Tải bản đầy đủ (.doc) (64 trang)

ĐỀ TÀI TÌM HIỂU MỘT SỐ MÔ HÌNH GIAO DỊCH TMĐT VÀ XÂY DỰNG ỨNG DỤNG B2C

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.58 MB, 64 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
o0o
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐỀ TÀI
TÌM HIỂU MỘT SỐ MÔ HÌNH GIAO DỊCH
TMĐT VÀ XÂY DỰNG ỨNG DỤNG B2C
Sinh viên thực hiện : Tạ Thị Phương Huế(CN.Đề tài)
Vũ Thị Trang
Nguyễn Thị Kim Tuyến
Giáo viên hướng dẫn : Vũ Xuân Nam
Thái Nguyên, Tháng 11 năm 2010
Đề tài NCKH Giáo viên hướng dẫn: Vũ Xuân Nam
LỜI NÓI ĐẦU
Đặt vấn đề
Trong thế kỷ mà công nghệ liên tục phát triển, các doanh nghiệp cần những
chiến lược nào, những phương pháp điều hành nào? Các câu hỏi cơ bản nhất này có
thể được đặt ra, vì thị trường thế giới đang ở một thời kỳ chuyển biến sôi động nhất
của lịch sử.
Kéo theo đó việc kinh doanh trực tuyến đã thay đổi, thế giới Internet đã tiến
bộ đáng kể. Trong kỷ nguyên mới này, nếu bạn muốn thành công thì chính bạn cũng
cần phải thay đổi.
Ngày nay, Internet đã và đang ngày càng phát triển mạnh mẽ. Trong đó
Website - một sản phẩm công nghệ tuyệt vời của Internet - đã mang lại lợi ích cho
các công ty trên khắp thế giới bằng cách đem lại cơ hội cho họ bán mọi thứ ở bất kỳ
đâu và cho bất kỳ ai. Đó chính là phương thức giao dịch Thương mại điện tử
(TMĐT)- một phương thức kinh doanh mới mẻ và hiện đại đã và đang được áp dụng
và phát triển rất nhanh ở nước ta.
Các doanh nghiệp tên tuổi đều có website và tạo dựng được uy tín của mình
không chỉ trong đời sống mà còn ở trên cộng đồng ảo. Nếu không có website, doanh


nghiệp sẽ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội tốt bởi những khách hàng tiềm năng trên thị trường
trong và ngoài nước.
Website đóng vai trò kênh truyền thông và công cụ kinh doanh hàng đầu cho
mỗi doanh nghiệp, nó mang lại những lợi thế không thể phủ nhận. Vì thế xây dựng
website cho công ty là một công việc quan trọng đến nỗi trở thành tiêu điểm đầu tiên
của mỗi kế hoạch kinh doanh. Sau đây là những lý do dễ thấy nhất về tầm quan
trọng của website
* Tạo thương hiệu riêng của doanh nghiệp mình trên internet, tạo cơ hội tiếp xúc với
khách hàng ở mọi nơi và tại mọi thời điểm.
* Có thể giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ một cách sinh động và mang tính tương
tác cao.
* Tạo cơ hội để bán sản phẩm hàng hóa một cách chuyên nghiệp mà tiết kiệm được
2
Đề tài NCKH Giáo viên hướng dẫn: Vũ Xuân Nam
chi phí
* Cơ hội phục vụ khách hàng tốt hơn, đạt được sự hài lòng lớn hơn từ khách hàng.
* Tạo một hình ảnh chuyên nghiệp trước công chúng, công cụ hiệu quả để thực hiện
các chiến dịch PR và marketing.
* Và đơn giản không có web site là một nguyên nhân thất bại của doanh nghiệp.
Chính vì thế việc tìm hiểu và xây dựng một website thương mại điện tử hiện
nay là thực sự cần thiết. Thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cách mạng
làm thay đổi cách thức mua sắm của con người. Và nó có một ý nghĩa rất quan trọng
tới sự phát triển của nền kinh tế nước ta.
Mục tiêu đề tài
Nắm vững kiến thức về Thương Mại Điện Tử(TMĐT), các hình thức và mô
hình giao dịch trong TMĐT, hiểu được sự khác biệt giữa phương thức kinh doanh
truyền thống và hình thức kinh doanh có áp dụng phương tiện điện tử , từ đó rút ra
được sự khác biệt và sự nổi trội của phương thức giao dịch bằng TMĐT để có được
những kinh nghiệm, thuận tiện cho việc áp dụng vào thực tiễn. Qua đó, biết được
cách thức xây dựng một sàn giao dịch TMĐT, tìm ra thông tin và kiến thức về các

mối quan hệ giữa người tiêu dùng, sản phẩm, phương ph áp đặt hàng, giao hàng và
nhận hàng giữa khách hàng và doanh nghiệp.Và xây dưng chương trình thử nghiệm
sàn giao dịch Thương mại điện tử.
Tiếp đó, tìm hiểu và nghiên cứu ngôn ngữ lập trình PHP và mysql- một kịch
bản trình chủ mã nguồn mở được sử dụng để phát triển ứng dụng thương mại điện tử
kết hợp với cơ sở dữ liệu MySQL rất mạnh mẽ và rất thịnh hành hiện nay, thích hợp
cho nhiều dự án và được hầu hết các công ty phát triển ứng dụng Web chọn lựa để
tạo ra các Web site phục vụ cho doanh nghiệp trong nước lẫn gia công cho công ty
nước ngoài, qua đó ứng dụng vào việc xây dựng một sàn giao dịch TMĐT giữa
doanh nghiệp và khách hàng ở Việt Nam , xây dựng thêm một số tính năng mới
trong giao dịch
Nội dung thực hiện:
. -Tìm hiểu tổng quan về Thương mại điện tử.
-Tìm hiểu ngôn ngữ lập trình PHP&MYSQL
3
Đề tài NCKH Giáo viên hướng dẫn: Vũ Xuân Nam
- Tìm hiểu mô hình giao dich giữa doanh nghiệp với khách hàng và các vấn đề
liên quan.
-Khảo sát, thu thập dữ liệu và thiết kế khung chương trình ứng dụng.
-Viết báo cáo tóm tắt và tổng kết để chuẩn bị nghiệm thu.
Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu một cách tổng quan nhất về TMĐT
- Tìm hiểu về mô hình TMĐT giữa doanh nghiệp và khác hàng
- Sau đó tìm những tài liệu và ngôn ngữ lập trình php và mysql
Cấu trúc của báo cáo gồm: 5 chương
Chương 1: Tổng quan về TMĐT
Chương 2: Tìm hiểu mô hình giao dịch thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và
khách hàng.
Chương 3: Các công cụ hỗ trợ
Chương 4 :Chương trình thực nghiệm

Chương 5: Tổng kết và hướng phát triển
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TMĐT
1.1 Khái niêm thương mại điện tử
Thương mại điện tử là hình thức mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua
mạng máy tính tòan cầu.
Theo nghĩa rộng, có thể thấy rằng phạm vi của Thương mại điện tử rất rộng,
- Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu liên quan để thuận tiện cho quá trình nghiên
cứu
- Tiến hành cài đặt một sàn giao dịch giữa doanh nghiệp và khách hàng bằng
ngôn ngữ php và mysql
4
Đề tài NCKH Giáo viên hướng dẫn: Vũ Xuân Nam
bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, việc mua bán hàng hóa và dịch vụ
chỉ là một trong hàng ngàn lĩnh vực áp dụng của Thương mại điện tử. Theo nghĩa
hẹp thương mại điện tử chỉ gồm các hoạt động thương mại được tiến hành trên
mạng máy tính mở như Internet. Trên thực tế, chính các hoạt động thương mại thông
qua mạng Internet đã làm phát sinh thuật ngữ Thương mại điện tử.
Thương mại điện tử gồm các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ qua
phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện
tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết
kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tuyến tới người tiêu dùng và
các dịch vụ sau bán hàng. Thương mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mại
hàng hóa (ví dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại
dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các
hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khỏe, giáo dục ) và các hoạt động mới
(ví dụ như siêu thị ảo). Thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cách mạng
làm thay đổi cách thức mua sắm của con người.
1.2. Các loại thị trường TMĐT
Cửa hàng trên mạng (Electronic storefronts) - là một Website của một doanh
nghiệp dùng để bán hàng hoá và dịch vụ qua mạng thông qua các chức năng của

Website. Thông thường Website đó gồm: Catalogs điện tử, Cổng thanh toán, Công
cụ tìm kiếm , Vận chuyển hàng, Dịch vụ khách hàng, Giỏ mua hàng. Hỗ trợ đấu giá
hoặc Cửa hàng/ siêu thị.
Siêu thị điện tử (e-malls) – là một trung tâm bán hàng trực tuyến trong đó có nhiều
cửa hàng điện tử. Người ta có thể phân loại: Siêu thị tổng hợp – là một chợ điện tử
trong đó bán tất cả các loại hàng hoá, kết hợp siêu thị chuyên dụng chỉ bán một
số loại sản phẩm thị hoàn toàn trực tuyến hoặc
Sàn giao dịch (E-marketplaces) — là thị trường trực tuyến thông thường là
B2B, trong đó người mua và người bán có thể đàm phán với nhau, có một doanh
nghiệp hoặc một tổ chức đứng ra sở hữu.
Có thể phân ra 3 loại sàn giao dịch TMĐT:
5
Đề tài NCKH Giáo viên hướng dẫn: Vũ Xuân Nam
- Sàn giao dịch TMĐT riêng do một công ty sở hữu: Công ty bán các sản phẩm tiêu
chuẩn và sản phẩm may đo theo yêu cầu của công ty đó. Công ty mua là các công ty
đặt mua hàng công ty bán
- Sàn giao dịch TMĐT chung: là một chợ B2B thường do một bên thứ 3 đứng ra tổ
chức tập hợp các bên bán và mua để trao đổi mua bán với nha
- Sàn giao dịch TMĐT chuyên ngành- Consortia: Là tập hợp các người mua và
bán trong một ngành công nghiệp duy nhất
Cổng thông tin (Portal) là một điểm truy cập thông tin duy nhất để thông qua
trình duyệt có thể thu nhận các loại thông tin từ bên trong một tổ chức. Người ta
có thể phân loại cổng thông tin là nơi để tìm kiếm thông tin cần thiết, cổng giao tiếp
là nơi các doanh nghiệp có thể gặp gỡ và trao đổi mua bán hàng hoá và dịch vụ và
cao nhất là cổng giao dịch trong đó doanh nghiệp có thể lấy thông tin, tiếp xúc và
tiến hành giao dịch.
1.3. Các đặc trưng của TMĐT
So với các hoạt động Thương mại truyền thống, thương mại điện tử có một số
điểm khác biệt cơ bản sau:
1.3.1 Các bên tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử không tiếp xúc trực

tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước.
Trong Thương mại truyền thống, các bên thương gặp gỡ nhau trực tiếp để
tiến hành giao dịch. Các giao dịch được thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc vât lý
như chuyển tiền, séc hóa đơn, vận đơn, gửi báo cáo. Các phương tiện viễn thông
như: fax, telex, chỉ được sử dụng để trao đổi số liệu kinh doanh. Tuy nhiên, việc
sử dụng các phương tiện điện tử
trong thương mại truyền thống chỉ để chuyển tải thông tin một cách trực tiếp giữa
hai đối tác của cùng một giao dịch.
Thương mại điện tử cho phép mọi người cùng tham gia từ các vùng xa xôi
6
Đề tài NCKH Giáo viên hướng dẫn: Vũ Xuân Nam
hẻo lánh đến các khu vực đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở khắp mọi
nơi đều có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu và không
đòi hỏi nhất thiết phải có mối quen biết với nhau.
1.3.2 Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của khái
niệm biên giới quốc gia, còn thương mại điện tử được thực hiện trong một thị
trường không có biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu). Thương mại điện tử
trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu.
Thương mại điện tử càng phát triển, thì máy tính cá nhân trở thành cửa sổ cho
doanh nghiệp hướng ra thị trường trên khắp thế giới. Với thương mại điện tử, một
doanh nhân dù mới thành lập đã có thể kinh doanh ở Nhật Bản, Đức và Chilê , mà
không hề phải bước ra khỏi nhà, một công việc trước kia phải mất nhiều năm.
1.3.3. Trong hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham ra của ít nhất
ba chủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được là người cung cấp dịch vụ
mạng, các cơ quan chứng thực.
Trong Thương mại điện tử, ngoài các chủ thể tham gia quan hệ giao dịch
giống như giao dịch thương mại truyền thống đã xuất hiện một bên thứ ba đó là nhà
cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực… là những người tạo môi
trường cho các giao dịch thương mại điện tử. Nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ
quan chứng thực có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham

gia giao dịch thương mại điện tử, đồng thời họ cũng xác nhận độ tin cậy của các
thông tin trong giao dịch thương mại điện tử.
1.3.4 Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện để
trao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin chính là thị
trường
7
Đề tài NCKH Giáo viên hướng dẫn: Vũ Xuân Nam
Thông qua Thương mại điện tử, nhiều loại hình kinh doanh mới được hình
thành. Ví dụ: các dịch vụ gia tăng giá trị trên mạng máy tính hình thành nên các nhà
trung gian ảo làm các dịch vụ môi giới cho giới kinh doanh và tiêu dùng; các siêu thị
ảo được hình thành để cung cấp hàng hóa và dịch vụ trên mạng máy tính.
Các trang Web khá nổi tiếng như Yahoo! America Online hay Google đóng
vai trò quan trọng cung cấp thông tin trên mạng. Các trang Web này đã trở thành các
“khu chợ” khổng lồ trên Internet. Với mỗi lần nhấn chuột, khách hàng có khả năng
truy cập vào hàng ngàn cửa hàng ảo khác nhau và tỷ lệ khách hàng vào hàng ngàn
các cửa hàng ảo khác nhau và tỷ lệ khách hàng vào thăm rồi mua hàng là rất cao.
Người tiêu dùng đã bắt đầu mua trên mạng một số các loại hàng trước đây được
coi là khó bán trên mạng. Nhiều người sẵn sàng trả thêm một chút tiền còn hơn là
phải đi tới tận cửa hàng. Một số công ty đã mời khách may đo quần áo trên mạng,
tức là khách hàng chọn kiểu, gửi số đo theo hướng dẫn tới cửa hàng (qua Internet)
rồi sau một thời gian nhất định nhận được bộ quần áo theo đúng yêu cầu của mình.
Điều tưởng như không thể thực hiện được này cũng có rất nhiều người hưởng ứng.
Các chủ cửa hàng thông thường ngày nay cũng đang đua nhau đưa thông tin
lên Web để tiến tới khai thác mảng thị trường rộng lớn trên Web bằng cách mở cửa
hàng ảo
8
Hình 3: các loại giao dịch B2B trong TMĐT
1.4. Các cơ sở để phát triển TMĐT và các loại giao dịch TMĐT
Để phát triển TMĐT cần phải có hội đủ một số cơ sở:
− Hạ tầng kỹ thuật internet phải đủ nhanh, mạnh đảm bảo truyền tải các nội dung

thông tin bao gồm âm thanh, hình ảnh trung thực và sống động. Một hạ tầng internet
mạnh cho phép cung cấp các dịch vụ như xem phim, xem TV, nghe nhạc v.v. trực
tiếp. Chi phí kết nối internet phải rẻ để đảm bảo số người dùng internet phải lớn.
− Hạ tầng pháp lý: phải có luật về TMĐT công nhận tính pháp lý của các chứng
từ điện tử, các hợp đồng điện tử ký qua mạng; phải có luật bảo vệ quyền sở hữu trí
tuệ, bảo vệ sự riêng tư, bảo vệ người tiêu dùng v.v. để điều chỉnh các giao dịch qua
mạng
− Phải có cơ sở thanh toán điện tử an toàn bảo mật. Thanh toán điện tử qua thẻ,
qua tiền
điện tử, thanh toán qua EDI. Các ngân hàng phải triển khai hệ thống thanh toán điện
tử rộng khắp
− Phải có hệ thống cơ sở chuyển phát hàng nhanh chóng, kịp thời và tin cậy
− Phải có hệ thống an toàn bảo mật cho các giao dịch, chống xâm nhập trái phép,
chống virus, chống thoái thác
− Phải có nhân lực am hiểu kinh doanh, công nghệ thông tin, thương mại điện tử
để triển khai tiếp thị, quảng cáo, xúc tiến, bán hàng và thanh toán qua mạng
Các loại hình giao dịch TMĐT
Trong TMĐT có ba chủ thể tham gia: Doanh nghiệp (B) giữ vai trò động lực
phát triển TMĐT, người tiêu dùng (C) giữ vai trò quyết định sự thành công của
TMĐT và chính phủ (G) giữ vai trò định hướng, điều tiết và quản lý. Từ các mối
quan hệ giữa các chủ thể trên ta có các loại giao dịch TMĐT: B2B, B2C, B2G,
C2G, C2C trong đó B2B và B2C là hai loại hình giao dịch TMĐT quan trọng
nhất.
Business-to-business (B2B) : Mô hình TMĐT giữa các doanh nghiệp với doanh
nghiệp.
TMĐT B2B (Business-to-business) là việc thực hiện các giao dịch giữa các
doanh nghiệp với nhau trên mạng. Ta thường goi là giao dịch B2B. Các bên
tham gia giao dịch B2B gồm: người trung gian trực tuyến (ảo hoặc click-and-
mortar), người mua và người bán. Các loại giao dịch B2B gồm: mua ngay theo
yêu cầu khi giá cả thích hợp và mua theo hợp đồng dài hạn, dựa trên đàm phán cá

nhân giữa người mua và người bán.
Các loại giao dịch B2B cơ bản:
− Bên Bán — (một bên bán nhieu bên mua) là mô hình dựa trên công
nghệ web trong đó môt cty bán cho nhiều cty mua. Có 3 phương pháp bán trực
tiếp trong mô hình này: Bán từ catalog điện tử, Bán qua quá trình đấu giá, Bán
theo hợp đồng cung ứng dài hạn đã thoả thuận trước. Cty bán có thể là nhà san xuất
loại click-and-mortar hoặc nhà trung gian thông thường là nhà phân phối hay đại lý
− Bên Mua — một bên mua - nhiều bên bán
− Sàn Giao Dich — nhiều bên bán - nhiều bên mua
− TMĐT phối hợp — Các đôi tác phôi hợp nhau ngay trong quá trình
thiết kế chế tạo sản phẩm
Business-to-consumer (B2C): Mô hình TMĐT giữa doanh nghiệp và người tiêu
dùng.
Đây là mô hình bán lẻ trực tiếp đến người tiêu dùng. Trong TMĐT, bán lẻ
điện tử có thể từ nhà sản xuất, hoặc từ một cửa hàng thông qua kênh phân phối.
Hàng hoá bán lẻ trên mạng thường là hàng hoá, máy tính, đồ điện tử, dụng cụ thể
thao, đồ dùng văn phòng, sách và âm nhạc, đồ chơi, sức khoẻ và mỹ phẩm, giải trí
v.v.
Mô hình kinh doanh bán lẻ có thể phân loại theo quy mô các loại hàng hoá
bán (Tổng hợp, chuyên ngành), theo phạm vi địa lý (toàn cầu , khu vực ), theo kênh
bán (bán trực tiếp, bán qua kênh phân bố).
Một số hình thức các cửa hàng bán lẻ trên mạng: Brick-and-mortar là loại cửa
hàng bán lẻ kiểu truyền thống, không sử dụng interne, Click-and-mortar là loại
cửa hàng bán lẻ truyền thống nhưng có kênh bán hàng qua mạng và cửa hàng ảo là
cửa hàng bán lẻ hoàn toàn trên mạng mà không sử dụng kênh bán truyền thống.
Hai loại giao dịch trên là giao dịch cơ bản của TMĐT. Ngoài ra trong
TMĐT người ta còn sử dụng các loại giao dịch: Govement-to-Business (G2B) là mô
hình TMĐT giữa doanh nghiệp với cơ quan chính phủ, Government-to-citizens
(G2C) là mô hình TMĐT giữa các cơ quan chính phủ và công dân còn goi là chính
phủ điện tử, consumer-to- consumer (C2C) là mô hình TMĐT giữa các người tiêu

dùng và mobile commerce (m- commerce) là TMĐT thực hiện qua điện thoại di
động.
1.5. Các hình thức hoạt động chủ yếu của Thương mại điện tử
1.5.1. Thư điện tử
Các doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước, sử dụng thư điện tử để gửi thư
cho nhau một cách “trực tuyến” thông qua mạng, gọi là thư điện tử (electronic mail,
viết tắt là e-mail). Thông tin trong thư điện tử không phải tuân theo một cấu trúc
định trước nào.
1.5.2. Thanh toán điện tử
Thanh toán điện tử (electronic payment) là việc thanh toán tiền thông qua bức
thư điện tử (electronic message) ví dụ, trả lương bằng cách chuyển tiền trực tiếp
vào tài khoản, trả tiền mua hàng bằng thẻ mua hàng, thẻ tín dụng v.v thực chất đều
là dạng thanh toán điện tử. Ngày nay, với sự phát triển của TMĐT, thanh toán điện
tử đã mở rộng sang các lĩnh vực mới đó là:
a. Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Financial Electronic Data Interchange, gọi tắt
là FEDI) chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch với
nhau bằng điện tử.
b. Tiền lẻ điện tử (Internet Cash) là tiền mặt được mua từ một nơi phát hành
(ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng nào đó), sau đó được chuyển đổi tự do sang
các đồng tiền khác thông qua Internet, áp dụng trong cả phạm vi một nước cũng
như giữa các quốc gia; tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hóa, vì thế tiền
mặt này còn có tên gọi là “tiền mặt số hóa” (digital cash. Tiền lẻ điện tửđang trên
đà phát triển nhanh, nó có ưu điểm nổi bật sau:
+ Dùng để thanh toán những món hàng giá trị nhỏ, thậm chí ngay cả tiền mua báo
(vì phí giao dịch mua hàng và chuyển tiền rất thấp);
+ Có thể tiến hàng giữa hai con người hoặc hai công ty bất kỳ, các thanh toán là
vô danh;
+ Tiền mặt nhận được đảm bảo là tiền thật, tránh được tiền giả
c. Ví điện tử (electronic purse); là nơi để tiền mặt Internet, chủ yếu là thẻ thông
minh (smart card), còn gọi là thẻ giữ tiền (stored value card), tiền được trả cho bất

kỳ ai đọc được thẻ đó; kỹ thuật của túi tiền điện tử tương tự như kỹ thuật áp dụng
cho “tiền lẻ điện tử”. Thẻ thông minh, nhìn bề ngoài như thẻ tín dụng, nhưng ở mặt
sau của thẻ, có một chíp máy tính điện tử có một bộ nhớ để lưu trữ tiền số hóa, tiền
ấy chỉ được “chi trả” khi sử dụng hoặc thư yêu cầu (như xác nhận thanh toán hóa
đơn) được xác thực là “ đúng”
d. Giao dịch điện tử của ngân hàng (digital banking). Hệ thống thanh toán điện tử
của ngân hàng là một hệ thống lớn gồm nhiều hệ thống nhỏ:
(1) Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng qua điện thoại, tại các điểm bán lẻ,
các kiôt, giao dịch cá nhân tại các gia đình, giao dịch tại trụ sở khách hàng, giao
dịch qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng, thông tin hỏi đáp…,
(2) Thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêu thị…,)
(3) Thanh toán nội bộ một hệ thống ngân hàng
(4) Thanh toán liên ngân hàng
1.6. Nghiên cứu thị trường trong TMĐT
Nghiên cứu thị trường là việc thu thập thông tin về: kinh tế, công nghiệp,
công ty, sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối, xúc tiến

thư ơ

ng

m ại, hành vi mua
hàng của thị trường mục tiêu.
Mục đích nghiên cứu thị trường là tìm ra thông tin và kiến thức về các mối
quan hệ giữa người tiêu dùng, sản phẩm, phương pháp tiếp thị, và các nhà tiếp thị.
Từ đó:
- Tìm ra cơ hội để tiếp thị
- Thiết lập kế hoạch tiếp thi
- Hiểu rõ quá trình đặt hàng
- Đánh giá được chất lượng tiếp thị


Khi nghiên cứu thị trường, người ta phải phân khúc thị trường, tức là chia
thị trường ra thành nhóm logic để tiến hành tiếp thị, quảng cáo và bán hàng. Có
thể sử dụng nhiều công cụ: điều tra, hỏi …
Nghiên cứu thị trường TMĐT online là công cụ mạnh để nghiên cứu hành
vi khách hàng, phát hiện ra thị trường mới và tìm ra lợi ích người tiêu dùng trong
sản phẩm mới.
Nghiên cứu thị trường trên cơ sở Internet có đặc trưng là khả năng tương tác
với khách hàng thông qua giao tiếp trực tuyến, làm cho hiểu rõ hơn khách hàng, thị
trường, và cạnh tranh. Nó giúp:
- Xác định các đặc điểm mua hàng của cá nhân và nhóm
- Tìm ra các yếu tố khuyến khích mua hàng
- Biết được thế nào là trang web tối ưu
- Cách xác định người mua thât
- Khách hàng đi mua hàng ra sao
- Xu hướng tiếp thị và sản phẩm mà thị trường cần
1.7. Quảng cáo trong TMĐT
Quảng cáo là ý định phân phát thông tin để tác động lên các giao dịch mua
bán. Người sử dụng internet là có trình độ, thu nhập cao, Internet đang là môi
trường truyền thông phát triển, Advertisers quan tâm môi trường tiềm năng. Về
Giá cả, quảng cáo trực tuyến rẻ hơn quảng cáo trên phương tiện khác. Quảng cáo
trực tuyến có thể cập nhật nội dung liên tục với chi phí thấp. Về hình thức dữ liệu
phong phú: có thể sử dụng văn bản, âm thanh, đồ hoạ, hình ảnh, phim
Ngoài ra, có thể kết hợp Games, trò giải trí với quảng cáo trực tuyến, có
thể cá thể hóa được, có thể tương tác được và có thể hướng mục tiêu vào các
nhóm lợi ích đặc biệt. Một số hình thức quảng cáo trên mạng:
Banner: Là một hình vẽ đồ thị quảng cáo và có liên kết với trang web quảng cáo.
Quảng cáo of banner có đặc điểm như sau:
- Hướng quảng cáo vào đối tượng mục tiêu
- Sử dụng chiến lược tiếp thị bắt buộc

- Hướng liên kết vào nhà quảng cáo
- Khả năng sử dụng Multi media
Hạn chế của banner ads, giá cao, Người sử dụng có xu hướng miễn dịch kích
chuột vào các quảng cáo
Banner swapping: Là thỏa thuận giữa 2 công ty chia xẻ một vị trí quảng cáo trên web
Pop-under ad: Là hình thức quảng cáo xuất hiện sau khi đã tắt cửa sổ
Interstitials: Là trang web xuất hiện đập ngay vào mắt gây sự chú ý
E-mail: Là hình thức nhiều người có thể đọc được
1.8. Bảo mật an toàn trong TMĐT?
Việc bảo mật trong khi thanh toán qua mạng là vấn đề chiến lược và là
trọng tâm hàng đầu trong TMĐT.
Hiện nay, trong việc thanh toán qua mạng, các tổ chức tín dụng và các nhà
cung cấp dịch vụ xử lý thanh toán thẻ tín dụng trên thế giới áp dụng công nghệ bảo
mật cao cấp là SET (Secure Electronic Transaction)
15
1.9. Tình hình phát triển và ứng dụng trên thế giới
Trong thời đại bùng nổ thông tin, khi Internet ngày càng không thể thiếu
trong đời sống con người; giá thuê nhân công, thuê mặt bằng ngày càng đắt đỏ, thì
thương mại điện tử đang trở thành sự lựa chọn tối ưu của nhiều cá nhân và doanh
nghiệp.
Theo thống kê, thị trường thương mại điện tử thế giới đã đạt mức tăng
trưởng khoảng 70% mỗi năm và đạt gần 4.000 tỷ USD năm 2005. Các chuyên gia
cho rằng thị trường kinh doanh đầy tiềm năng này đang là nghề hái ra tiền và tạo
cơ hội cho các doanh nghiệp, nhất là các nhà kinh doanh nhỏ.
Internet phát triển mạnh mẽ sẽ là động lực để thúc đẩy sự tăng trưởng buôn
bán trên phạm vi toàn cầu. Các nước trên thế giới đã và đang sẵn sàng nhập cuộc.
Dự báo trong thời gian tới, thương mại điện tử sẽ đem lại cho các doanh nghiệp
một nguồn lợi nhuận khổng lồ.
Doanh thu từ bán hàng qua mạng sẽ chiếm một phần lớn:
Bán hàng qua mạng Internet không mất nhiều thời gian đã trở nên phổ biến

giữa khách hàng và các nhà kinh doanh trong những năm gần đây, đặc biệt là
trong kỷ nguyên tới. Thực tế cho thấy năm 1999, doanh thu bán hàng từ thương
mại điện tử đã chiếm một phần quan trọng trong tổng doanh thu tại hầu hết các
công ty trên thế giới. Qua đợt khảo sát gần đây, các giao dịch thương mại điện tử
chiếm 9% doanh thu hằng năm tại 300 công ty. Con số này được thay đổi từ 6%
tại các công ty có qui mô vừa và nhỏ tới 13% tại các công ty lớn. Cũng trong năm
1999, số người Mỹ đã tiến hành các thủ tục giao dịch, mua hàng trên mạng là 39
triệu ngời (tăng gấp đôi so với năm 1998), 34% số hộ gia đình người Mỹ đã nối
mạng Internet và 17% trong số đó đã tiến hành mua hàng qua mạng.
Theo các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin, doanh thu từ bán
hàng qua mạng Internet sẽ tiếp tục tăng trong năm tới và sẽ giữ mức ổn định trong
vài năm tiếp theo.
Thương mại điện tử toàn cầu đang phát triển mạnh
16
Với khu vực thị trường nội địa to lớn, nhiều công ty của Mỹ còn chậm
trong việc bán hàng ra toàn thế giới. Hiện nay, chỉ có khoảng 12% lượng hàng bán
ra từ các công ty lớn của Mỹ ra thị trường nước ngoài. Nhưng theo xu hướng phát
triển tất yếu, con số này đang có chiều hướng gia tăng và dự báo sẽ tăng 15%
trong hai năm tới.
Một số nước ở Châu Á cũng đang tích cực trong cuộc chạy đua với các
quốc gia phát triển. Trong vòng 5 năm tới, số luợng người châu Á truy cập vào
mạng Internet sẽ vượt quá tổng số người truy cập ở châu Âu và Bắc Mỹ gộp lại.
Dự kiến doanh thu mua bán hàng trên mạng Internet tại châu Á sẽ tăng lên rất
nhiều, chiếm 1/4 thu nhập thơng mại Internet trên toàn cầu (khoảng 1.400 tỉ USD
vào năm 2003). Các công ty lớn với nguồn hàng ổn định luôn mong muốn mở
rộng thị trường, rất tích cực trong việc triển khai thương mại điện tử, tăng cường
việc bán hàng ra toàn cầu, đồng thời triển khai việc mua hàng hóa và dịch vụ từ
nguồn bên ngoài.
Theo số liệu thống kê, doanh thu từ thương mại điện tử trên toàn thế giới
trong năm 2000 là gần 280 tỉ USD, năm 2001 là gần 480 USD, năm 2002 là gần

825 tỉ USD, năm 2003 là hơn 1.400 tỉ USD, năm 2004 là gần 2.400 tỉ USD và ước
tính trong năm 2005 là gần 4.000 tỉ USD. Các số liệu này cho thấy thương mại
điện tử tăng trưởng gần 70% mỗi năm. Cũng theo thống kê, trong năm 2002, chi
phí dành cho quảng cáo trên Internet của toàn thế giới là 23 tỉ USD, trong đó châu
Á đã chi 3 tỉ USD cho quảng cáo trên Internet.
Trong ASEAN, loại trừ Singapore là nước nổi tiếng về phát triển kinh tế và
công nghệ, Thái Lan đang là nước tận dụng thế mạnh của Internet và thương mại
điện tử khá tốt. Hầu hết các doanh nghiệp đều có website riêng, viết bằng tiếng
Anh và tiếng Thái, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất
khẩu và du lịch. Khách hàng từ các nước trên thế giới có thể dễ dàng mua hàng
hay đặt dịch vụ du lịch ở Thái thông qua Website.
Thương mại điện tử càng lúc càng phát triển trên thế giới và doanh thu do
17
thương mại điện tử mang lại cũng tăng gần gấp đôi mỗi năm, đó là lý do nhiều
nước đang ráo riết khuyến khích, thúc đẩy và xây dựng cơ sở cho việc phát triển
thương mại điện tử. Một trong những nước đang phát triển ở châu Á thành
công trong việc phát triển thương mại điện tử là Trung Quốc.
Công ty IResearch vừa đưa ra một nghiên cứu cho biết rằng tổng doanh số
quảng cáo trực tuyến của Trung Quốc đã vượt qua 3 tỷ Nhân dân tệ trong năm
2005, tức khoảng 374 triệu USD. Thị trường quảng cáo trực tuyến ở Trung Quốc
hiện đang có tốc độ tăng trưởng thuộc dạng hàng đầu thế giới với tổng doanh số
năm 2005 là 3,13 tỷ Nhân dân tệ, tăng 77,1% so với năm 2004 và tăng đến 760%
so với năm 2001. Tỷ lệ của quảng cáo trực tuyến trong tổng doanh số quảng cáo
đã tăng từ 0,5% trong năm 2001 đến 2,3% trong năm 2005.
Tổng doanh số quảng cáo trên mạng Sina đạt đến 680 triệu Nhân dân tệ,
chiếm 21,7% thị phần quảng cáo online Trung Quốc; mạng Sohu chiếm 15% thị
phần; NetEase chiếm 8%; QQ chiếm 3,8% và TOM chiếm 2,2%. Tổng thị phần
của 5 mạng lớn nhất Trung Quốc này đã chiếm đến 53,4% thị phần quảng cáo
trực tuyến tại Trung Quốc.
Quảng cáo về nhà đất, sản phẩm công nghệ thông tin và dịch vụ trực tuyến

là 3 lĩnh vực quảng cáo đứng hàng đầu trong mọi lĩnh vực quảng cáo. Riêng
Samsung đã chi đến 60,35 triệu Nhân dân tệ để quảng cáo cho các sản phẩm của
mình, trở thành công ty đứng hàng đầu về số tiền chi cho quảng cáo online tại
Trung Quốc; tiếp sau là China Mobile với 41,1 triệu Nhân dân tệ và NetEase với
39,13 triệu Nhân dân tệ. IResearch dự báo rằng quảng cáo trực tuyến ở Trung
Quốc trong năm 2006 sẽ đạt gần đến 5 tỷ Nhân dân tệ và con số này sẽ là 36,7 tỷ
Nhân dân tệ, tức khoảng 4 tỷ USD, vào năm 2010.
Ở châu Âu, Pháp là một nước đi đầu trong phát triển thương mại điện tử. Theo số
liệu thống kê tại Pháp, đã có hơn 15.000 người dân nước này chi mỗi năm 25%
18
thu nhập cho các hoạt động thương mại điện tử. Tại Pháp, eBay là một công ty
chuyên về thương mại điện tử và đấu giá hàng đầu thế giới, trung bình mỗi tháng
trên trang mạng của hãng này có tới hơn hai lượt người truy cập, tìm kiếm hàng
hoá. Trên trang mạng này, người ta có thể tìm kiếm mọi thứ, từ máy bay, xe ô tô,
hàng tiêu dùng cho đến cổ vật
Năm 2005, tổng giá trị hàng hoá bán trên eBay đạt hơn 44 tỷ USD, với hơn
60 triệu hàng hoá thường xuyên được đề nghị bán và công ty này đã thu lợi hơn
1,1 tỷ USD, tăng 39% so với năm 2004. Một nhà kinh doanh thương mại điện tử
của Pháp tên là Courbon, chuyên buôn bán ô tô, cho biết, trung bình mỗi tháng
ông ta có thể bán 30 chiếc xe, nhờ mạng eBay. Mặc dù chỉ là một trang mạng
thương mại, nhưng eBay có số người truy cập kỷ lục-hơn 180 triệu người, tương
đương dân số của nước đông dân thứ sáu trên thế giới. Các chuyên gia cho rằng
sức hấp dẫn này của trang thương mại điện tử, các phương tiện truyền thông khác
không thể sánh nổi.
Mặc dù doanh thu từ thương mại điện tử đã đạt hàng chục tỷ USD mỗi năm, song
các chuyên gia nghiên cứu thị trường cho rằng, thương mại điện tử là một thị
trường vẫn còn rất mới mẻ, đầy tiềm năng và giàu sức hấp dẫn. Đây chính là cơ
hội cho các doanh nhân trẻ và các doanh nghiệp trẻ phát triển và làm giàu.
1.10. Tình hình phát triển và ứng dụng ở Việt Nam
Nếu cuối năm 2003 số người truy cập Internet ở Việt Nam là khoảng 3,2

triệu người, thì đến nay con số này đã tăng lên gấp năm tức khoảng 15 triệu người,
chiếm tỷ lệ 16% dân số cả nước. Những thống kê này cho thấy một tín hiệu lạc
quan về sự phát triển thương mại điện tử (TMĐT) ở Việt Nam trong giai đoạn
2006 – 2010.
Theo thống kê của Vụ Thương mại điện tử thuộc Bộ Thương mại, đến cuối năm
2005, Việt Nam đã có khoảng 20.000 website của các doanh nghiệp, trong đó số
tên miền.vn (như .com.vn,.net.vn ) đã tăng từ 2.300 (năm 2002) lên 5.510 (năm
2003) và 9.037 (năm 2004).
19
Những năm 2003, 2004 các website sàn giao dịch B2B (marketplace), các
website rao vặt, các siêu thị trực tuyến B2C đua nhau ra đời.
Tuy nhiên, các website này vẫn còn phát triển hạn chế, chưa có website nào thực
sự phát triển đột phá vì nhiều nguyên do. Những mặt hàng được bán phổ biến trên
mạng tại Việt Nam hiện nay gồm: hàng điện tử, kỹ thuật số, sản phẩm thông tin
(sách điện tử, CD, VCD, nhạc ), thiệp, hoa, quà tặng, hàng thủ công mỹ nghệ.
Các dịch vụ ứng dụng TMĐT nhiều như: du lịch, tư vấn, CNTT, dịch vụ
thông tin (thông tin tổng hợp, thông tin chuyên ngành ), giáo dục và đào tạo
Các doanh nghiệp cũng đã quan tâm nhiều hơn về việc lập website để giới thiệu
thông tin, hỗ trợ marketing, bán hàng qua mạng
Kết quả khảo sát cho thấy, phần lớn doanh nghiệp có website mới chỉ xem
website là kênh tiếp thị bổ sung để quảng bá hình ảnh công ty và giới thiệu sản
phẩm, dịch vụ, do đó doanh nghiệp chưa đầu tư khai thác hết những lợi ích thương
mại điện tử có thể mang lại cho doanh nghiệp.
Thậm chí việc đầu tư marketing website để đối tượng khách hàng biết đến
cũng chưa được doanh nghiệp quan tâm thực hiện hiệu quả, bằng chứng là có
nhiều website có số lượng người truy cập rất khiêm tốn sau khi khai trương nhiều
năm, và đa số các website giới thiệu thông tin, sản phẩm này của doanh nghiệp
được Alexa xếp hạng rất “lớn” (trên 500.000).
Nhìn chung, việc phát triển TMĐT ở Việt Nam hiện còn mang tính tự phát,
chưa được định hướng bởi chính phủ và các cơ quan chuyên môn nhà nước.

Do đó, sự đầu tư cho TMĐT ở mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào tầm nhìn,
quan điểm của lãnh đạo doanh nghiệp. Cũng có nhiều cá nhân, doanh nghiệp thành
lập những website thương mại điện tử (sàn giao dịch, website phục vụ việc cung
cấp thông tin, website rao vặt, siêu thị điện tử ) để giành vị thế tiên phong, tuy
nhiên, tình hình chung là các website này chưa thực sự được marketing tốt và phát
triển tốt để mang lại lợi nhuận kinh tế đáng kể.
20
Theo các chuyên gia, điều quan trọng nhất trong việc phát triển TMĐT ở
Việt Nam hiện nay xuất phát từ các doanh nghiệp. Đây là lực lượng nòng cốt ứng
dụng và phát triển TMĐT.
Để nắm bắt được thị trường rộng lớn và không biên giới qua mạng Internet,
các doanh nghiệp phải có những chiến lược đầu tư hợp lý hơn.
Việc đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng được những yêu cầu của TMĐT
phải được tiến hành nhanh chóng, việc đầu tư cho công nghệ thông tin cũng phải
được dành nhiều ngân sách và có một tỷ lệ đầu tư hợp lý hơn…
Để TMĐT phát triển, cần nhiều yếu tố thúc đẩy, làm nền tảng như: cơ sở hạ
tầng công nghệ, số người truy cập Internet, chi phí truy cập Internet, nhân lực
chuyên môn, kiến thức TMĐT về phương diện kinh doanh, chiến lược, nhận thức
của nhà đầu tư, nhận thức của cộng đồng và đặc biệt là phải có vai trò quản lý,
định hướng của nhà nước…
21
CHƯƠNG 2 :TÌM HIỂU MÔ HÌNH GIAO DỊCH
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ GIỮA DOANH NGHIỆP
VÀ KHÁCH HÀNG
2.1.B2C (Business - To - Customer)
B2C (Business - To - Customer): Thương mại điện tử B2C là chỉ bao gồm các
giao dịch thương mại trên Internet giữa doanh nghiệp với khách hàng, mà trong
đó, đối tượng khách hàng của loại hình này là các cá nhân mua hàng. Loại hình
này áp dụng cho bất kỳ doanh nghiệp hay tổ chức nào bán các sản phẩm hoặc dịch
vụ của họ cho khách hàng qua Internet, phục vụ cho nhu cầu sử dụng của cá nhân.

2.2. Những nguyên tắc cơ bản của B2C
Giúp khách hàng tìm thấy những thứ họ cần
Liệu bạn có dừng chân ở một cửa hiệu khi thấy hàng hóa bên trong đó được bày
biện một cách lộn xộn, thiếu khoa học, không có biển báo cũng như lời hướng dẫn
không? Chắc chắn là không rồi. Thế nhưng thật đáng ngạc nhiên là một số cửa
hàng trực tuyến lại làm cho khách hàng gần như không thể tìm ra món hàng mà họ
quan tâm.
Trước khi khai trương một cửa hàng trực tuyến, bạn hãy suy nghĩ cẩn thận về
cách tổ chức hàng hóa trong “kho” của bạn và tạo điều kiện để khách hàng có
nhiều cách tìm thấy cái mà họ muốn tìm. Ví dụ, bạn có thể cung cấp các đường
dẫn dễ nhìn thấy tới các danh mục hàng hóa khác nhau, một công cụ tìm kiếm để
khách hàng có thể nhập tên sản phẩm hoặc sơ đồ đường dẫn để giúp khách hàng
có thể tự theo dõi các bước đi của họ trên trang web của bạn.
Quy tắc này cũng được áp dụng khi bạn cung cấp thông tin về các chính sách
trao đổi, thông tin liên lạc, phí vận chuyển và các thông tin khác mà khách hàng
22
quan tâm trước khi họ hoàn thành giao dịch.
Đừng bắt khách hàng phải đợi
Khi một khách hàng nhấn vào nút “Mua hàng”, họ sẽ chẳng thích thú gì khi phải
đợi tới vài phút mới có câu trả lời – hay thậm chí tệ hơn là nhận được thông điệp
báo lỗi. Trên thực tế, chẳng có gì khiến khách hàng thất vọng hơn một trang web
cứ buộc họ phải đoán mò về tình trạng đặt hàng của chính họ.
Xin mách bạn một giải pháp đơn giản cho vấn đề này: Hãy đảm bảo rằng các
phần mềm và máy chủ của bạn có thể xử lý bất cứ yêu cầu gì khách hàng đưa vào.
Nếu bạn đang sử dụng một dịch vụ của người khác, thì hãy đảm bảo rằng họ sử
dụng công nghệ tiên tiến nhất. Trong trường hợp bạn tự xây dựng trang web thì
bạn hãy đầu tư vào đó các phần cứng và phần mềm
tốt nhất theo khả năng của mình.
Hãy tạo điều kiện để khách hàng thanh toán một cách dễ dàng nhất
Các cửa hàng trực tuyến có thể chấp nhận nhiều hình thức thanh toán khác nhau:

thẻ tín dụng, tiền mặt điện tử, hoặc tiền mặt và séc qua thư. Các loại doanh nghiệp
khác nhau sẽ chấp nhận các phương thức thanh toán khác nhau, vì thế hãy đảm
bảo rằng nhà cung cấp dịch vụ thương mại điện tử của bạn có thể chấp nhận
những phương thức mà khách hàng của bạn thường sử dụng nhiều nhất. Để sẵn
sàng cho các phương thức thanh toán ngoại tuyến, chẳng hạn như tiền mặt và séc
gửi qua thư hoặc số thẻ tin dụng gửi qua fax, hãy ghi rõ địa chỉ gửi thư, số fax và
số điện thoại tại nơi dễ thấy trên trang web của bạn .Các phương thức thanh
toán trực tuyến sinh ra một khó khăn điển hình: đó là vấn đề an ninh. Mặc dù việc
gửi số thẻ tín dụng qua Internet là cực kỳ an toàn, nhưng khách hàng vẫn lo lắng.
Hầu hết các hệ thống thanh toán trực tuyến gửi số thẻ tín dụng và các thông tin cá
nhân khác qua các hệ thống đã được mã hóa. Nếu hệ thống của bạn cũng sử dụng
công nghệ này, hãy thông báo để khách hàng biết rằng thông tin của họ được bảo
mật hoàn toàn.
Cuối cùng, hãy nhớ rằng bạn cần có một tài khoản thương gia có thể chấp
23
nhận các hình thức giao dịch bằng thẻ tín dụng. Nếu bạn đã có sẵn một tài khoản
dùng cho công việc kinh doanh, thì bạn có thể dùng chính tài khoản đó để chấp
nhận thẻ tín dụng trực tuyến. Nhưng nếu bạn chưa có, người xây dựng trang web
hay cung cấp dịch vụ mạng có thể giúp bạn tạo ra một tài khoản thương gia có
dịch vụ xử lý giao dịch trực tuyến.
2.3.Sự khác nhau giữa B2C và B2B
-Điều thứ nhất là sự khác nhau về khách hàng
Khách hàng của các giao dịch B2B (giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh
nghiệp) là các công ty còn khách hàng của B2C là các cá nhân. Tuy nhiên cần phải
xem xét chữ C trong B2C là người tiêu dùng cuối cùng (End-user). Nghĩa là C còn
bao gồm cả những doanh nghiệp mua sắm hàng hóa về để tiêu dùng. Chẳng hạn
như doanh nghiệp mua bàn ghế phục vụ cho công việc
văn phòng.
Xét về tổng thể, các giao dịch B2B phức tạp hơn và đòi hỏi tính an toàn cao hơn.
-Ngoài ra ,có 2 sự khác biệt lớn nữa :

*Khác biệt về đàm phán, giao dịch:
Việc bán hàng cho các doanh nghiệp (B2B) phải bao gồm cả các yếu tố như đàm
phán về giá cả, việc giao nhận hàng và xác định quy cách, các đặc tính kỹ thuật
của sản phẩm. Bán hàng cho người tiêu dùng (B2C) không nhất thiết phải bao
gồm tất cả các yếu tố như vậy. Điều này khiến cho các nhà bán lẻ dễ dàng hơn
trong việc đưa lên mạng catalog sản phẩm dịch vụ của họ để mở một siêu thị trực
tuyến. Đó cũng chính là lý do tại sao những ứng dụng Thương mại điện tử B2B
đầu tiên được phát triển chỉ cho những hàng hóa và sản phẩm hoàn chỉnh, đơn
giản trong khâu mô tả đặc tính và định giá.
* Khác biệt về vấn đề tích hợp
Các công ty trong Thương mại điện tử B2C không phải tích hợp hệ thống của họ
với hệ thống của khách hàng. Trái lại các công ty khi bán hàng cho các doanh
24
nghiệp (B2B) cần phải đảm bảo rằng các hệ thống của họ có thể giao tiếp được với
nhau mà không cần sự can thiệp trực tiếp của con người dẫn đến nhu cầu phải tích
hợp hệ thống của doanh nghiệp bán hàng và doanh nghiệp mua hàng.
2.4.Một số trang web thương mại điện tử loại B2C tại VN :
1. Công ty CP DV Phần mềm trò chơi Vina : 123mua.com.vn.
2. Công ty cổ phần thế giới di động :
3.Chợ điện tử :
4 .Chi nhánh Công ty CP Vật giá VN tại TPHCM : vatgia.com
5. Công ty CP Điện hoa ViệtNam : www.dienhoavietnam.com

25

×