Tải bản đầy đủ (.doc) (28 trang)

Tài liệu Báo cáo tốt nghiệp "Một số vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ở huyện Si Ma Cai" pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (219.8 KB, 28 trang )

Báo cáo tốt nghiệp
Một số vấn đề chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn ở huyện Si Ma
Cai


1

Mục lục
2
PHẦN MỞ ĐẦU
Si MA Cai là huyện mới được tái lập với 13 xã đều thuộc diện các xã đặc biệt khó
khăn, tách ra từ huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai. Nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh là huyện
biên giới với Trung Quốc, giao thông đi lại khó khăn. Núi đá là chủ yếu. Tài nguyên
khoáng sản nghèo nàn. Dân cư chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số sống bằng nghề
nông làm nương, rẫy, trồng rừng. Sản xuất ở đây phần lớn còn mang tính tự phát, tự
cung, tự cấp với trình độ thấp kém. Kỹ thuật canh tác lạc hậu. Trong những năm đổi mới,
cùng với sự thay đổi về kinh tế, cơ cấu kinh tế nông thôn có chuyển dịch nhưng rất nhỏ
và chậm chạp trong khi đó, nhu cầu về đa dạng các sản phẩm, sản phẩm có giá trị kinh tế
cao, ngày một tăng lên. Do vậy việc chuyển đổi một phận diện tích đất trồng ngô, trồng
lúa sang chăn nuôi. Và trồng các loại cây, con có giá trị kinh tế cao, kết hợp hài hoà giữa
trồng trọt, chăn nuôi phát triển một số ngành nông sản phẩm theo hướng sản xuất hàng
hoá là một đòi hỏi cấp bách.
Mặt khác, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đang là một xu hướng và là một
chủ trương đúng đắn, bức thiết của lãnh đạo các ngành, các cấp huyện Si Ma Cai.
Là một người con sinh ra và lớn lên ở huyện Si Ma Cai nên với mong muốn vùng
quê của mình ngày càng phát triển, giàu đẹp góp phần nhỏ trong sự phát triển của nền
kinh tế quốc dân, vì vậy em đã chọn đề tài: "Một số vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn ở huyện Si Ma Cai" làm đề án môn học chuyên ngành của mình.
Do kiến thức bản thân còn nhiều hạn chế, vì vậy khó tránh khỏi những sai sót, rất
mong nhận được sự góp ý quý báu của các thầy cô và bạn đọc.


3
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG THÔN.
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG CỦA CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN.
1. Khái niệm
* Cơ cấu kinh tế (CCKT): Cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế đặc biệt, gắn
liền với quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế trong giới hạn một địa phương,
một quốc gia hay một khu vực. Nền kinh tế là một hệ thống phức tạp, bao gồm nhiều
thành phần, nhiều nhân tố có mối quan hệ, chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau.
Cơ cấu kinh tế thể hiện mối tương quan giữa các thành phần, các nhân tố đó. Trong bất
kỳ một nền kinh tế quốc dân nào, người ta cũng có thể định tính hoặc định lượng được
mức độ phát triển của CCKT. Các mối quan hệ này một mặt biểu tượng sự tương quan về
mặt số lượng, mặt khác nó biểu hiện mối quan hệ hữu cơ của chúng về mặt chất lượng và
được xác lập trong điều kiện cụ thể với những giai đoạn phát triển nhất định, phù hợp với
đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi nền kinh tế.
Cơ cấu kinh tế không chỉ giới hạn về các mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành có tính
chất cố định mà luôn luôn vận động, thay đổi để phù hợp với yêu cầu phát triển của nền
kinh tế trong từng thời kỳ, nhằm mục tiêu phát triển, tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu
quả sản xuất.
Để cơ cấu kinh tế phát huy hiệu quả thì cần phải có một quá trình, một thời gian
nhất định. Thời gian ấy dài hay ngắn phải tuỳ thuộc vào đặc thù riêng của từng loại
CCKT.
Tuy nhiên trạng thái của các điều kiện tự nhiên, xã hội luôn luôn vận động không
ngừng. Do vậy việc duy trì quá lâu một cơ cấu kinh tế sẽ làm giảm đi tính hiệu quả do
bản thân cơ cấu mang lại. Điều đó đòi hỏi những nhà quản lý phải có tầm nhìn chiến
lược, cập nhập thông tin phục vụ cho việc hoạch định những chính sách mới và có những
điều chỉnh phù hợp kịp thời với yêu cầu của tình hình mới.
Mặt khác sự thay đổi đột ngột và nhanh chóng sẽ gây ra những tác động tiêu cực,
ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Cần phải thấy

rõ rằng cơ cấu kinh tế không phải là một mục tiêu được đặt ra do sự nhận thức của chủ
quan, mà phải hiểu đó là một phương tiện để đưa nền kinh tế đặt được sự tăng trưởng ổn
định, bền vững. Từ đó phải có những xem xét đánh giá dựa vào mục tiêu đạt hiệu quả
4
kinh tế xã hội mà CCKT đó mang lại như thế nào. Điều này cần thiết cho việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế cả nước, riêng các vùng, các doanh nghiệp, trong đó có tồn tại cơ cấu
kinh tế nông thôn.
* Cơ cấu kinh tế nông thôn:
Cơ cấu kinh tế nông thôn là tổng thể các mối quan hệ kinh tế trong khu vực nông
thôn. Nó là cấu trúc hữu cơ các bộ phận kinh tế trong khu vực nông thôn trong quá trình
phát triển, có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt
lượng và có liên quan chặt chẽ về mặt chất, chúng có tác động qua lại lẫn nhau, trong
không gian và thời gian, phù hợp với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, tạo thành
một hệ thống kinh tế nông thôn. CCKT nông thôn là một bộ phận hợp thành, không thể
tách rời CCKT quốc dân. Nó đóng vai trò quan trọng trong phát triển nền kinh tế quốc
dân, nhất là đối với các nước kém phát triển. Kinh tế nông thôn bao gồm các hoạt động
sản xuất kinh doanh và dịch vụ được tiến hành trên địa bàn nông thôn.
Xác lập CCKT nông thôn chính là giải quyết mối quan hệ giữa những bộ phận
cấu thành trong tổng thể kinh tế nông thôn dưới tác động của lực lượng sản xuất, giữa tự
nhiên và con người, đồng thời giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế nông thôn và kinh tế
thành thị trong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Cơ cấu kinh tế nông thôn cũng được xem xét trên các mặt và các mối quan hệ của
chúng như: Cơ cấu các ngành kinh tế nông thôn, cơ cấu các vùng lãnh thổ và cơ cấu các
thành phần kinh tế nông thôn.
2. Đặc trưng của cơ cấu kinh tế nông thôn.
Cơ cấu kinh tế nông thôn vừa có những đặc trưng chung của CCKT vừa có đặc
trưng riêng của vùng nông thôn với những đặc điểm mang tính đặc thù. Những đặc trưng
riêng của CCKT nông thôn được biểu hiện như sau:
- Do đặc điểm của kinh tế nông thôn nên CCKT nông thôn, bị chi phối mạnh mẽ
bởi cấu trúc của kinh tế nông thôn. Điều đó biểu hiện ở chỗ, trong CCKT nông thôn,

nông nghiệp, thường chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu ngành và chúng chỉ có thể chuyển
biến khi CCKT nông thôn biến đổi theo hướng có tính quy luật "giảm tương đối và tuyệt
đối số người lao động hoạt động trong khu vực nông thôn với tư cách là lao động tất yếu"
lao động này ngày càng thu hẹp để tăng lao động thặng dự.
- Cơ cấu kinh tế nông thôn hình thành và biến đổi gắn liền với sự ra đời và phát
triển của nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá. Từ thời kỳ kinh tế sinh tồn chuyển sang
thời kỳ du canh, du mục, tự cấp tự túc, nền kinh tế - xã hội trong giai đoạn này đồng nhất
với nền kinh tế nông nghiệp mà cơ cấu của nó là hai ngành trồng tỉa lương thực và chăn
5
thả đại gia súc gắn liền với hai bộ phận trồng trọt và chăn nuôi. Trong bối cảnh này, kinh
tế nông thôn đồng nghĩa với kinh tế nông nghiệp. Chỉ khi chuyển sang thời kỳ nông
nghiệp sản xuất hàng hoá, CCKT nông thôn mới được hình thành và vận động theo
hướng đa dạng, có hiệu quả, sự phân công lao động chi tiết, tỉ mỉ hơn, từ đó những loại
cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao được phát triển và mở rộng, mở mang nhiều
ngành nghề, dần dần đưa kỹ thuật và công nghệ mới vào nông thôn, mở rộng và phát
triển các loại hình tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, dịch vụ nông thôn.
- Cơ cấu kinh tế nông thôn được hình thành và vận động trên cơ sở điều kiện tự
nhiên và mức độ lợi dụng, khai thác cải thiện điều kiện tự nhiên (độ ẩm, ánh sáng, lượng
mưa… tức là những nguồn lực của đầu vào được ban phát bởi tạo hoá). Cơ cấu kinh tế
nông thôn, trong đó có cơ cấu nông nghiệp hướng tới sự chuyển dịch nhằm khai thác tối
ưu và cải thiện điều kiện tự nhiên để có lợi cho con người nhất. Đặc trưng cơ bản của
CCKT nông thôn là tác động hàng loạt của các quy luật tự nhiên, kinh tế - xã hội đến
phát triển toàn diện của nông thôn. Qúa trình xác lập và biến đổi CCKT nông thôn như
thế nào là phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội, những điều kiện và hoàn cảnh tự
nhiên nhất định chứ không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của con người. Con người chỉ
có thể nhận thức để tác động thúc đẩy hoặc hạn chế quá trình hình thành và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng có hiệu quả cao theo mục tiêu xác định.
Vì vậy, CCKT nông thôn phản ánh tính quy luật chung của quá trình phát triển
kinh tế - xã hội và được biểu hiện cụ thể trong từng thời gian, không gian khác nhau.
Chuyển dịch CCKT nông thôn phải là một quá trình vận động và có tính quy luật, mọi sự

nóng vội hoặc bảo thủ trì trệ trong quá trình chuyển dịch nó đều gây phương hại đến sự
phát triển của nền kinh tế quốc dân. "Vấn đề là phải biết bắt đầu tư đâu và với những giải
pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn như thế nào để tác động vào nó sẽ tạo ra phản
ứng dây chuyền cho tất cả các yếu tố trong toàn bộ hệ thống cơ cấu kinh tế nông thôn
cùng phát triển, góp phần vào sự tăng trưởng, của nền kinh tế quốc dân.
Cơ cấu kinh tế mang tính ổn định tương đối trong từng điều kiện và hoàn cảnh
lịch sử cụ thể, tuy nhiên, xét cả quá trình, nó không cố định, luôn vận động mang tính tất
yếu khách quan. Vì vậy, chuyển dịch CCKT là quá trình làm thay đổi cấu trúc và các mối
quan hệ của hệ thống kinh tế theo một chủ đích và định hướng nhất định, nghĩa là đưa hệ
thống kinh tế đến các trạng thái phát triển tối ưu, đạt được hiệu quả tổng hợp mong muốn
thông qua các tác động điều khiển có ý thức, hướng đích của con người trên cơ sở nhận
thức và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan.
6
II. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN.
1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Chuyển dịch CCKT nông thôn là sự vận động và thay đổi cấu trúc của các yếu tố
cấu thành trong kinh tế nông thôn theo các quy luật khách quan dưới sự tác động của con
người vào các nhân tố ảnh hưởng đến chúng theo những mục tiêu xác định. Đó là sự
chuyển dịch theo những phương hướng và mục tiêu nhất định chuyển dịch CCKT nông
thôn được xem xét trên các phương diện: Chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, và cơ
cấu thành phần kinh tế…
Chuyển dịch cơ cấu ngành trong nông thôn là sự thay đổi mối quan hệ tương
quan của mỗi ngành so với tổng thể các ngnàh trong nông thôn. sự thay đổi này do 2 yếu
tố là số lượng các tiểu ngành thay đổi và mối tương quan tốc độ phát triển giữa các ngành
có sự thay đổi hoặc thay đổi đồng thời cả 2 yếu tố đó.
Chuyển dịch CCKT theo vùng nông thôn là sự chuyển dịch của các ngành kinh tế
xét theo từng vùng. Về thực chất, cũng là sự chuyển dịch của ngành, hình thành sản xuất
chuyên môn hoá, nhưng được xét ở phạm vi hẹp hơn theo từng vùng lãnh thổ.
Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế là sự thay đổi tỷ lệ về sản xuất kinh
doanh của các thành phần kinh tế trong nông thôn. Cơ sở của sự chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo thành phần là sự tồn tại khách quan, vai trò, vị trí của từng thành phần kinh tế
trong kinh tế nông thôn và sự vận động khách quan của nó trong nền kinh tế. Đối với cơ
cấu thành phần kinh tế, bên cạnh sự vận động khách quan thì sự định hướng về mặt chính
trị - xã hội theo các cơ sở khách quan có sự tác động rất lớn đến sự chuyển dịch cơ cấu
thành phần kinh tế trong nền kinh tế nói chung, trong nông thôn nói riêng.
2. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là xu hướng vận động có tính khách quan,
dưới sự tác động của các nhân tố. Trên thực tế, cùng với quá tình hình thành và phát triển
phong phú, đa dạng các ngành kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá, thì cơ cấu giữa các
ngành cũng ngày càng phức tạp và luôn biến đổi theo nhu cầu của xã hội, theo đà phát
triển của thị trường và theo khả năng của sản xuất để khai thác các nguồn lực vừa để đáp
ứng nhu cầu thị trường vừa nâng cao hiệu quả sản xuất. Quá trình chuyển dịch của
CCKT nông thôn bao gồm những xu hướng cơ bản sau:
- Chuyển dịch CCKT nôgng nhiệp, nông thôn sang sản xuất hàng hoá. Trong nền
nông nghiệp độc canh, ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn. Sự mất cân đối giữa trồng
trọt và chăn nuôi bắt nguồn từ tính chất của sản xuất và khả năng giải quyết các nhu cầu
về lương thực trong điều kiện trình độ công nghệ và năng suất lao động thấp. Từ đó mọi
7
yếu tố về nguồn lực tự nhiên và lao động đều phải tập trung vào sản xuất trồng trọt. Sự
biến đổi của khoa học và công nghệ đã tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động và
năng suất đất đai. Do đó đã cho phép chuyển bớt các yếu tố nguồn lực cho sự phát triển
của các ngành khác, trong đó có các ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi, phát triển nông
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có nghĩa là sản xuất sản phẩm đển bán chứ không
phải chỉ để tiêu dùng cho bản thân và gia đình họ. Vì vậy, sản xuất ra loại hàng hoá gì?
Số lượng bao nhiêu? Cơ cấu chủng loại thế nào? điều đó không phụ thuộc vào người sản
xuất mà chủ yếu phụ thuộc vào mức độ và khả năng tiêu thụ của thị trường, do sự chi
phối của thị trường, đó là mối quan hệ: thị trường - sản xuất hàng hoá - thị trường. Như
vậy, xác lập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá trước
hết phải từ thị trường và vì thị trường, lấy thị trường làm căn cứ và xuất phát điểm. Xem
đây là giải pháp quan trọng nhất để chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn.

- Chuyển dịch CCKT nông thôn từ nông nghiệp thuần tuý sang phát triển nông
nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi. là sự chuyển dịch CCKT nông thôn từ nông nghiệp là
chủ yếu sang kết hợp nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi chuyển chúng thành những
ngành sản xuất hàng hoá ở nông thôn.
- Chuyển dịch CCKT nông thôn từ thuần nông sang phát triển nông thôn tổng
hợp. Các nhân tố tác động lớn đến chuyển dịch CCKT nông thôn từ thuần nông sang phát
triển nông thôn tổng hợp, bao gồm các ngành nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ nông thôn. Sự phát triển của nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi
một mặt đã cho phép chuyển một số nguồn lực của các ngành này cho sự phát triển công
nghiệp và dịch vụ, mặt khác tạo ra những yếu tố về thị trường đòi hỏi phải có sự phát
triển của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Sự phát triển này làm
cho CCKT có sự thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng dần tỷ
trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Trên cơ sở đó, lao động
cũng sẽ chuyển dịch từ trồng trọt sang chăn nuôi, từ sản xuất nông nghiệp sang làm dịch
vụ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và chuyển lao động thủ công sang lao
động cơ khí trên đồng ruộng, trong chuồng trại và các xí nghiệp chế biến nông sản.
3. Nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch.
Cơ cấu kinh tế nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn chịu sự tác
động của một số nhân tố sau:
- Sự phát triển của khoa học- công nghệ: là một trong các nhân tố chủ yếu tạo
những điều kiện tiền đề để chuyển dịch CCKT nói chung và CCKT nông thôn nói riêng.
Sự phát triển của khoa học và năng suất lao động, hiệu quả sản xuất và thay đổi cả
8
phương thức lao động, tạo khả năng đổi mới những nguyên tắc và công nghệ sản xuất
trong các ngành kinh tế. Trong nông nghiệp, nông thôn, khoa học kỹ thuật đã có những
tác động mạnh mẽ về cơ giới hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, cách mạng về sinh học. Từ
đó hàng loạt giống cây trồng vật nuôi có năng suất cao và hiệu quả kinh tế lớn đợc đưa
vào sản xuất. Nhu cầu của xã hội về nông sản, trước hết là lương thực đã đáp ứng. Nhờ
đó nông nghiệp có thể rút bớt chuyển sang sản xuất các ngành trồng trọt với giá trị sử
dụng và giá trị kinh tế cao như cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu và cây sinh

vật cảnh. Sự phát triển của khoa học - công nghệ đã tạo những điều kiện tiền đề cho sự
chuyển dịch CCKT, trong đó có CCKT nông thôn.
- Quá trình phân công lao động theo hướng chuyên môn hoá: Đây là đòn bẩy tăng
năng suất lao động, thúc đẩy phát triển khoa học - công nghệ. Cơ cấu kinh tế nông thôn
là hệ quả trực tiếp của sự phân công lao động xã hội trong nông thôn, nhiều ngành nghề
hình thành, tính chất chuyên môn hoá càng cao, xoá dần tư tưởng tự cấp tự túc, tiến lên
sản xuất hàng hoá. Từ đó, người nông dân phải suy nghĩ, nghiên cứu từng loại giống cây
trồng vật nuôi, kỹ thuật canh tác, lợi dụng các điều kiện thuận lợi và nó tránh sự khắc
nghiệt, bất lợi của tự nhiên.
- Tác động của cơ chế thị trường và sự mở rộng thị trường CCKT nông thôn hình
thành và biến đổi gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế sản xuất hàng hoá.
Lượng dân cư lớn ở nông thôn đã tạo ra thị trường sôi động với các hàng hoá có giá trị
kinh tế cao. Thu nhập của nhân dân tăng lên tạo sức mua lớn thì thị trường nông thôn là
cơ sở để các khu vực công nghiệp và dịch vụ tiếp tục phát triển và hướng vào xu thế hiện
đại hoá ngành nông nghiệp. Sản xuất hàng hoá phát triển kéo theo sự phát triển của cơ sở
hạ tầng, trong đó phải kể đến là hệ thống giao thông, thông tin liên lạc và điện. Sự phát
triển của thị trường tạo điều kiện tiêu thụ nông sản phẩm với tốc độ nhanh, khuyến khích
phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến nông sản, , khuyến khích nông dân sản xuất các
loại sản phẩm phù hợp.
- Định hướng phát triển kinh tế của nhà nước có vai trò to lớn thúc đẩy quá trình
chuyển dịch CCKT nông thôn. Nhà nước tác động vào nông thôn trước hết thông qua hệ
thống định hướng, điều tiết nền kinh tế theo mục tiêu xác định trong từng thời kỳ. Chính
sách kinh tế có vai trò quan trọng tác động trực tiếp vào môi trường sản xuất kinh doanh
ở nông thôn.
- Điều kiện kinh tế xã hội: đây là một tiền đề quan trọng hình thành và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
9
PHẦN II
THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN Ở HUYỆN SI
MA CAI - LÀO CAO

I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH
1. Điều kiện tự nhiên:
Huyện Si Ma Cai là một huyện miền núi của tỉnh Lào Cai có điều kiện tự nhiên
phong phú:
a. Về vị trí địa lý:
Huyện Si Ma Cai nằm ở vào khoảng 22
0
52' đến 23
0
35' độ bắc và 103
0
45' - 104
0
20'
độ kinh đông.
+ Phía Tây giáp: Huyện Mường Khương và Bắc Hà
+ Phía Bắc giáp: Huyện Mã Quan (Trung Quốc)
+ Phía Đông giáp: Huyện Bắc Hà và Huyện Sí Mần (Hà Giang)
+ Phía Nam giáp: Huyện Bắc Hà
Trung tâm huyện ly Si Ma Cai nằm phía đông bắc nơi đầu nguồn sông chảy và
cách thị xã Lào cai 95km, huyện có 12,5km đường biên giới với Trung Quốc và 12,5km
đường biên giới là đường sông giữa Mường Khương và huyện Mã Quan - Trung Quốc.
b. Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng, khí tượng thuỷ văn.
* Địa hình: Si Ma Cai có địa hình chia cắt nhiều phần, núi đá cao, độ dốc lớn.
Đường giao thông đi lại hết sức khó khăn. Núi đá là chủ yếu. Theo đặc điểm về khí hậu
có thể chia Si Ma Cai thành hai tiểu vùng. vùng nóng và vùng lạnh, nhưng ranh giới
không rõ rệt.
+ Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 23,454 ha. Trong đó đất nông nghiệp
6.694,46h, đất lâm ngihệp 4.298,4 ha với đất rừng tự nhiên 3.591,5 h, rừng trồng 706,9
ha, đất chống đồi núi chọc là 11.774,44 ha.

Sông, suối với Si Ma Cai phân bổ chủ yếu qua địa phận của 7 xã Si Ma Cai, Lùng
Sui, Sán Chải, Nàn Sán, Bản Mế, Sín Chảy và Nàn Sín. Như vậy, với địa hình nhiều núi
đá cao, độ dốc lớn, bị chia cắt và xa trung tâm kinh tế - xã hội của tỉnh. Về cơ bản địa
hình của huyện Si Ma Cai không thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khó
khăn trong việc tập trung sản xuất hàng hoá.
* Thổ nhưỡng: Do cấu tạo địa hình khác nhau nên thổ nhưỡng của từng vùng
cũng khác nhau có thể chia làm 2 vùng cơ bản:
10
Vùng lạnh: Đây là vùng có đất mùn vàng đỏ đất mùn pheralit loại đất này thích
hợp cho việc trồng các loại cây đào, mận, lê, cây lấy gỗ và cây thuốc lá.
Vùng nóng: Vùng này chủ yếu là đất mùn alít nằm ven dọc theo dòng sông chảy
thích hợp trồng các loại cây lúa sớm, cây ngô, đậu tương, lạc và cây ăn quả như: Táo,
chuối…
Nhìn chung thổ nhưỡng của huyện Si Ma Cai có thể cho phép canh tác được
nhiều loại cây trồng phong phú và đa dạng.
* Khí tượng, thuỷ văn:
- Khí tượng: Si Ma Cai nằm ở khu vực thượng lưu sông chảy có độ dốc cao, nên
khí hậu mang nhiều tính chất của khí hậu lục địa. Đặc điểm khí hậu Si Ma Cai là vùng có
khí hậu cận nhiệt đới, một năm có hai mùa. Mùa đông lạnh kéo dài nhiệt độ bình quân từ
14 - 15
0
C. Tháng 1 là tháng lạnh nhất nhiệt độ có thể xuống 5 -2
0
C (có nơi có thể xuốgn
0
0
C), mùa hè mát mẻ nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 và ngày cao điểm nhiệt độ lên tới
35
0
C. Nhiệt độ bình quân trong năm là 21

0
C, bình quân thấp nhất trong năm là 2
0
C.
Độ mưa: Huyện Si Ma Cai có lượng mưa lớn nhất là 1.800mm lượng mưa nhỏ
nhất là 1.355mm. Lượng mưa trung bình là 1.400mm.
- Thuỷ văn: Si Ma Cai có sông chảy và các con suối lớn như suối Hoá Chu
Phùng, Cán Cấu, Cán Hồ, Sín Chéng…
Đặc trưng dòng chảy của huyện, do mưa phân bố không đều, địa hình dốc, độ che
phủ của rừng thấp, nên vào mùa mưa nước tập trung nhiều gây ra lũ, sạt lở núi, sạt lở
đường. Trong khi đó mùa khô nước lại cạn kiệt, thậm chí thiếu cả nước sinh hoạt hàng
ngày.
c. Tài nguyên nguyên liệu:
* Tài nguyên khoán sản: Si Ma Cai nghèo về tài nguyên khoán sản trên địa bàn
của huyện chỉ có một số mỏ nhỏ, giá trị kinh tế không cao bao gồm những mỏ sau:
Mỏ kẽm chì nằm ở khu vực cao của xã Bản Mế trữ lượng ZN ở cấp P3 khoản
50.000 tấn.
Mỏ đá xây dựng ở hầu hết các xã trong huyện, trữ lượng lớn hàng trăm triệu m
3
.
Mỏ đất sét có khả năng sản xuất gạch, ngói nằm rải rác ở các xã Si Ma Cai, Bản
Mế, Sín Chải, Nàn Sán, Sín Chéng.
* Nguyên liệu: Tài nguyên rừng của Si Ma Cai có diện tích là 4.298,4ha. Trong
đó rừng trồng là 1.405,9ha, rừng tự nhiên là 2.892,5ha. Rừng Si Ma Cai có nhiều loại gỗ
chủ yếu là nhóm 5, nhóm 6 trữ lượng khoản 400.000m
3
, ngoài gỗ rừng còn có nhiều loại
11
lâm sản khác như: Song, mây, nứa và nhiều loại cây rừng khác có thể cung cấp nguyên
liệu cho sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.

2. Điều kiện kinh tế - xã hội
a. Dân số và lao động:
* Dân số: Theo thống kê mới nhất, tổng dân số huyện Si Ma Cai năm 2000 có 25.325
người với cộng đồng của 11 dân tộc anh em. Dân tộc có số dân đông nhất là người H'Mông
chiếm 81,7% ( 20.701 người). Dân tộc Nùng chiếm 10,93% (2.764 người) và các dân tộc
khác như Kinh, Thu Lao, Phù Lá…
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm bình quân từ 1,732%. Mỗi năm tỷ lệ này
giảm từ 0,3 - 0,45.
Mật độ dân cư trung bình toàn huyện là 107 người/km
2
song phân bố không đều
chủ yếu tập trung ở các xã Si Ma Cai, Bản Mế, Cán Cấu, Lử Thân, Nàn Sán, Sín Chéng
còn lại các xã khác dân cư thưa thớt mật độ dân cư bình quân khoảng 60 - 80 người/km
2
.
* Lao động: Lực lượng lao động chủ yếu là người địa phương trong đó lao động
thuần nông chiếm 40% dân số.
- Lao động nông, lâm nghiệp có khoản 9.000 người.
- Lao động tiểu thu công nghiệp: 170 người.
- Lao động dịch vụ: Có 48 người.
- Cán bộ, công nhân viên chức: 710 người.
Lực lượng kế cận trong độ tuổi từ 15 - 17 chiếm 8 - 10% lao động của toàn
huyện. Lao động có việc làm thường xuyên chiếm khoảng 70% trong độ tuổi. Số cán bộ
quản lý là người kinh chiếm khoảng 70% còn lại là người địa phương.
b. Kết cấu hạ tầng:
* Giao thông: Si Ma Cai là huyện vùng cao, giao thông đi lại hết sức khó khăn,
chủ yếu là đường bộ được dải cấp phối và đường đất. Trong đó đường cấp phối rộng
4,5m; đường đất rộng 4m; đường vào thôn bản rộng 2m. Hiện nay Si Ma Cai đã có 13/13
xã có đường giao thông.
Đường tỉnh lộ dài 16km, tiêu chuẩn đường mới đạt ở cấp A giao thông nông thôn

miền núi mới được nâng cấp.
- Đường liên tỉnh: Có tuyến Bản Mế - Si Ma Cai - Lùng Phìn - Sí Mần (Hà
Giang) chiều dài 36km.
Đường huyện. Có tổng chiều dài 57km bao gồm các tuyến chính như: Si Ma Cai
- Sín Chéng - nàn Sín dài 18km đã được nâng cấp rải mặt đá dăm đường Si Ma Cai - Cán
Hồ - Quan Thần Sán dài 10km.
12
- Đường liên thôn có tổng chiều dài khoản 200km chủ yếu là đường đất, phục vụ
chủ yếu cho ngựa và người đi bộ.
* Điện: Điện lưới quốc gia của huyện Si Ma Cai đã có đường dây 35kv qua các
xã Lử Thẩn, Si Ma Cai, Sán Chải, Nàn Sán, Lùng Sui, Cán Cấu chiều dài đường dây
0,4kv khoảng 30km. Ngoài ra còn đang kéo đường dây 0,4 kv vào Sín Chéng - Nàn Sín
với chiều dài khoảng 10km. Máy thuỷ điện nhỏ ít được nhân dân sử dụng.
* Thuỷ lợi: Si Ma Cai đã xây dựng trên 52 công trình thuỷ lợi lớn và nhỏ. Chiều
dài hệ thống kênh mương trên 70km để phục vụ tưới cho 601 ha lúa chiếm 84,3% diện
tích lúa của toàn huyện. Hiện nay, chương trình 135 của chính phủ, chương trình kiên cố
hoá kênh mương, đã đầu tư nâng cấp thêm 07 công trình phục vụ tưới, tiêu cho diện tích
lúa xuân và lúa vụ mùa.
* Nước sinh hoạt: Nước ăn cho nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Huyện đã đầu
tư xây dựng công trình thuỷ lợi để lấy nước tưới cho ruộng và kết hợp cấp nước sinh hoạt
cho nhân dân. Hiện tại 82/90 thôn bản hệ thống nước sinh hoạt đã được đầu tư xây dựng.
c. Văn hoá xã hội:
* Y tế: Trên địa bàn huyện đã được đầu tư xây dựng 13 trạm y tế xã từ nhà cấp IV
đến nhà cấp III đạt 100% xã có trạm y tế xã bình quân mỗi trạm có 4 giường bệnh điều
trị, 2 phòng khám đa khoa và 01 bệnh viện trung tâm với tổng số 54 giường điều trị
trong đó:
- Số bác sĩ là 07 người
- Số y sĩ và hộ lý là 40 người.
* Về giáo dục và đào tạo
Hệ thống giáo dục mầm non: Toàn huyện có 61 lớp học nhà trẻ mẫu giáo với

1.239 cháu, trong đó tổng số học sinh hệ mầm non dân lập là 120 cháu đạt gần 9,7%
Tổng số trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ mẫu giáo.
Hệ giáo dục phổ thông: Hiện nay đã có 306 lớp với tổng số giáo viên 485 người
trong đó giáo viên tiểu học 338, giáo viên trung học cơ sở 84 người. tỷ lệ học sinh trong
độ tuổi đến lớp đạt 92,0% với 6.918 học sinh. Ngoài ra còn mở 2 lớp bổ túc văn hoá tập
trung, 2 lớp văn hoá tại chức.
Đến nay công tác phổ cập giáo dục tiểu học có 13/13 xã 100% đạt chuẩn phổ cập
giáo dục tiểu học, chống mù chữ.
Đội ngũ giáo viên hầu hết là các thày cô giáo có trình độ, tỷ lệ giáo viên nữ chiếm
70% trong tổng số giáo viên của huyện.
13
II. THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN Ở HUYỆN
SI MA CAI:
1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của huyện SiMaCai.
Huyện Si Ma Cai mới được tái lập tháng 09 năm 2000, trước năm 2000 địa bàn Si
Ma Cai thuộc sự quản lý của huyện Bắc Hà, trong thời gian này chuyển dịch cơ cấu kinh
tế còn nhỏ và chậm. Một số diện tích đất trồng ngô, hoa màu được chuyển sang làm
ruộng bậc thang, trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao hơn như cây đậu tương, cây
mận…Từ khi được tái lập cơ cấu kinh tế huyện Si Ma Cai có sự chuyển biến mạnh mẽ
hơn.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện thời kỳ 2000- 2002 nhìn tổng thể cả thời
kỳ có sự chuyển dịch theo hướng thuận phù hợp với quy luật chung của cả nước (Tỷ
trọng ngành trồng trọt có xu hướng giảm dần và tăng tỷ trọng ngành tiểu thủ công
nghiệp, ngành chăn nuôi và dịch vụ).
Ngành trồng trọt giảm 1,14% (Từ năm 2000-2002), tỷ trọng ngành tiểu thủ công
nghiệp tăng 1,03%, ngành chăn nuôi tăng 0,03%, ngành dịch vụ tăng 0,08% (Từ năm
2000-2002).
Như vậy để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện cần thiết phải đẩy
mạnh và tập trung phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp, ngành chăn nuôi và dịch vụ để
tăng nhanh tỷ trọng của các ngành này trong cơ cấu giá trị sản phẩm, đồng thời khai thác

hiệu quả các tiềm năng và nguồn lực của huyện.
Biểu 1: Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất của huyện Si Ma Cai.
Chỉ tiêu 2000 2001 2002
Giá trị sản phẩm (triệu đồng)
1. Ngành trồng trọt
2. Ngành tiểu thủ công nghiệp
3. Ngành chăn nuôi
4. Ngành dịch vụ
91.046
79.240
9.235
2.085
486
93.120
80.734
9.802
2.068
516
95.680
82.192
10.740
2.164
584
Cơ cấu giá trị sản phẩm (%)
1. Trồng trọt
2. Tiểu thủ công nghiệp
3. Chăn nuôi
4. Dịch vụ
100,0
87,04

10,14
2,29
0,53
100,0
86,70
10,53
2,23
0,55
100,0
85,90
11,27
2,26
0,61
Nguồn: Số liệu thống kê huyện Si Ma Cai
2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp (bao gồm: nông nghiệp, lâm
nghiệp, thuỷ sản)
a. Nông nghiệp:
14
* Ngành trồng trọt
Trong những năm qua ngành sản xuất trồng trọt của huyện đã có những kết quả
đáng kể, diện tích năng suất, sản lượng của các cây trồng hầu như đều tăng. Về diện tích
gieo trồng của huyện năm 2002 tăng so với năm 2000 là 165ha. Diện tích lúa chủ yếu là
một vụ, trên cơ sở tăng cường đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi, áp dụng các tiến
bộ kỹ thuật đưa giống cây trồng có năng suất cao vào sản xuất trên toàn bộ diện tích lúa.
Trong những năm gần đây đã đưa giống lúa ngắn ngày có năng suất cao vào gieo trồng 2
vụ ở các xã như Bản Mế, Si Ma Cai, Sín Chéng, Nàn Sín bước đầu đã có những kết quả
đáng khích lệ làm tăng diện tích canh tác lúa nước. Đồng thời năng suất lúa cũng tăng
nhanh do áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất được tăng cường giống mới có năng suất
cao được sử dụng. DT các cây trồng khác cũng tăng cụ thể sau:
+ Cây thực phẩm tăng từ 512ha (2000) lên 527 ha (2002)

+ Cây công nghiệp ngắn ngày tăng 43 ha năm 2002 so với năm 2000 đây là loại
cây trồng có giá trị kinh tế cao, có ý nghĩa hàng hoá và tham gia vào chuyển đổi cơ cấu
cây trồng của huyện đáng chú ý là cây đậu tương và cây lạc.
+ Cây công nghiệp dài ngày tăng lên 28 ha (năm 2002 so với năm 2000 chủ yếu
là cây chè cao.
+ Cây ăn quả tăng 12 ha năm 2002 so với năm 2000.
Nhìn chung diện tích các loại cây trồng đều tăng song các cây trồng ăn quả; cây
thực phẩm và cây công nghiệp diện tích còn nhỏ và tăng chậm so với cây lương thực đây
cũng là điều đáng quan tâm trong vấn đề chuyển đổi cây trồng, chuyển đổi cơ cấu sản
xuất của huyện.
15
Biểu 2: Cơ cấu cây trồng huyện Si Ma Cai.
Chỉ tiêu
2000 2001 2002
Diện tích
(ha)
Tỷ trọng
(%)
Diện tích
(ha)
Tỷ trọng
(%)
Diện tích
(ha)
Tỷ trọng
(%)
1. Cây lương thực 4.369 67,50 4414 67,82 4430 66,75
2. Cây thực phẩm 512 7,91 514 7,91 527 7,94
3. Cây công nghiệp
ngắn ngày

146 2,26 149 1,78 189 2,84
4. Cây công nghiệp
dài ngày
820 12,67 826 12,69 848 12,84
5. Cây ăn quả 620 9,58 600 9,22 632 9,52
6. Cây khác 5 0,08 5 0,08 11 0,17
Tổng diện tích gieo
trồng
6.472 100,0 6.508 100,0 6.637 100,0
Nguồn: Số liệu thống kê huyện Si Ma Cai
*. Chăn nuôi
Qua tìm hiểu số liệu cho thấy tình hình phát triển đàn gia súc gia cầm của huyện
Si Ma Cai đang trong quá trình tăng nhanh. Do huyện mới được tái lập, một bộ phận dân
cư lớn được tập trung vào địa bàn của huyện đã làm cho nhu cầu về thực phẩm tăng dẫn
đến ngành chăn nuôi của huyện cũng phát triển. Đáng chú ý là chăn nuôi lợn và gia cầm,
đây là hai ngành chăn nuôi lấy thịt chủ yếu, với tốc độ tăng bình quân đàn lợn đạt
21,56% năm, và đàn gia cầm đạt 20,27% năm. Trong khi đó đàn ngựa của huyện cũng là
1 đàn gia súc được coi trọng nhưng đang có xu hướng giảm. Toàn huyện chỉ còn hơn 200
con phân tán ở một số xã có địa hình phức tạp như Nàn Sín, Thảo Chủ Phìn.
16
Biểu 3: Đàn gia súc gia cầm huyện Si Ma Cai ( 2000 - 2002)
Chủng loại 2000 2001 2002 Tốc độ tăng trưởng (% năm)
1. Đàn trâu 10.562 10.852 10.870 2,9
2. Đàn bò 1.025 1.062 1.140 11,21
3. Đàn lợn 15.030 17.560 18.270 21,56
4. Đàn dê 18.260 18.850 19.070 4,43
5. Gia cầm 140.890 168.800 169.450 20,27
Nguồn: Số liệu thống kê huyện Si Mai Cai
Hiện nay bình quân mỗi hộ nuôi 1,8 con trâu, bò, khoản 3,3 con lợn và 30 con gia
cầm. Đàn dê được nuôi chủ yếu ở các xã Si Ma Cai, Nàn Sán, Sín Chéng và Sán Chải.

Tuy là một huyện miền núi nhưng điều kiện phát triển chăn nuôi cũng khá thuận lợi chủ
yếu là chăn nuôi ọ gia đình. Với địa hình đồi núi đá rất phù hợp với chăn nuôi dê, song
hiện nay vẫn còn nhiều tiềm năng chưa khai thác được.
b. Lâm nghiệp
Trong những năm gần đây rừng huyện Si Ma Cai kiệt quệ. Các loại gỗ quý hiếm,
gỗ lâu năm đã bị khai thác, chặt phá bừa bãi không có quy hoạch làm cho diện tích R che
phủ giảm nghiêm trọng. Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 23.454 ha. Trong đó diện
tích rừng là 4.298,4h, chiếm 18,3% tổng diện tích tự nhiên. Trong khi đó rừng tự nhiên
là 2.892,5 ha, chiếm 11,335 diện tích tự nhiên, rừng trồng là 1.405,9ha, chiếm gần 6,05
diện tích tự nhiên. Rừng trồng chủ yếu là cây thông có giá trị kinh tế cao, tuy nhiên còn
chưa đáp ứng được nhu cầu khai thác của thị trường. So với những năm trước thì diện
tích rừng có sự tăng lên đáng kể. Năm 1999 diện tích rừng chỉ có 3.680,6ha thì năm 2002
là 4.298,4ha, đối với rừng trồng năm 1999 diện tích là 1.012,4ha thì năm 2002 là
1.405,9ha.
17
Biểu 4: Tình hình biến động rừng huyện Si Ma Cai ( 1999 -2002)
Chỉ tiêu Đơn vị 1999 2000 2001 2003
1. Trồng rừng tập trung (ha) 470 660 908 1020
2. Trồng cây phân tán (1000,0 cây) 346,6 476,8 650 620
3. Chăm sóc rừng (ha) 20 20 22 26
4. Gỗ tròn khai thác (m
3
) 575 250 365 340
5. Tre, nứa luồng khai thác (1000,0 cây) 186 150 167 178
6. Rất R - diện tích R đã giao các hộ (ha) 300 350 505 780
7. Diện tích rừng bị thiệt hại (ha) 46,5 35 25,2 20
- Bị phá (ha) 12,2 13,5 25,2 18
- Bị cháy (ha) 34,3 12,0 - 2
- Bị sâu bệnh (ha) - 0,5 - -
Nguồn: Số liệu thống kê huyện Si Ma Cai

Từ biểu số liệu trên ta thấy trong những năm gần đây đặc biệt từ khi huyện được
tái lập lại diện tích trồng rừng đã được tăng lên. Diện tích được chăm sóc - bảo vệ và
giao cho các hộ cũng tăng lên. Trong khi đó hạn chế lượng khai thác. Đây là xu hướng
phát triển có tính chiến lược lâu dài phù hợp với xu thế phát triển lâm nghiệp, bảo vệ môi
trường sinh thái, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
c. Thuỷ sản:
Với địa hình chủ yếu là núi cao, độ dốc lớn, số lượng sông suối không nhiều, nhỏ
và phân tán. Vì vậy việc phát triển thuỷ sản của huyện Si Ma Cai là rất khó khăn. Giá trị
ngành thuỷ sản chiếm tỷ trọng nhỏ. So vưói các ngành khác thủy sản chỉ chiếm khoản
0,8% năm 2002 của nông nghiệp diện tích mặt nước dùng vào thuỷ sản cũng đã và đang
được mở rộng. Tuy nihên tiềm năng phát triển ngành thuỷ sản của huyện không nhiều
mặt dù huyện có 32,8km đường biên giới là một đoạn của sông chảy song việc phát triển
thuỷ sản ở đây còn là vấn đề mới mẻ.
3. Chuyển dịch cơ cấu ngành phi nông nghiệp.
a. Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Huyện Si Ma Cai mới được tái lập tháng 9 năm 2000, nhưng sản xuất công
nghiệp - tiểu thủ công nghiệp bước đầu đã đạt được những kết quả khá khả quan. Công
nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm phát triển nhanh. Sản xuất và sửa chữa cơ khí nhỏ
(chủ yếu là sản xuất nông cụ), sản xuất vật liệu xây dựng phát triển mang tính đột phá.
Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp năm 2002 đạt 10.740 triệu đồng (giá cố định năm
1994), bằng 262% kế hoạch năm, tốc độ tăng trưởng đạt 16,3% năm. Tuy nhiên, sản xuất
công nghiệp tiểu thủ công nghiệp Si Ma Cai còn nhỏ bé, lạc hậu, mang tính tự cấp và tự
phát. Hiện nay, toàn huyện chỉ có 2 doanh nghiệp, 01 hợp tác xã, 02 tổ hợp tác và 332 hộ
gia đình tham gia sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. Sản phẩm chủ yếu là
lương thực, thực phẩm, nông cụ cầm tay và vật liệu xây dựng. Giá trị sản xuất công
18
nghiệp - tiểu thủ công nghiệp còn chiếm tỷ tọng thấp trong GDP của huyện ( khoản
10%). Trong đó:
Ngành nghề chế biến nông, lâm sản thực phẩm: Giá trị sản xuất trong lĩnh vực
này của huyện năm 2002 đạt 6444 triệu đồng, chiếm 61,16% giá trị sản xuất công nghiệp

- tiểu thủ công nghiệp. Về số lượng cơ sở sản xuất có 317 cơ sở. Trong đó có có 212 hộ
gia đình sản xuất rượu, 02 cơ sở sản xuất đồ mộc dân dụng và 103 hộ gia đình sản xuất
bún, bánh đậu phụ, xay xát lương thực. Tuy nhiên, trình độ sản xuất chế biến nông lâm
sản của huyện còn nhỏ bé, và lạc hậu: Sản xuất ở các hộ gia đình, mang tính sơ chế, thủ
công nên sản phẩm làm ra có giá trị kinh tế thấp, chủ yếu là tiêu thụ tại chỗ chưa chiếm
lĩnh được thị trường và chưa mở được đầu ra cho sản xuất nông, lâm nghiệp.
Ngành sản xuất vật liệu xây dựng: Huyện Si Ma Cai có nhiều tài nguyên để sản
xuất vật liệu xây dựng như mỏ cát Bản Mế, mỏ đá và đất sét tại các xã Si Ma Cai, Bản
Mế, Sín Chải, Nàn Sín có trữ lượng hàng trăm triệu m
3
. Tuy nhiên sản xuất vật liệu xây
dựng của huyện chưa phát triển. Hiện nay sản xuất vật liệu xây dựng của huyện chỉ có 02
doanh nghiệp, 1 hợp tác xã và 2 tổ hợp tác với khoản gần 100 lao động. Sản xuất mang
tính thủ công, chưa sử dụng nhiều máy móc. Giá trị sản xuất vật liệu xây dựng còn thấp
do chủ yếu tiêu thụ tại chỗ và đang gặp khó khăn về thị trường. Năm 2002 giá trị sản
xuất vật liệu xây dựng đạt 1.075 triệu đồng. Sản phẩm chủ yếu bao gồm: Gạch xây dựng
là 2.000.000 viên, đá xây dựng 1.000m
3
; cát 6.500m
3
Sản xuất và sửa chữa cơ khí nhỏ: Chủ yếu là sản xuất nông cụ cầm tay. Toàn
huyện có 17 lò rèn, đúc theo thời vụ, 02 hộ sản xuất kinh doanh hàng nông cụ chuyên
nghiệp và 1 tổ sản xuất nông cụ hợp tác xã sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng Si
Ma Cai. Năm 2002 giá trị sản xuất và sửa chữa cơ khí của huyện đạt khoảng 742 triệu
đồng. Các sản phẩm chủ yếu là dao, cuốc, xẻng và lưỡi cày các loại. Các hộ gia đình và
tổ sản xuất thuộc hợp tác xã sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng Si Ma Cai còn thiếu
máy móc, thiết bị, lao động chưa có tay nghề được đào tạo.
b. Ngành dịch vụ:
Huyện Si Ma Cai ngành dịch vụ đang phát triển song còn chậm chiếm tỷ trọng
nhỏ. Giá trị dịch vụ năm 2002 đạt 584 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng 20% năm. Các dịch

vụ như may mặc, thuỷ điện mi ni còn ít phát triển. Hiện nay huyện Si Ma Cai đã có khá
nhiều hộ gia đình làm may thủ công và một số máy thuỷ điện nhỏ. Tuy nhiên khả năng
phát triển của những ngành, nghề này đang gặp rất nhiều khó khăn. Dịch vụ sửa chữa
máy móc nông nghiệp, ô tô, xe máy, điện dân dụng chưa phát triển nhiều. Dịch vụ nông
nghiệp của huyện tập trung vào các hoạt động cung ứng vật tư phân bón và thực hiện một
số dịch vụ khác như dịch vụ tiêm phòng dịch vật nuôi, dịch vụ vật tư bảo vệ thực vật,
19
dịch vụ giống con, cây trồng, những dịch vụ này còn ở mức thấp. Do công tác phổ biến
kỹ thuật và trình độ nhận thức của người nông dân còn chưa được phối hợp chạt chẽ.
4. Những kết quả đạt được và vấn đề đạt ra cần giải quyết.
a. Kết quả:
Từ việc nghiên cứu thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Si Ma Cai
cho thấy cơ cấu kinh tế của huyện đang từng bước thay đổi chuyển dịch từ thuần nông
sang sản xuất hàng hoá, có sự thay đổi về tỷ trọng ngành nông nghiệp đó là ngành chăn
nuôi ngày càng phát triển nhanh hơn, chiếm tỷ trọng tăng dần lên so với ngành trồng trọt,
gia súc, gia cầm cũng phát triển mạnh đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong
huyện và hướng tới toàn tỉnh. Từ đó đời sống nhân dân của huyện cũng được nâng lên.
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển nhanh với tốc độ tăng trưởng 16,3% năm,
đã tạo điều kiện thu hút lao động từ nông nghiệp. Trong nội bộ nông nghiệp tốc độ phát
triển cao nhờ vào quá trình chuyển dịch cơ cấu, cơ cấu hợp lý, áp dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật… dẫn đến năng suất các loại cây trồng tăng lên đặc biệt là cây lương thực tạo
tiền đề cho sự phát triển đa dạng hoá, chuyên môn hoá sản xuất. Cơ cấu lao động cũng
được chuyển đổi dần từ nông nghiệp sang hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ
công nghiệp và các ngành dịch vụ khác. Đổi mới cơ cấu kinh tế và chính sách của nhà
nước, tạo điều kiện cho nông dân phát triển kinh tế và cải thiện đời sống của nhân dân,
dân trí được mở rộng và phúc lợi xã hội cũng được nâng lên.
b. Vấn đề đạt ra cần giải quyết.
Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra chậm chạp, sản xuất nông nghiệp
trong đó đặc biệt cây lương thực còn chiếm tỷ trọng lớn, chưa khai thác tốt các lợi thế
của huyện.

Ruộng đất phân tán, manh mún hoạt động chưa hiệu quả làm năng suất cây trồng,
vật nuôi và năng suất lao động còn chưa cao.
Chủ yếu vẫn là sản phẩm thô dẫn đến thừa trong thời vụ và thiếu hụt trái vụ
không đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường lớn.
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp còn lạc hậu mang tính thủ công là chủ yếu,
chưa mang tính sản xuất hàng hoá cao.
Các cơ sở sản xuất còn thiếu vốn đầu tư và phát triển đặc biệt là đầu tư cho công
nghiệp chế biến nông sản, công nghệ, thiết bị cho sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công
nghiệp.
Quản lý nhà nước của huyện còn yếu kém. Huyện thiếu cán bộ chuyên trách để
theo dõi và tư vấn cho sản xuất nông nghiệp, cũng như công nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp.
20
PHẦN III
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
I. PHƯƠNG HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở HUYỆN SI MA CAI.
1. Giảm nông nghiệp, tăng ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch
vụ:
Với đặc điểm huyện miền núi biên giới núi cao độ dốc lớn, kinh tế xã hội chậm
phát triển, dân trí thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém… là những thách thức lớn trong quá trình
phát triển, nên việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy trong
chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải từng bước vững chắc, lấy sản xuất, nhất là sản xuất hàng
và hiệu quả kinh tế đầu tư để làm cơ sở so sánh đánh giá, giải quyết những bức xúc về xã
hội, cải thiện từng bước đời sống của nhân dân, nâng cao tích lũy nội bộ. Để đạt được
những kết quả này với điều kiện tự nhiên sẵn có diện tích đất nông nghiệp là 6.694,46ha
như vậy tuy là huyện dựa trên phát triển nông nghiệp là chủ yếu nhưng khả năng mở
rộng diện tích canh tác lại không còn nhiều, muốn phát triển nền kinh tế tất yếu phải có
chủ trương lâu dài trong việc chuyển hướng dần từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất
công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
Trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, việc chuyển dịch từ ngành nông nghiệp

sang sản xuất ngành phi nông nghiệp còn là vấn đề bức xúc và hết sức khó khăn, số
lượng dân trí thấp còn quá lớn. Điều này đòi hỏi các nhà lãnh đạo chức trách của huyện
có biện pháp phù hợp để người dân tiếp cận với nền kinh tế thị trường. Có sự hướng dẫn
tập huấn ở các xã và có biện pháp khuyến khích tạo điều kiện cho phát triển ngành phi
nông nghiệp, dự kiến đến năm 2010 giá trị sản xuất ngành phi nông nghiệp trong GDP
của huyện đạt từ 15 - 20% trở lên. Trong đó ngành công nghiệp tiểu thủ công nghiệp đạt
4,5 tỷ đồng trở lên (GDP năm 1994), tạo việc làm mới cho 150 -200 lao động. Ngành
dịch vụ đạt 0,95 tỷ đồng tạo việc làm mới cho khoản 100 lao động.
Ưu tiên đầu tư cho công tác nghiên cứu, tiếp thu và ứng dụng tiến bộ khoa học,
kỹ thuật vào công tác bảo quản, chế biến nông sản. Gắn sản xuất nông, lâm nghiệp - công
nghiệp với thị trường tiêu thụ và xuât khẩu.
2. Giảm trồng trọt, tăng chăn nuôi.
Qua điều tra số liệu thống kê cho thấy tỷ trọng ngành chăn nuôi so với ngành
trồng trọt. Còn quá thấp mới chỉ đạt 2,6% so với ngành trồng trọt. Năm 2000 ngành chăn
nuôi đạt 2,26% tổng giá trị sản phẩm, với chỉ tiêu này đủ thấy được ngành chăn nuôi của
huyện Si Ma Cai còn rất nhỏ bé mới chỉ mang tính chất tự cung tự cấp phục vụ nhu cầu
tại chỗ. Với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội hiện nay của huyện thì nguồn lực phát triển
21
ngành chăn nuôi còn chưa được khai thác và khai thác chưa phù hợp. Nhiều vùng diện
tích đất trồng hoa màu, trồng cây lương thực (ngô) năng suất thấp giá trị kinh tế lại
không cao như khu vực giáp bờ sông chảy của xã Sín Chéng, Thào Chủ Phìn, thôn Cốc
Dế của xã Bản Mế khu bờ sông của Nàn Sán và Sán Chảy các khu vực này có tổng diện
tích hơn 260ha là vùng có thể chăn nuôi các đại gai súc như bò để lấy thịt và chăn nuôi
dê theo hướng sản xuất hàng hoá, đồng thời đẩy mạnh chăn nuôi toàn diện các loại gia
súc khác và gia cầm theo hướng thành lập các trang trại chăn nuôi nhỏ ở các xã như Bản
Mế, nàn Sán, Sán Chải và Sín Chéng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, nâng cao
chuyên môn hoá sản xuất. Mặt khác thu hút lao động từ ngành trồng trọt, nâng cao chất
lượng sản phẩm, mở rộng tị trường nông sản. Đưa giá trị sản phẩm ngành chăn nuôi đến
năm 2010 đạt 6.750 triệu đồng tăng so với năm 2002 là 4.586 triệu đồng.
3. Giảm cây có giá trị thấp trong trồng trọt:

Hiện nay trên toàn huyện các loại cây trồng chủ yếu trong ngành trồng trọt là cây
lúa nước, ngô, cây đậu tương, cây lạc, cây thuốc lá, và các loại cây hoa màu khác. Song
được phổ biến nhất là cây lúa nước, ngô và cây đậu tương. Đậu tương là cây trồng có giá
trị kinh tế cao và rất phù hợp với loại đất và điều kiện khí hậu của huyện. Đây là loại cây
trồng có ý nghĩa hàng hoá và tham gia vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng của huyện.
Như vậy việc đẩy mạnh trồng cây đậu tương là thực sự cần thiết trong chiến lược chuyển
dịch cơ cấu cây trồng của huyện. Nếu tính giá trị trên một đơn vị diện tích thì giá trị của
cây đậu tương lớn hơn nhiều so với cây ngô, thậm chí có nơi còn cao hơn cả trồng lúa
nước, nhưng do nhận thức của người dân còn quá xa với việc sản xuất hàng hoá và
chuyên môn hoá trong nông nghiệp, tật tục canh tác tự cung tự cấp nên việc chuyển đổi
cây trồng gặp không ít những trở ngại và khó khăn cho các nhà hoạch định chính sách.
Trên địa bàn huyện còn có thể trồng cây thuốc lá phát triển rất tốt. Năm 2002 đã trồng
30ha thuốc lá, nhưng công tác bảo quản, sơ chế chưa kịp thời nên không đạt được yêu
cầu đạt ra sau thu hoạch. Các loại cây ăn quả như mận tam hoa, mận địa phương, lê và 1
số cây thảo dược khác cũng phù hợp trồng và có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên việc tăng
diện tích trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao này cần phải có kế hoạch, nghiên cứu và
tìm đầu ra của sản phẩm, do đặc điểm của cây trồng, chưa có kế hoạch và phương pháp
bảo quản sản phẩm nên luôn bị thừa, hoặc bán với giá rất thấp vào mùa vụ, thiếu hụt và
không có vào trái vụ. Xét về giá trị sản phẩm cần giảm diện tích trồng ngô. Đây là loại
cây trồng chiếm diện tích lớn nhất trong trồng trọt nhưng giá trị kinh tế lại không được
cao.
II. NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN Ở
HUYỆN SI MA CAI
1. Vấn đề quy hoạch ruộng đất và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn.
22
a. Vấn đề quy hoạch ruộng đất.
Ruộng đất luôn là vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn đặc biệt là
trong nông nghiệp. Do vậy giải pháp về ruộng đất là hết sức cần thiết trong việc chuyển
đổi cơ cấu kinh tế, tạo môi trường thuận lợi để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn. Để phát huy hiệu quả các chính sách về đất đai nhằm tạo điều kiện cho các hộ nông

dân yên tâm phát triển sản xuất hàng hoá, cần tập trung vào các mục tiêu giải phóng các
quan hệ hành chính trói buộc ruộng đất vào người dân, thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ
và tập trung ruộng đất, giảm lao động nông nghiệp, phát triển các khu vực kinh tế khác.
Tuy nhiên những thay đổi này phải được tiến hành một cách nhất quán, đồng bộ. Tuy
luật đã có 5 quyền năng gắn với đất đai nhưng trên thực tế các hoạt động theo các quyền
năng ấy diễn ra chậm chạp, ảnh hưởng lớn đến việc tích tụ, tập trung ruộng đất, dẫn đến
ruộng đất manh mún, quyền lợi chưa sát sườn người nông dân. Vì vậy trong thời gian tới
huyện Si Ma Cai cần tập trung giải quyết theo phương châm:
- Hoàn thiện nhanh chóng luật đất đai.
- Cần phải triệt để hoàn thành việc giao đất, khoán rừng.
- Khuyến khích việc chuyển đổi, tích tụ và tập trung ruộng đất vào những người
có khả năng sản xuất kinh doanh giỏi.
b. Xây dựng cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng của một vùng lãnh thổ hoặc 1 địa phương là môi trường để phát
triển kinh tế. Do vậy việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để phục vụ sản xuất, phát triển
kinh tế là một giải pháp không thể thiếu được trong thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn.
Trong những năm qua, đặc biệt từ khi được tái lập, huyện Si Ma Cai đã được nhà
nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, một số hệ thống cơ sở vật chất tương đối lớn như hệ
thống giao thông, thuỷ lợi, chợ, trạm trường… song so với yêu cầu và sự phát triển mạnh
mẽ của thị trường hiện nay cần có sự quan tâm, chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng để tạo
môi trường thuận lợi cho nền kinh tế phát triển. Hiện nay trong toàn huyện mới chỉ có 4
xã có điện lưới quốc gia (Si ma Cai, Nàn Sán, Sán Chải, Cán Cấu) có 3 xã ( Mản Thẩn,
Sín Chéng, Nàn Sín) đang thi công dự kiến năm 2004 các xã này được sử dụng điện. Như
vậy cần tăng cường hệ thống cung cấp điện cho các xã, nâng cấp hệ thống phát sóng của
các trạm truyền hình đặc biệt là trạm truyền hình cụm xã Sín Chéng để các thông tin đến
với người dân, nâng cao sự hiểu biết xã hội và trình độ sản xuất của dân. Mở rộng các
tuyến giao vào thôn bản đảm bảo trao đổi hàng hoá giữa các vùng. Đầu tư nâng cấp mở
mới đoạn đường Bản Mế - Tả Gia Khâu - Pha Long của huyện Mường Khương và đoạn
đường Si Ma Cai thông với đoạn đường của huyện Mã Quan (Trung Quốc) nhằm giao

lưu kinh tế bên ngoài mở rộng thị trường hàng hoá trong huyện. Thực hiện nhanh chóng
23
và đầu tư cơ sở vật chất khai thác mỏ kẽm ở bản mế. Đầu tư công nghệ chế biến và bảo
quản nông sản khắc phục dư thừa nông sản phẩm trong thời vụ và thiếu hụt trái vụ. Về
thuỷ lợi về cơ bản đã tương đối ổn định, cần nâng cấp một số đập xây như đập ở Ngải
Phóng chỗ (xã Sín Chéng), Hoá Sư Phùng (Sán Chải).
2. Giải pháp về vốn, thị trường, đào tạo dân trí
a. Giải pháp về vốn
Trước hết là huy động vốn nhàn rỗi trong dân thông qua hệ thống tài chính - ngân
hàng đây là nguồn vốn lớn còn đọng lại chưa được khai thác triệt để. Có chính sách hợp
lý huy động vốn nhiều hơn để đầu tư cho cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế biến và bảo
quản.
Củng cố phát triển thị trường vốn ngắn hạn truyền thống ở nông thôn đã được
nhân dân chấp thuận, mở rộng mạng lưới hoạt động ngân hàng tới các cụm xã, liên xã
gắn liền với các tổ chức tín dụng. Phát huy tốt vai trò của các quỹ tín dụng nhân dân, của
các đoàn thể thanh niên, phụ nữ… Và các hiệp hội như: Nông dân, cựu chiến binh, hộ
làm vườn… trong hỗ trợ sản xuất tạo công ăn việc làm, phối hợp chặt chẽ giữa các
ngành, các cấp, các hiệp hội… tạo điều kiện và môi trường pháp lý để tận dụng và khai
thác có hiệu quả các nguồn vốn vay.
Sử dụng hợp lý nguồn vốn ngân sách, khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho
các dự án đầu tư cả trong nước và nước ngoài vào nền kinh tế huyện nhà.
b. Giải pháp về thị trường
Qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá thì
yếu tố thị trường là rất quan trọng. Nền kinh tế muốn phát triển mạnh thì phải mở rộng và
phát triển thị trường đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ hàng hoá.
Đào toạ đội ngũ cán bộ có kiến thức về thị trường, đẩy mạnh công tác tìm kiếm
thị trường trong tỉnh, trong nước và nước ngoài, tư vấn cho các xã để đổi mới đa dạng
hoá sản xuất và ổn định việc tiêu thụ sản phẩm. Chuyển dịch nền kinh tế của huyện gắn
liền với kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phát triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý
vĩ mô của nhà nước.

Tổ chức tốt các thông tin về thị trường đặc biệt là dự báo cung - cầu của thị
trường, thông qua các hệ thống như khuyến nông, mặt khác đưa ra các thông tin về thị
hiếu, tập quán, sở thích của người tiêu dùng qua đó thị trường không những phát triển
theo chiều rộng mà còn phát triển cả về chiều sâu.
Tạo điều kiện cho các trung gian kinh tế, nhất là thương nghiệp đảm trách khâu
tiêu thụ cho nông dân, hình thành cơ chế gắn bó giữa người sản xuất và người tiêu thụ.
Tuyên truyền khuyến khích tập quán tiêu dùng của người dân, làm thay đổi nhận thức
trong sinh hoạt, cách tiêu dùng… nâng cao sức mua của dân cư.
24
c. Giải pháp về đào tạo dân trí:
Si Ma Cai là một huyện miền núi trình độ dân trí còn thấp kém, đại đa số là đồng
bào các dân tộc ít người. Vị trí địa hình của huyện phức tạp và cách xa trung tâm tỉnh. Vì
vậy đào tạo dân trí là hết sức cần thiết trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Để tiếp cận
được tiến bộ kỹ thuật và nền kinh tế thị trường, trước mắt cần mở các lớp đào tạo ngắn
hạn, đào tạo cấp tốc, phổ biến rộng rãi cho người dân thích ứng với môi trường sản xuất
hàng hoá, cử cán bộ đến các cơ sở hướng dẫn về phương thức sản xuất mới, áp dụng tiến
bộ khoa học vào thực tiễn. Tuy nhiên việc phổ biến kiến thức cơ bản cho người dân phải
đặc biệt chú ý đến cách thức và ngôn từ, phải hết sức đơn giản, dễ hiểu để nhân dân tiếp
nhận một cách dễ dàng. Trong các cơ sở cần chú trọng đến cán bộ khuyến nông, cần phải
củng cố kiện toàn đội ngũ cán bộ khuyến nông, trạm khuyến nông của huyện và hệ thống
khuyến nông ở các cụm xã, tăng cường mở các lớp tập huấn đào tạo cán bộ để công tác
khuyến nông thực hiện đóng vai trò quan trọng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn, đẩy mạnh phát triển sản xuất hàng hoá.
3. Hình thức tổ chức sản xuất
a. sản xuất hộ gia đình:
Hiện nay trên toàn huyện chủ yếu sản xuất theo hình thức kinh tế hộ gia đình. Do
vậy chuyển đổi cơ cấu và phát triển nền kinh tế của huyện, những chính sách tác động và
mô hình kinh tế hộ phù hợp là rất cần thiết. Vận dụng linh hoạt các chính sách về đất đai
vốn tín dụng, thuế và chính sách hỗ trợ sản xuất đối với vùng cao, vùng sâu, vùng xa…
một cách phù hợp với điều kiện của huyện. Khuyến khích nông dân sử dụng giống mới,

tham gia vào các mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Tạo điều kiện hỗ trợ cho người dân
chuyển sang dịch vụ và sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Đẩy mạnh phát triển cây trồng vật
nuôi đặc sản mang tính hàng hoá trong từng hộ.
b. Hình thức sản xuất theo trang trại.
Cho đến nay vẫn chưa có một hình thức sản xuất theo mô hình kinh tế trang trại
trên địa bàn của huyện. Xét về điều kiện khí hậu, địa hình, kinh tế - xã hội của huyện có
thể phát triển được các tiểu kinh tế trang trại ở các xã như Sín Chéng, Bản Mế, Si Ma
Cai. Trang trại là loại hình thức tổ chức sản xuất quan trọng trong nông nghiệp. Nó tạo ra
khối lượng sản phẩm lớn góp phần chuyển đổi cơ cấu trong nông thôn. Khuyến khích tập
trung đất đai và giao khoán rừng cho các hộ, mở các lớp tập huấn quản lý sản xuất kinh
doanh, áp dụng khoa học kỹ thuật trong mô hình kinh tế trang trại. Khôi phục lại trang
trại chăn nuôi gia súc ở xã Bản Mế, có chính sách vốn ưu đãi cho người dân đầu tư vào
các trang trại nhỏ phối hợp với bên ngoài tìm đầu ra cho các trang trại sản xuất hàng hoá.
c. Sản xuất hợp tác xã
25

×