợi để chuyển qua áp dụng cơ chế thả nổi tỷ giá hối đoái có sự
quản lý của Nhà nớc.

Trịnh Thị Thu Hà - 3022

19


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

KÕt ln
Lỵi Ých hay tác hại của việc dollar hoá đối với một nền kinh tế phụ
thuộc vào tác động của nó đến nền kinh tế. Hơn nữa, toàn cầu hoá thị trờng
tài chÝnh cịng cã thĨ kÐo theo dollar ho¸. Dollar ho¸ xuất phát từ việc công
chúng lựa chọn ngoại tệ nh là một đơn vị tiền tệ trong thanh toán trao đổi,

hình thức thay thế đồng tiền sẽ nguy hại đến nền kinh tế. Trong trờng hợp
này, nền kinh tế bị phụ thuộc vào bên ngoài nhiều hơn hay các tác động của
các cú sốc bên ngoài sẽ tác động lớn tới nền kinh tế. Dollar hoá bao trùm cả
ba chức năng của tiền tệ : thớc đo giá trị, cất trữ và thanh toán. Nh vậy,
dollar hoá là một hiện tợng kinh tế khách quan chỉ mang tính lịch sử. Chính
vì vậy, các nớc theo chính sách thị trờng mở ngời ta không cứng nhắc dùng
pháp luật hành chính để xoá bỏ khi cha hội đủ những điều kiện kinh tế - xÃ
hội khách quan cho phép. Đảng và Chính phủ ta nhận thức rõ vấn đề này
nên chủ trơng xoá bỏ dollar hoá. Chủ trơng này đợc thực hiện ở từng khâu,
từng bớc nằm trong tiến trình chung của nỗ lực ổn định và phát triển kinh tế
- xà hội. Việc xoá bỏ nó không thể thực hiện một cách sạch trơn, triệt để
mà có khâu chúng ta xoá bỏ, lại có khâu chúng ta cha, thậm chí việc xoá bỏ
chỉ thực hiện đối với các đối tợng là tổ chức pháp nhân, còn với đối tợng
dân c và t nhân, khi có việc vẫn đợc phép duy trì trong một khâu nào đó.
Dollar hoá là hiện tợng kinh tế - xà hội khách quan, điều đó không có
nghĩa nó đợc phép tồn tại ngoài khuôn khổ pháp luật. Tất cả đều phải đợc
thể chế bằng pháp luật. Vì lơi ích quốc gia, nhà nớc có vai trò điều chỉnh
quá trình dollar hoá. Tất nhiên quyết định của nhà nớc không đợc duy ý chí,
mà phải phù hợp với ®iỊu kiƯn kinh tÕ - x· héi kh¸ch quan.
Cã thĨ nói, đây là một vấn đề mang tính khoa học khá phức tạp và nhạy
cảm. Dollar hóa cũng nh các vấn đề về chính sách tiền tệ khác, không phải
bao giờ cũng có câu trả lời rõ ràng. Do vậy cần cân nhắc kỹ lỡng những đợc,
mất trong từng chính sách cụ thể để có sự lựa chọn thích hợp. Trong phạm vi
một đề án, có thể em cha đa ra đợc các ý kiến nhận xét, đánh giá vấn đề này
một cách đầy đủ, tổng quát và không thể tránh khỏi những thiếu sót, vậy nên
em rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp bổ xung của các thầy cô để
bài viết lần sau của em đợc hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !

Trịnh Thị Thu Hµ - 3022


20



×