Tải bản đầy đủ (.doc) (74 trang)

Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu sản xuất sợi tại Công ty Dệt Hà Nam" doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (468.4 KB, 74 trang )

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu
sản xuất sợi tại Công ty Dệt Hà Nam”

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
1
MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế nước ta đang ngày càng đổi mới và phát triển, đòi hỏi các nhà
doanh nghiệp phải chú trọng, quan tâm đến tình hình sản xuất kinh doanh của mình
một cách sâu sắc nhất là trong quá trình tạo ra sản phẩm. Một quá trình sản xuất được
tiến hành liên tục khi nó đảm bảo nguyên vật liệu (NVL) một cách đều đặn, đầy đủ về số
lượng, đúng quy cách phẩm chất và đạt tỷ lệ đúng với yêu cầu. Ngược lại nếu không cung
ứng đầy đủ, kịp thời, đồng bộ thì toàn bộ quá trình sản xuất sẽ bị ngưng trệ gây ảnh hưởng
lớn đến việc tạo ra sản phẩm nói riêng và toàn doanh nghiệp nói chung.
Tổ chức tốt việc đảm bảo NVL sẽ góp phần sử dụng tiết kiệm NVL trong sản
xuất, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và làm tăng lợi nhuận. Để
thực hiện tốt việc sử dụng và tiết kiệm NVL, doanh nghiệp phải có một khâu hạch
toán, tổ chức NVL một cách khoa học và hợp lý. Đó là một trong những công cụ quan
trọng để quản lý tình hình tăng - giảm và bảo quản dự trữ NVL, nhằm tránh tình trạng
ứ đọng hoặc khan hiếm hay sử dụng thất thoát gây ảnh hưởng đến giá thành, tình hình
tài chính và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam từ hơn thập kỷ
qua kéo theo sự thay đổi sâu sắc trong các doanh nghiệp nhất là trong phương thức
quản lý. Đất nước đang trên đà phát triển nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần
kinh tế tự do cạnh tranh đã đặt ra cho doanh nghiệp những khó khăn, thử thách mới và
phải chấp nhận quy luật đào thải từ phía thị trường. Thế thì doanh nghiệp phải làm gì
để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. Đó là câu
hỏi chung đặt ra cho mỗi doanh nghiệp.



Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
2
NVL – công cụ dụng cụ còn ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản
phẩm, giá thành sản phẩm và doanh thu. Trong tổng giá thành sản phẩm sản xuất ra thì
chi phí về NVL chiếm tỷ trọng khá lớn. Nên việc sử dụng tiết kiệm NVL và sử dụng
đúng mục đích, đúng kế hoạch có ý nghĩa quan trọng đối với công tác kế toán bởi tính
chu chuyển nhanh chủng loại phong phú…Do đó việc cung cấp NVL có đầy đủ, kịp
thời hay không có ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất, kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của
đơn vị. Tuy nhiên NVL quyết định chất lượng và quyết định luôn giá thành sản phẩm.
Bởi vậy tập trung quản lý chặt chẽ NVL ở tất cả các khâu thu mua, bảo quản dự trữ và
sử dụng NVL nhằm hạ thấp chi phí việc tiết kiệm để giảm tiêu hao NVL cho sản phẩm
và cải tiến định mức tiêu hao và định mức NVL là một yêu cầu cần thiết và tất yếu cho
tất cả các đơn vị. Từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác kế
toán nguyên vật liệu sản xuất sợi tại Công ty Dệt Hà Nam” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình.
1.2 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Như chúng ta đều biết để sản xuất ra cái bàn thì cần phải có gỗ, cái áo thì cần
phải có vải…Do vậy yếu tố đầu vào là một trong những thành phần quan trọng để tạo
ra một sản phẩm, mà yếu tố đầu vào quan trọng nhất vẫn là nguyên vật liệu. Tuy nhiên
để tạo ra một sản phẩm với giá thành hợp lý và giảm giá thành một cách tối đa thì cần
phải có phương pháp hạch toán phù hợp với tình hình thực tế. Công ty dệt Hà Nam là
doanh nghiệp chuyên sản xuất kinh doanh bông, vải, sợi mặt hàng sản xuất chủ yếu
chính vẫn là sản xuất sợi, mà NVL chính là bông. Do vậy để tình hình sản xuất sản
phẩm được nhịp nhàng và có hiệu quả thì cần phải có một khâu quản lý và sử dụng
NVL một cách hợp lý, để thực hiện tốt được điều này thì kế toán cần phải có phương
pháp, kiến thức hạch toán NVL một cách tốt nhất.
2 CÁC MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Đề tài này được thực hiện nhằm các mục tiêu sau:
 Hệ thống hóa được vấn đề lý luận chung về công tác kế toán NVL

trong doanh nghiệp.
 Tìm hiểu và nghiên cứu những đặc điểm của doanh nghiệp có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu.

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
3
 Phân tích đánh giá thực trạng và xu hướng hạch toán, kế toán NVL sản
xuất sợi của Công ty dệt Hà Nam .
 Tìm hiểu những nguyên nhân cơ bản trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng
đến thực trạng đó và đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế
toán NVL sản xuất sợi tại Công ty dệt Hà Nam.
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu sản xuất sợi tại
Công ty dệt Hà Nam” thông qua các số liệu được thể hiện trên các phiếu nhập kho,
phiếu xuất kho, các thẻ kho và các thông tin liên quan khác.
4. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
4.1 Về nội dung
Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu sản xuất sợi là quá trình sử dụng
các kỹ thuật phân tích thích hợp để xử lý số liệu từ các phiếu nhập kho, xuất kho, các
thẻ kho…và các số liệu ở các tài liệu khác, hình thành các hệ thống, các chỉ tiêu kinh
tế nhằm đánh giá thực trạng NVL trong công ty. Do vậy hoàn thiện công tác kế toán
NVL trước hết là việc chuyển dữ liệu trên các phiếu nhập kho, xuất kho thành những
thông tin hữu ích cho đề tài nghiên cứu. Mục tiêu cơ bản cuối cùng của việc hoàn thiện
công tác kế toán NVL là đưa ra các phương pháp, biện pháp hạch toán phù hợp với
doanh nghiệp. Vì thế khi tiến hành nghiên cứu đề tài hoàn thiện công tác kế toán NVL
tại Công ty dệt Hà Nam tôi tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
 Xem xét một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty
dệt Hà Nam trong các năm gần đây nhất (2006, 2007, 2008)
 Kế toán chi tiết NVL
 Kế toán tổng hợp NVL

 Tuy nhiên Công ty dệt Hà Nam là công ty chủ yếu nhập khẩu NVL
bông từ nước ngoài. Do vậy mà nội dung cần nghiên cứu ở đây là phải hạch toán chính
xác và phù hợp các khoản thuế nhập khẩu, thuế GTGT hàng nhập khẩu với cơ quan
thuế.
4.2 Về không gian và thời gian
Thời gian: Các số liệu trong 3 năm 2006, 2007, 2008

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
4
Không gian: Tại Công ty dệt Hà Nam
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong qua trình thực hiện đề tài tôi đã thực hiện nghiên cứu theo các phương
pháp chủ yếu sau:
 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Tiến hành tìm hiểu những tài liệu liên quan tới vấn đề công tác kế toán NVL
trong các doanh nghiệp như ở thư viện, internet, giáo trình “kế toán tài chính 1” của
thày giáo TS.Phan Đình Ngân, THS.Hồ Phan Minh Đức-Đại học Huế-Đại Học Kinh
Tế-xuất bản năm 2007…Tôi đọc và hệ thống những cơ sở lý luận về hoàn thiện công
tác kế toán NVL trong doanh nghiệp. Đồng thời qua đây tìm hiểu phương pháp hạch
toán NVL, nghiên cứu để hiểu rõ các số liệu kế toán của đơn vị thực tập, tích lũy kiến
thức cho bản thân.
 Phương pháp hỏi trực tiếp
Phương pháp này tìm hiểu tình hình tăng, giảm NVL và công tác kế toán của
đơn vị thực tập, cũng như thu thập những số liệu cần thiết cho đề tài nghiên cứu.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số nghiệp vụ phát sinh về tình hình tăng giảm
NVL tháng 9-2008 của Công ty dệt Hà Nam .
6. KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN
Phần I: Đặt vấn đề

Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận về hạch toán nguyên liệu, vật liệu trong các doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty dệt Hà Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán nguyên
vật liệu sản xuất sợi tại Công ty Dệt Hà Nam.
Phần III: Kết luận và kiến nghị

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
5
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠCH TOÁN NGUYÊN LIỆU,
VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN VỀ HÀNG TỒN KHO NGUYÊN VẬT LIỆU
Nếu ta gọi vốn bằng tiền là một yếu tố tài sản lưu động thiết yếu nhất, thì hàng
tồn kho là một yếu tố tài sản quan trọng nhất, thường chiếm một giá trị lớn trong toàn
bộ tài sản lưu động của doanh nghiệp.
Theo phân loại trong hệ thống kế toán mới, hàng tồn kho ngoài các thành phần
tài sản như: Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, hàng hóa, sản phẩm còn có giá trị sản
phẩm dở dang (sản phẩm đang chế tạo) và các công trình lao vụ, dịch vụ chưa hoàn
thành (trong các đơn vị hoạt động các ngành nghề kinh doanh dịch vụ)
Yêu cầu quản lý vốn lưu động là sử dụng một số vốn vừa phải, đủ để đảm bảo
sản xuất kinh doanh liên tục, đảm bảo từ khâu dự trữ đến khâu sản xuất và lưu thông
phân phối nhịp nhàng, tăng nhanh được vòng quay của vốn trên phương châm vốn ít
mà tạo hiệu quả kinh tế cao.
Trong việc sử dụng vốn lưu động từ hao phí NVL có một ý nghĩa đặc biệt quan
trọng vì nó thường chiếm một tỷ trọng rất lớn, vì vậy việc tiết kiệm để giảm tiêu hao
NVL cho sản phẩm, cải tiến định mức tiêu hao và định mức dự trữ NVL là một yêu
cầu cần thiết và tất yếu cho tất cả các doanh nghiệp.
1.2 NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp

1.2.1.1 Khái niệm
Vật liệu là những đối tượng lao động thể hiện dưới dạng vật hóa. Trong các
doanh nghiệp, vật liệu được sử dụng cho việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hoặc thực
hiện dịch vụ hay sử dụng cho bán hàng, cho quản lý doanh nghiệp.
1.2.1.2 Đặc điểm: Nguyên vật liệu có hai đặc điểm
 Thường chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất - kinh doanh nhất định và
trong chu kỳ sản xuất đó thì hình thái vật chất ban đầu sẽ bị biến đổi và tiêu hao hết để
cấu thành thực thể của sản phẩm hoặc để phục vụ cho quá trình chế biến sản phẩm.

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
6
 Giá trị của các loại NVL sẽ được tính hết một lần vào chi phí sản xuất
kinh doanh trong kỳ. Từ đặc điểm này, NVL được xếp vào loại tài sản lưu động.
 Từ những đặc điểm trên cho thấy NVL có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh. Vì vậy các doanh nghiệp sản xuất cần phải tăng cường công
tác quản lý NVL và góp phần nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm sản xuất ra.
1.2.2 Đặc điểm và yêu cầu quản lý nguyên vật liệu
Trong khâu sản xuất: NVL được coi là yếu tố căn bản cho doanh nghiệp sản
xuất cần phải tổ chức tốt việc quản lý và hạch toán các quá trình thu mua vận chuyển,
dự trữ và sử dụng NVL. Việc tổ chức công tác hạch toán NVL là điều kiện quan trọng
không thể thiếu được trong quản lý vật liệu, ngăn ngừa các hiện tượng như mất mát,
lãng phí trong các khâu của quá trình sản xuất. Qua đó góp phần giảm chi phí, nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, hạ giá thành sản phẩm.
Trong khâu thu mua: NVL cần đảm bảo về các mặt như số lượng, chất lượng và
thời gian cung cấp. Yêu cầu này đòi hỏi kế hoạch thu mua phải hợp lý, đáp ứng yêu
cầu sử dụng. Cần lựa chọn nguồn cung cấp với giá cả thích hợp đáp ứng đúng, đầy đủ
và kịp thời nhu cầu về vật tư, đồng thời tiết kiệm chi phí vận chuyển.
Trong khâu dự trữ: Do số lượng và chủng loại của NVL thường xuyên biến
động nên việc dự trữ vật tư phải phù hợp để đáp ứng yêu cầu sản xuất. Tránh hiện
tượng thiếu NVL do dự trữ quá trình vận chuyển và bảo quản.

Khâu vận chuyển và bảo quản: Cần tổ chức tốt hệ thống kho tàng, bao bì…và
có phương tiện vận chuyển phù hợp với tính chất, đặc điểm của từng loại vật tư nhằm
hạn chế tới mức thấp nhất sự hao hụt, mất mát xảy ra trong quá trình vận chuyển và
bảo quản.
Khâu sử dụng: Cần quản lý tốt việc sử dụng NVL, sao cho đúng mục đích,
đúng với đặc điểm quá trình sản xuất, đúng với định mức tiêu hao vật tư đã đặt ra,
tránh tình trạng việc sử dụng lãng phí, không đúng mục đích sản xuất.
1.2.3 Nhiệm vụ của kế toán
Để đáp ứng được yêu cầu quản lý nói chung và yêu cầu quản lý vật liệu nói
riêng, kế toán vật liệu trong các doanh nghiệp cần phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
 Thực hiện phân loại, đánh giá vật tư phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn
mực kế toán đã quy định và phù hợp với yêu cầu quản trị doanh nghiệp, tạo điều kiện

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
7
cho bộ phận kế toán có thể theo dõi được việc dự trữ, bảo quản vật tư, phát hiện và
ngăn ngừa tình trạng thiếu hụt, mất mát hoặc những thứ vật tư kém phẩm chất đồng
thời đưa ra biện pháp xử lý kịp thời trong trường hợp thiếu hoặc thừa vật tư. Xác định
đúng số vật tư đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó phân bổ hợp lý
giá trị NVL, đã tiêu hao cho các đối tượng sử dụng.
 Thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán ban đầu về vật liệu, từ khâu lập
chứng từ, luân chuyển chứng từ, mở sổ kế toán chi tiết. Tổ chức chứng từ, tài khoản
chứng từ, sổ kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho áp dụng trong
doanh nghiệp để ghi chép, phân loại, tổng hợp số liệu đầy đủ, kịp thời số hiện có và
tình hình biến động tăng giảm của vật liệu, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh, xác định đúng đắn trị giá vốn thực tế, đồng thời đảm bảo được sự thống nhất
trong công tác kế toán, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo.
 Định kỳ cần tiến hành kiểm kê và đánh giá vật liệu, theo chế độ quy
định. Lập báo cáo tổng hợp tình hình hiện có về vật tư phục vụ cho công tác lập kế
hoạch thu mua, dự trữ vật tư sao cho có hiệu quả nhất. Cần thiết việc thực hiện các

chỉ tiêu kế hoạch về vật tư đã đặt ra để có các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh.
1.2.4 Nguyên tắc hạch toán nguyên vật liệu
Doanh nghiệp có thể tổ chức hạch toán NVL theo một trong hai phương pháp:
+ Phương pháp kê khai thường xuyên
+ Phương pháp kiểm kê định kỳ
Tuy nhiên ở Công ty dệt Hà Nam tổ chức hạch toán theo phương pháp kê
khai thường xuyên. Do vậy, khóa luận này chỉ trình bày phương pháp kê khai
thường xuyên.
 Phương pháp kê khai thường xuyên
Là phương pháp theo dõi và phản ánh thường xuyên liên tục, có hệ thống tình
hình nhập - xuất - tồn kho vật tư, hàng hóa trên sổ kế toán. Các tài khoản kế toán hàng
tồn kho phản ánh được số hiện có, tình hình biến động tăng, giảm của vật tư, hàng hóa.
Do đó giá trị vật tư, hàng tồn trên sổ kế toán được xác định ở bất kỳ thời điểm nào
trong kỳ kế toán.

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
8
Cuối kỳ khi kiểm kê thực tế vật tư, hàng tồn kho theo nguyên tắc hàng tồn kho
thực tế phải luôn phù hợp với số tồn kho trên sổ kế toán.
Phương pháp này thường áp dụng cho những đơn vị sản xuất kinh doanh các mặt
hàng có giá trị lớn như: Máy móc, thiết bị, hàng có kỷ luật, hàng có chất lượng cao.
Đây là loại giá có giá trị về mặt thanh quyết toán. Việc tính giá thực tế của vật
tư xuất kho có thể tiến hành theo một trong các phương pháp: Lifo, Fifo, bình quân gia
quyền và thực tế đích danh.
Việc hạch toán NVL phải đồng thời cả về giá trị và hiện vật, phải theo dõi chi
tiết ở từng kho và từng người chịu trách nhiệm bảo quản.
Cuối năm, nếu xét thấy vật liệu tồn kho có khả năng bị giảm so với thực tế đã
ghi sổ kế toán thì doanh nghiệp được phép lập dự phòng giảm giá. Mức dự phòng
giảm giá hàng tồn kho nói chung tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp.

1.3. PHÂN LOẠI VÀ TÍNH GIÁ NGUYÊN VẬT LIỆU
1.3.1 Phân loại nguyên vật liệu
Vật liệu trong các doanh nghiệp bao gồm nhiều thứ, nhiều loại khác nhau, có
giá trị, công dụng, nguồn hình thành…khác nhau. Do vậy cần thiết phải tiến hành phân
loại vật liệu nhằm tạo điều kiện cho việc hạch toán và quản lý vật liệu. Căn cứ vào vai
trò và tác dụng của vật liệu trong sản xuất, vật liệu được chia làm các loại sau:
Nguyên vật liệu chính: Là những thứ NVL mà quá trình gia công, chế biến sẽ
cấu thành nên thực thể vật chất chủ yếu của sản phẩm.
Vật liệu phụ: Là những vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ trong sản xuất, được sử
dụng kết hợp với vật liệu chính để làm thay đổi màu sắc, hình dáng, mùi vị hoặc dùng
để bảo quản, phục vụ hoạt động của các tư liệu lao động (dầu nhờn, hồ, keo, thuốc
nhuộm, thuốc tẩy…)
Nhiên liệu: Là những thứ vật liệu được dùng để cung cấp nhiệt lượng trong quá
trình sản xuất kinh doanh như than, củi, xăng dầu, hơi đốt…
Phụ tùng thay thế: Là các chi tiết, phụ tùng dùng để sửa chữa và thay thế cho
máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải…
Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm các vật liệu và thiết bị (cần lắp,
không cần lắp, vật kết cấu, công cụ, khí cụ…)

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
9
Phế liệu: Là các loại vật liệu thu được trong quá trình sản xuất hay thanh lý tài
sản, có thể sử dụng hay bán ra ngoài (phôi bào, vải vụn, gạch, sắt,…)
Vật liệu khác: Bao gồm các loại vật liệu còn lại ngoài các thứ chưa kể trên như
bao bì, vật đóng gói, các loại vật tư đặc chủng…
1.3.2 Tính giá nguyên vật liệu
Tính giá NVL về thực chất là việc xác định trị giá ghi sổ của vật liệu. Theo quy
định giá thực tế (giá gốc) tức là vật liệu khi nhập kho hay xuất kho đều được phản ánh
trên sổ sách theo giá thực tế.
 Đối với vật liệu nhập kho thì giá gốc ghi sổ của vật liệu nhập kho

trong các trường hợp cụ thể được tính như sau:
+ Với vật liệu mua ngoài: Giá thực tế (giá gốc) ghi sổ gồm trị giá mua của vật
liệu thu mua [là giá mua ghi trên hóa đơn của người bán đã trừ (-) các khoản chiết
khấu thương mại và giảm giá hàng bán được hưởng, cộng (+) các chi phí gia công,
hoàn thiện và cộng (+) các loại không hoàn lại (nếu có)] và các chi phí thu mua thực tế
(chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí bao bì, tiền phạt lưu kho, lưu hàng, lưu bãi…) .
+ Với vật liệu do doanh nghiệp sản xuất: Giá thực tế ghi sổ là giá thành sản
xuất thực tế của vật liệu do doanh nghiệp sản xuất, kiểm nhận, nhập kho.
+ Với vật liệu thuê ngoài gia công chế biến: Giá thực tế ghi sổ khi nhập kho
gồm giá thực tế của vật liệu thuê chế biến cùng các chi phí liên quan đến việc thuê
ngoài gia công, chế biến (tiền thuê gia công, chế biến, chi phí vận chuyển, bốc dỡ, hao
hụt …)
+ Với vật liệu nhận đóng góp từ các đơn vị tổ chức cá nhân tham gia góp vốn:
Giá thực tế ghi sổ là giá thỏa thuận do các bên xác định (hoặc tổng giá thanh toán ghi
trên hóa đơn GTGT do bên tham gia liên doanh lập) cộng (+) với các chi phí tiếp nhận
mà doanh nghiệp phải bỏ ra (nếu có).
+ Với phế liệu: Giá thực tế ghi sổ của phế liệu là giá ước tính có thể sử dụng
được hay giá trị thu hồi tối thiểu.
+ Với vật liệu được tặng thưởng: Giá thực tế ghi sổ của vật liệu này là giá thị
trường tương đương cộng (+) chi phí liên quan đến việc tiếp nhận (nếu có).

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
10
 Để xác định giá thực tế (giá gốc) ghi sổ của vật liệu xuất kho trong
kỳ, tùy theo đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp vào yêu cầu quản lý và trình
độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, có thể sử dụng một trong các phương pháp sau đây
theo nguyên tắc nhất quán trong hạch toán, nếu thay đổi phương pháp phải giải trình
rõ ràng.
 Phương pháp đơn vị bình quân
Theo phương pháp này, giá thực tế vật liệu và trị giá mua của hàng hóa xuất

kho trong kỳ được tính theo công thức:
Giá thực tế từng loại xuất kho = Số lượng từng loại xuất kho X Giá trị bình quân
Trong đó giá trị bình quân có thể tính một trong ba cách sau:
Cách 1
Giá trị bình quân cả kỳ dự trữ =
Giá trị thực tế từng loại tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Lượng thực tế từng loại tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Cách này tuy đơn giản, dễ làm nhưng độ chính xác không cao. Hơn nữa, công
việc tính toán dồn vào cuối tháng, gây ảnh hưởng đến công tác quyết toán nói chung.
Cách 2
Giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước =
Giá thực tế từng loại tồn kho đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước)
Lượng thực tế từng loại tồn kho đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước)
Cách này mặc dù khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến động của
từng loại vật liệu trong kỳ, tuy nhiên không chính xác vì không tính đến sự biến động
của giá cả vật liệu cũng như giá thành sản phẩm kỳ này.
Cách 3
Giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập =
Giá thực tế từng loại tồn kho sau mỗi lần nhập
Lượng thực tế từng loại tồn kho sau mỗi lần nhập
Cách tính theo giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập lại khắp phục được nhược
điểm của cả hai phương pháp trên, vừa chính xác, vừa cập nhật. Nhược điểm của
phương pháp này là tốn nhiều công sức, tính toán nhiều lần.
 Phương pháp nhập trước, xuất trước (FiFo)
Theo phương pháp này, giả thiết rằng số vật liệu nào nhập trước thì xuất trước,
xuất hết số nhập trước mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng số hàng xuất. Nói
cách khác, cơ sở của phương pháp này là giá thực tế của vật liệu xuất trước và do vậy

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
11

giá trị vật liệu tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của số vật liệu nhập kho sau cùng.
Phương pháp này thích hợp trong trường hợp giá cả ổn định hoặc có xu hướng giảm.
 Phương pháp nhập sau, xuất trước (LiFo)
Phương pháp này giả định những vật liệu nhập kho sau cùng sẽ được xuất trước
tiên ngược lại với phương pháp nhập trước, xuất trước ở trên. Phương pháp nhập sau,
xuất trước thích hợp trong trường hợp lạm phát.
 Phương pháp trực tiếp
Phương pháp này, giá thực tế vật liệu được xác định theo đơn chiếc hay từng lô
và giữ nguyên từ lúc nhập cho đến lúc xuất kho (trừ trường hợp điều chỉnh) khi xuất
kho lô nào (hay cái nào) sẽ tính theo giá thực tế của lô hay cái đó. Do vậy, phương
pháp này còn có tên gọi là phương pháp đặc điểm riêng hay phương pháp thực tế đích
danh và thường sử dụng trong các DN có ít loại vật liệu hoặc vật liệu có tính cách biệt
và nhận diện được.
1.4 HẠCH TOÁN CHI TIẾT NGUYÊN VẬT LIỆU
1.4.1 Chứng từ kế toán sử dụng trong hạch toán chi tiết nguyên vật liệu
Chế độ chứng từ kế toán quy định ban hành theo quy định số
1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 01 tháng 11 năm 1995 và thông tư 100 ngày 15 tháng 07
năm 1998 của bộ trưởng Bộ tài chính, các chứng từ kế toán NVL có tính chất bắt
buộc gồm:
- Phiếu nhập kho ( MS01-VT)
- Phiếu xuất kho (MS02-VT)
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (MS03-VT)
- Biên bản kiểm nhận vật tư (Mẫu 08-VT)
- Hóa đơn GTGT (Mẫu 01-02)
- Phiếu mua hàng (Mẫu 13-BH)
Ngoài ra, trong DN có thể sử dụng các chứng từ kế toán có tính chất hướng dẫn:
- Phiếu xuất vật tư theo hạn mức (MS04-VT)
- Biên bản kiểm nghiệm vật tư (MS05-VT)
- Thẻ kho (MS06-VT)
- Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ (Mẫu 07-VT)


Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
12
Và các chứng từ khác phù hợp với tình hình và lĩnh vực hoạt động sản xuất
kinh doanh cũng như thành phần kinh tế mà doanh nghiệp đang hoạt động.
1.4.2 Các phương pháp hạch toán chi tiết
1.4.2.1 Phương pháp thẻ song song
Theo phương pháp thẻ song song , kế toán chi tiết vật liệu tại các doanh nghiệp
được tiến hành như sau:
- Ở kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho để phản ánh tình hình nhập xuất, tồn vật liệu,
về mặt số lượng.
- Ở phòng kế toán: Kế toán sử dụng thẻ kế toán chi tiết vật liệu để phản ánh tình
hình hiện có, biến động tăng, giảm theo từng danh điểm vật liệu tương ứng với thẻ kho
mở ở kho.
Để thực hiện đối chiếu giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, kế toán phải
căn cứ vào các thẻ kế toán chi tiết để lập bảng tổng hợp nhập, xuất tồn kho về mặt giá
trị của từng loại vật liệu.
Phương pháp thẻ song song mặc dầu đơn giản, dễ làm nhưng việc ghi chép còn
nhiều trùng lặp. Vì thế, chỉ thích hợp với doanh nghiệp có quy mô nhỏ, số lượng
nghiệp vụ ít, tình hình nhân viên kế toán chưa cao.
Ghi hàng ngày Quan hệ đối chiếu Ghi cuối tháng
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ kế toán chi tiết theo phương pháp thẻ song song
1.4.2.2 Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
Theo phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển, công việc cụ thể tại phòng kho
giống như phương pháp thẻ song song ở trên. Tại phòng kế toán, kế toán sử dụng sổ
đối chiếu luân chuyển để hạch toán số lượng và số tiền của từng thứ (danh điểm) vật
liệu theo từng kho. Phương pháp này mặc dầu đã có cải tiến nhưng việc ghi chép vẫn
còn trùng lặp.

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán

13
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Thẻ
hoặc
sổ
kế
toán
chi
tiết
Bảng tổng hợp
nhập,xuất tồn kho
Kế toán
tổng hợp
Phiếu nhập kho Bảng kê nhập


Ghi hàng ngày Quan hệ đối chiếu Ghi cuối tháng
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ kế toán chi tiết theo phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
1.4.2.3 Phương pháp sổ số dư
Theo phương pháp sổ số dư, công việc cụ thể tại kho giống như các phương
pháp trên. Định kỳ, sau khi ghi thẻ kho, thủ kho phải tập hợp toàn bộ chứng từ nhập
kho, xuất kho phát sinh theo từng vật liệu. Sau đó, lập phiếu giao nhận chứng từ và
nộp cho kế toán kèm theo chứng từ nhập, xuất kho vật liệu. Ngoài ra, thủ kho còn phải
ghi số lượng vật liệu tồn kho cuối tháng theo từng danh điểm vào sổ số dư.
Tại phòng kế toán, định kỳ, nhân viên kế toán phải xuống kho hướng dẫn và
kiểm tra việc ghi chép thẻ kho của thủ kho và thu nhận chứng từ. Khi nhận chứng từ
kiểm tra và tính giá theo từng chứng từ (giá hạch toán), tổng cộng số tiền và ghi vào
cột số tiền trên phiếu giao nhận chứng từ. Đồng thời, ghi số tiền vừa tính được của

từng nhóm vật liệu (nhập riêng, xuất riêng) vào bảng lũy kế nhập, xuất, tồn kho.
Tiếp đó, cộng số tiền nhập, xuất trong tháng và dựa vào sổ số dư đầu tháng sủa
từng nhóm vật liệu. Số dư này được dùng để đối chiếu với cột “số tiền” trên sổ số dư.


Ghi hàng ngày Ghi định kỳ
Quan hệ đối chiếu Ghi cuối tháng
Sơ đồ 1. 3 : Sơ đồ kế toán chi tiết theo phương pháp sổ số dư
(Nguồn: PGS.TS. Nguyễn Văn Công, 2006)
1.5 HẠCH TOÁN TỔNG HỢP NGUYÊN VẬT LIỆU

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
14
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Sổ đối chiếu
luân chuyển
Bảng kê xuất
Kế toán tổng
hợp
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Sổ số dư
Kế toán
tổng hợp
Phiếu giao nhận chứng từ nhâp
Bảng lũy kế nhập
,xuất, tồn vật tư
Phiếu giao nhận chứng từ xuất

1.5.1 Hạch toán tổng hợp NVL theo phương pháp kê khai thường xuyên
1.5.1.1 Khái niệm, chứng từ và tài khoản sử dụng
1.5.1.1.1 Khái niệm
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp kế toán phải tổ chức ghi
chép một cách thường xuyên liên tục các nghiệp vụ nhập kho, xuất kho và tồn kho của
vật tư trên các tài khoản hàng tồn kho.
Việc xác định trị giá vốn thực tế của vật tư, xuất kho được tính căn cứ trực tiếp
vào các chứng từ xuất kho khi tập hợp, phân loại theo các đối tượng sử dụng để ghi
vào các tài khoản và sổ kế toán. Sự biến động tăng giảm của vật tư được ghi chép ngay
trên tài khoản thuộc nhóm hàng tồn kho và do vậy bất cứ lúc nào cũng xác định được
giá trị tồn kho. Phương pháp này được áp dụng đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh,
loại hình doanh nghiệp có nhiều mặt hàng, các đơn vị kinh doanh mặt hàng lớn.
1.5.1.1.2 Các chứng từ sử dụng
Thông thường các nghiệp vụ mua hàng về nhập kho có liên quan tới các chứng
từ: Hóa đơn bán hàng, hóa đơn cước vận chuyển, biên bản kiểm nghiệm, các phiếu
nhập kho.
Trong nghiệp vụ xuất kho vật liệu thì phải dựa vào phiếu xuất kho hoặc phiếu
xuất vật tư theo hạn mức. NVL xuất kho chủ yếu được dùng trong doanh nghiệp để
chế tạo sản phẩm hoặc phục vụ nhu cầu quản lý. Tùy theo tổ chức của mỗi doanh
nghiêp, phiếu xuất kho NVL có thể do bộ phận sử dụng lập hoặc do phòng cung tiêu
lập. Sau khi thực hiện nghiệp vụ nhập xuất kho, thủ kho ghi số hiệu thực xuất và kí tên
vào các phiếu đó.
Hàng ngày hoặc định kì, khi nhận được các chứng từ nhập kho, xuất kho, kế toán
phải ghi giá, tính thành tiền, lập định khoản kế toán và ghi vào các tài khoản liên quan.
1.5.1.1.3 Các tài khoản sử dụng
Trong công tác kế toán tổng hợp NVL chủ yếu sử dụng các tài khoản sau:
*TK 152 “Nguyên Vật Liệu”: TK này dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình
hình biến động các loại NVL biến động trong doanh nghiệp.
TK 152


Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
15
Ngoài tài khoản trên, kế toán tổng hợp tăng, giảm vật tư hàng hóa còn sử dụng
nhiều tài khoản liên quan khác: TK 111, TK 112, TK 141, TK 128, TK 133, TK 621,….

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
- Trị giá thực tế NVL nhập kho do mua
ngoài, tự chế, thuê ngoài gia công, nhận
vốn liên doanh, được cấp từ các nguồn khác
- Trị giá NVL thừa phát hiện khi kiểm kê.
- Kết chuyển trị giá thực tế của NVL,
tồn kho cuối kì (trường hợp doanh nghiệp
hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp
kiểm kê định kì)
- Số dư bên Nợ: Trị giá thực tế của
nguyên liệu, vật liệu tồn kho
-Trị giá thực tế NVL xuất kho để sản
xuất, để bán, thuê ngoài gia công, chế
biến hoặc góp vốn liên doanh
- Chiết khấu hàng mua được hưởng
- Trị giá nguyên liệu, vật liệu trả lại người
bán hoặc được giảm giá
- Trị giá NVL thiếu phát hiện khi kiểm kê
- Kết chuyển trị giá thực tế của vật liêu
tồn kho đầu kì (trường hợp doanh nghiệp
hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp
kiểm kê định kì)
16
Khóa luận tốt nghiệp Đại Học
1.5.1.2 Nội dung phương pháp

Phương pháp hạch toán được khái quát theo sơ đồ sau:
TK 152
TK 331,111,333, TK 621
112,141,331….
Tăng do mua ngoài Xuất vật liệu để trực tiếp
Tổng
giá (chưa có thuế GTGT) chế tạo sản phẩm
TK 1331 TK 627,641,642
Thanh Thuế GTGT Xuất cho phân xưởng sản xuất,
toán
được khấu trừ bán hàng, cho QLDN,cho XDCB
TK 151 TK 222,223…
Vật liệu đi đường kỳ trước Xuất vật liệu góp vốn liên

doanh,liên kết… (*)
TK 411 TK 154
Nhận cấp phát, nhận cổ phần, Xuất thuê ngoài gia công
nhận vốn góp liên doanh… chế biến
TK 632,3381 TK 632,1381…
Giá trị thừa phát hiện khi Vật liệu thiếu phát hiện qua

Kiểm kê tại kho (thừa trong kiểm kê tại kho (thiếu trong
hoặc ngoài định mức) hoặc ngoài định mức)

TK 412 TK 412
Khoản chênh lệch Khoản chênh lệch
do đánh giá tăng do đánh giá giảm
TK 1331 TK 331,111, 112…
Thuế GTGT tương ứng với Chiết khấu thương mại,


khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng mua,
giảm giá hàng mua,hàng hàng mua trả lại
mua trả lại
Sơ đồ 1.4: Sơ đồ kế toán tổng hợp tăng, giảm nguyên vật liệu
(Theo phương pháp kê khai thường xuyên)
(Nguồn: PGS.TS. Nguyễn Văn Công, 2006)
(*) Khoản chênh lệch về giá gốc vật liệu góp vốn với giá trị đầu tư được ghi nhận
được xử lý theo quy định hiện hành tùy thuộc vào lĩnh vực đầu tư (đã trình bày ở trên).

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
17
Khóa luận tốt nghiệp Đại Học
1.5.2 Hạch toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kỳ
1.5.2.1 Khái niệm, tài khoản sử dụng
1.5.2.1.1 Khái niệm
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp không theo dõi một cách thường
xuyên, liên tục về tình hình biến động của các loại vật tư, sản phẩm trên các tài khoản
phản ánh từng loại hàng tồn kho mà chỉ phản ánh giá trị tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ của
chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ, xác định lượng tồn kho thực tế. Từ đó xác định lượng
xuất dùng cho sản xuất kinh doanh và các mục đích khác trong kỳ theo công thức:
Giá trị vật liệu Giá trị còn lại Tổng giá trị Giá trị vật liệu
xuất trong kỳ = chưa sử dụng + vật liệu tăng - còn lại, chưa sử
trong kỳ thêm trong kỳ dụng cuối kỳ
Độ chính xác của phương pháp này không cao mặc dầu tiết kiệm được công sức
ghi chép và nó chỉ thích hợp với các đơn vị kinh doanh những chủng loại vật tư, sản
phẩm khác nhau, giá trị thấp, thường xuyên xuất dùng, bán ra.
1.5.2.1.2.Tài khoản sử dụng
Kế toán tổng hợp tình hình nhập, xuất vật tư theo phương pháp kiểm kê định
kỳ vẫn sử dụng TK 152, tài khoản này không phản ánh tình hình nhập- xuất vật liệu
trong kỳ mà chỉ dùng để kết chuyển trị giá vốn thực tế NVL tồn kho cuối kỳ, tồn kho

đầu kỳ
Kết chuyển của nhóm tài khoản này như sau:
Bên Nợ: Kết chuyển trị giá vốn thực tế của NVL tồn đầu kỳ.
Bên Có: Kết chuyển trị giá vốn thực tế của NVL tồn kho cuối kỳ.
Số dư cuối kỳ: Trị giá vốn thực tế của NVL tồn kho cuối kỳ.
Ngoài ra còn sử dụng thêm TK 611- mua hàng
TK 611- mua hàng, phản ánh trị giá vốn thực tế của vật tư hàng hóa tăng, giảm
trong kỳ. TK 611
- Kết chuyển trị giá vốn thực tế của
vật tư, hàng hóa tồn kho đầu kỳ
- Trị giá vốn thực tế của vật tư hàng
hóa tăng trong kỳ
- Kết chuyển trị giá vốn thực tế vật tư,
hàng hóa tồn kho cuối kỳ.
- Trị giá vốn thực tế của vật tư, hàng
hóa giảm trong kỳ
Tài khoản này không có số dư, được mở chi tiết theo 2 tài khoản cấp 2:
TK 6111- mua nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ
TK 6112- mua hàng hóa

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
18
Khóa luận tốt nghiệp Đại Học
Để phản ánh các nghiệp vụ liên quan đến việc nhập- xuất vật tư, hàng hóa sử
dụng các tài khoản liên quan khác giống phương pháp kê khai thường xuyên: TK 111,
112, 141, 128, 222, 142, 621, 627, 641, 632….
1.5.2.2 Nội dung phương pháp
Nội dung phương pháp hạch toán nguyên vật liệu theo phương pháp kiểm kê
định kỳ được khái quát theo sơ đồ sau:
TK 6111


TK 151 TK 151
Giá trị vật liệu đi đường Giá trị vật liệu đi đường

đầu kỳ, chưa sử dụng cuối kỳ, chưa sử dụng
TK 152 TK 152
Giá trị vật liệu tồn kho Giá trị vật liệu tồn kho

đầu kỳ, chưa sử dụng cuối kỳ, chưa sử dụng
TK 411 TK 621
Nhận vốn góp liên doanh Xuất dùng trực tiếp

cấp phát, vốn cổ phần để chế tạo sản phẩm
TK 412 TK 627,641,642
Đánh giá tăng vật liệu Xuất dùng phục vụ cho sản xuất,

bán hàng, quản lý, xây dựng cơ bản
TK 111,112,331 TK 111,112,331,1388…
Giá trị vật liệu
mua vào trong kỳ Giảm giá hàng mua, chiết khấu
(chưa có thuế GTGT ) thương mại được hưởng và
giá trị hàng mua trả lại
TK 1331
Thuế GTGT đầu Thuế GTGT đầu vào tương ứng

vào được khấu trừ với số chiết khấu thương mại, giảm giá
hàng mua,hàng mua trả lại…
TK 515
Tổng số chiết khấu thanh toán khi mua hàng được
hưởng (tính trên tổng số tiền đã thanh toán)

Sơ đồ 1.5: Sơ đồ kế toán tổng hợp nguyên vật liệu
(Theo phương pháp kiểm kê định kỳ)
(Nguồn: PGS.TS. Nguyễn Văn Công, 2006)

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
19
Khóa luận tốt nghiệp Đại Học
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGHUYÊN VẬT LIỆU SẢN
XUẤT SỢI TẠI CÔNG TY DỆT HÀ NAM
2.1 VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY DỆT HÀ NAM
2.1.1 Đặc điểm chung tại Công ty dệt Hà Nam
Tên Doanh Nghiệp: Công Ty Dệt Hà Nam
Tên Đối Ngoại: Hà Nam TEXTAILE COMPANY
Trụ sở chính: Xã Châu Sơn- TP Phủ Lý
Ngành nghề đăng ký kinh doanh: Sản xuất kinh doanh bông, vải, sợi.
Mặt hàng sản xuất chính: Sản xuất sợi
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công Ty Dệt Hà Nam được thành lập theo quyết định số 2214QĐ/UB ngày
11/12/1996 do UBND Tỉnh Hà Nam cấp giấy đăng ký kinh doanh số 50149 ngày
17/07/1997 do sở kế hoạch đầu tư cấp với ngành nghề kinh doanh chính là sản xuất và
kinh doanh các mặt hàng bông, vải, sợi phục vụ cho ngành nghề may trong nước và
xuất khẩu. Công Ty Dệt Hà Nam được tách từ Công Ty TNHH Trí Hường thành một
Công Ty hoạt động sản xuất kinh doanh hạch toán độc lập. Đến nay, công ty đã và
đang không ngừng phát triển mở rộng cả về quy mô sản xuất và chất lượng sản phẩm.
Để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh công ty
đã đầu tư một lượng vốn lớn cho trang thiết bị hiện đại.
Năm 2000 công ty đầu tư dây chuyền kéo sợi OE của CHLB Đức gồm 1152 rô
tô công suất 1173 tấn kéo sợi/ năm với số vốn đầu tư lên tới 15,5 tỷ đồng.
Năm 2002 Công ty đã đầu tư dây chuyền kéo sợi MAR20LT của Italia với công
suất 1050 tấn sợi/ năm, vốn đầu tư là 33 tỷ đồng.

Năm 2004 và năm 2005 công ty tiếp tục đầu tư thêm dây chuyền kéo sợi DECO
chất lượng cao của CHLB Đức công suất 1000 tấn sợi/năm với số vốn đầu tư 50,58 tỷ
đồng và dây chuyền kéo sợi POLYTER 100% công suất 1.400 tấn sợi/ năm, vốn đầu
tư 80 tỷ đồng.
Cuối năm 2006 Công Ty Dệt Hà Nam thành lập dây chuyền 2 tại khu công
nghiệp Châu Sơn- Phủ Lý- Hà Nam với diện tích trên 10ha, mua một dây chuyền kéo

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
20
Khóa luận tốt nghiệp Đại Học
sợi tại Mỹ với quy mô kéo 10 ngàn cọc sợi với số vốn đầu tư 200 tỷ đồng. Là một
công ty làm ăn có lãi, tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 1997 là 539
tỷ đồng/ năm. Đến năm 2008 đạt 671 tỷ đồng, trong đó khoảng 400 tỷ đồng là giá trị
xuất khẩu, điều này mở ra một tương lai, một định hướng mới cho ngành dệt Hà Nam.
Hiện nay công ty vẫn không ngừng trang bị các thiết bị hiện đại cho ngành sợi
với mục đích nâng cao uy tín, chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu sản phẩm
của mình trên thị trường trong nước và quốc tế, phấn đấu thực hiện tốt chính sách của
Đảng và nhà nước, tạo công ăn, việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người
lao động.
* Kết quả hoạt động kinh doanh một số chỉ tiêu các năm gần đây của công ty:
Biểu 2.1: Một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
ĐVT: Triệu đồng
Năm 2006 2007 2008
2007/2006 2008/2007
+/- % +/- %
1 Doanh thu bán hàng 421.260 539.525 670.633 118.265 28 131.108 24
2 Lợi nhuận trước thuế
từ hoạt động SXKD
1.116 1.335 632 219 20 -703 -53
3 Các khoản nộp ngân sách 109 374 754 265 243 380 101

4 Thu nhập bình quân
(triệu/ người)
1 1,3 1,6 0,3 30 0,3 30
5 Vốn kinh doanh:
+Vốn lưu động 206.316 331.906 483.780 125.590 61 151.874 46
+ Vốn cố định 324.954 322.848 609.743 -2.106 -0,64284.789 88
(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2007, 2008)
Nhận xét: Dựa vào bảng số liệu đã phân tích ở trên ta có thể thấy được:
Doanh thu bán hàng của công ty liên tục tăng qua các năm cụ thể: Năm 2007
tăng so với 2006 là 118.265 triệu đồng tương ứng tăng 28%; năm 2008 tăng so với
năm 2007 là 131.108 triệu đồng tương ứng tăng 24%. Điều này chứng tỏ sản phẩm sản
xuất của Công ty sản xuất ra đạt chất lượng cao nên quá trình tiêu thụ luôn gặp điều
kiện thuận lợi và bạn hàng tốt, doanh thu luôn tăng qua các năm cũng có thể do công
ty tìm được thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn hơn, tin cậy hơn. Từ đó làm cho
doanh số bán sản phẩm của công ty được tiêu thụ một cách dễ dàng.

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
21
Khóa luận tốt nghiệp Đại Học
Lợi nhuận trước thuế của công ty: Năm 2007 tăng so với 2006 là 219 triệu đồng
tương ứng tăng 20 % điều này báo hiệu một chiều hướng tốt cho công ty để tiếp tục
sản xuất kinh doanh. Nhưng đến năm 2008 lợi nhuận trước thuế lại giảm so với năm
2007 là 703 triệu tương ứng giảm 53%, lợi nhuận giảm một cách nhanh chóng dẫn tới
nguồn vốn của công ty bị giảm, đây là vấn đề cần phải được giải quyết và tìm ra
nguyên nhân của việc giảm này, lợi nhuận giảm trong khi đó doanh thu bán hàng lại
tăng. Có nhiều nguyên nhân để chứng minh cho vấn đề này: Thứ nhất, do giá vốn hàng
bán và các khoản chi phí đầu vào để sản xuất ra sản phẩm của công ty là quá cao; thứ
hai, năm 2008 có sự biến động nền kinh tế thế giới đã làm cho sản phẩm của công ty
xuất khẩu ra nước ngoài gặp nhiều khó khăn dẫn đến kim ngạch công ty thu về giảm
và lợi nhuận giảm; thứ ba, do lượng hàng tồn kho của công ty còn nhiều không tiêu

thụ hết. Để khắp phục được tình trạng này thì công ty cần phải tìm cho mình một
hướng đi mới để phát triển sản xuất kinh doang bằng cách phải vạch ra phương hướng
sản xuất mới nâng cao chất lượng sản phẩm và phải đưa ra chính sách bán hàng cho
phù hợp với tình hình thực tế.
Các khoản phải nộp ngân sách nhà nước: Năm 2007 tăng so với 2006 là 265
triệu tương ứng tăng 243%; năm 2008 tăng so với 2007 là 380 triệu tương ứng tăng
101%, dẫn đến các khoản phải trả của công ty tăng.
Thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng đều qua các năm là 0,3 triệu/năm
tương ứng tăng 30%. Đây là dấu hiệu tốt cho công ty, bởi họ đã biết khuyến khích
động viên người lao động làm việc tích cực hơn, tốt hơn. Từ đó sản phẩm sản xuất ra
có chất lượng hơn thu hút được nhiều khách hàng hơn.
Nguồn vốn kinh doanh của công ty cũng tăng qua các năm nhưng là sự gia tăng
không đồng đều cụ thể: Vốn lưu động năm 2007 tăng so với năm 2006 là 125.590 triệu
đồng tương ứng tăng 61%; năm 2008 tăng so với năm 2007 là 151.874 triệu đồng
tương ứng tăng 46%. Tuy nhiên vốn cố định của công ty năm 2007 lại giảm so với
năm 2006 là 2.106 triệu đồng tương ứng giảm 0,64%, nhưng tới năm 2008 lại tăng lên
so với năm 2007 là 284.789 triệu đồng tương ứng tăng 88%. Sự gia tăng này chứng tỏ
công ty đã luôn phát hiện ra những điểm yếu của mình và đã nhanh chóng khắp phục

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
22
Khóa luận tốt nghiệp Đại Học
bằng cách đầu tư thêm nguồn vốn cố định như nhà cửa, máy móc, thiết bị…phục vụ
cho hoạt động sản xuất kinh doanh được nhịp nhàng và có hiệu quả.
Biểu 2.2: Chỉ tiêu về lao động
ĐVT: Người
Năm 2006 2007 2008
SL % SL % SL %
Tổng số lao động 995 100 1053 100 968 100
Phân theo giới tính

Nam 437 44 280 26,6 363 37,5
Nữ 558 56 773 73,4 605 62,5
Phân theo bộ phận
Bộ phận văn phòng 40 4,02 50 4,7 50 5,2
BP sx trực tiếp 955 95,8 1.003 95,3 918 94,8
Phân theo trình độ
Lao động có trình độ 354 35,6 416 39,5 434 44,8
+ Đại học 55 15,5 68 16,3 75 17,3
+ Sau đại học 1 0,3 1 0,3 1 0,2
+ Trung cấp 298 84,2 347 83,4 358 82,5
Lao động phổ thông 641 64,4 639 60,5 534 55,2
(Nguồn: phòng kế toán - Công Ty Dệt Hà Nam)
Nhận xét: Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy được tổng số lao động nói chung
qua các năm có sự thay đổi bất thường. Điều này cũng không đáng phải bàn tới bởi sự
thay đổi này rất nhịp nhàng.
- Phân theo giới tính: Đây là công ty sản xuất sợi nên công việc cũng không
nặng nhọc lắm, vì vậy mà số lao động nữ qua các năm luôn chiếm tỷ trọng cao hơn số
lao động nam, tuy nhiên sự chênh lệch ở đây là không đáng kể. Điển hình năm 2006
nữ chiếm 56%, năm 2007 chiếm 73,4%, năm 2008 chiếm 62,5%.
- Phân theo bộ phận làm việc: Số lao động ở bộ phận sản xuất trực tiếp chiếm tỷ
trọng khá cao năm 2006 chiếm 95,8%, năm 2007 chiếm 95,3%, năm 2008 chiếm
94,8%. Bộ phận văn phòng năm 2006 chiếm 4,2%, năm 2007 chiếm 4,7%, năm 2008
chiếm 5,2%, sự chênh lệch này cũng dễ hiểu, bởi đặc thù công việc của công ty là hầu
hết mọi người đều xuống xưởng làm việc trực tiếp kể cả các kỹ sư, hơn thế nữa số
lượng công nhân làm việc của công ty cũng chiếm tỷ trọng khá cao, nên họ trực triếp
xuống xưởng làm việc. Còn bộ phận văn phòng ở đây chủ yếu là phòng các phòng ban
trong công ty và phòng kế toán, nên tỷ trọng chiếm tương đối ít.

Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
23

Khóa luận tốt nghiệp Đại Học
- Phân theo trình độ lao động của công ty:
+ Năm 2006 số lao động có trình độ 354 chiếm 35,6% còn lại là lao động phổ
thông. Trong đó người có trình độ đại học chiếm 15,5%, sau đại học chỉ có 01 người
chiếm 0,3%, trung cấp chiếm 84,2%
+ Năm 2007 số lao động có trình độ 416 người chiếm 39,5% còn lại là lao động
phổ thông. Trong đó người có trình độ đại học chiếm 16,3%, sau đại học chỉ có 01
người chiếm 0,3%, trung cấp chiếm 83,4%.
+ Năm 2008 số lao động có trình độ 434 người chiếm 44,83% còn lại là lao
động phổ thông. Trong đó người có trình độ đại học chiếm 17,3%, sau đại học chỉ có
01 người chiếm 0,2%, trung cấp chiếm 82,5%.
Như vậy qua các chỉ tiêu trên ta có thể thấy trình độ học vấn của cán bộ trong
Công ty chủ yếu vẫn là trình độ Trung Cấp chiếm tỷ lệ khá cao, trình độ Đại học có
tăng qua các năm nhưng vẫn không đáng kể, sau đại học không thay đổi. Từ đó cho ta
thấy công ty cần có biện pháp để nâng cao trình độ học vấn của Công ty bằng cách
tuyển dụng thêm những người có trình độ cao hơn thay thế những người có trình độ
thấp hoặc cho các cán bộ đi học thêm các lớp đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ
nghiệp vụ để họ về phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả sản xuất
cho công ty. Bởi trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay thì mỗi doanh nghiệp nói
chung và Công ty Dệt Hà Nam nói riêng cần phải có 1 đội ngũ cán bộ có trình độ hiểu
biết rộng rãi để biết cách đưa ra những tình huống và mục tiêu kinh doanh có lợi nhất
đối với tình hình thực tế, từ đó mới có thể nâng cao được thị phần và đứng vững được
trên thị trường.


Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
24
Khóa luận tốt nghiệp Đại Học
Biểu 2.3: Chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu
ĐVT: USD

Thị trường
Năm
2006 2007 2008
Hàn Quốc 612.300 1.852.140 3.285.750
Thổ Nhĩ Kỳ 452.150 786.541 1.905.000
Mỹ 330.000 950.240 1.352.400
Nhật Bản 510.000 1.011.880 2.169.200
Trung Quốc 428.550 940.199 1.744.650
Tổng 2.333.000 5.541.000 10.457.000
(Nguồn: Phòng kế toán - Công Ty Dệt Hà Nam )
Nhận xét: Nhìn vào bảng số liệu trên ta có thể thấy được thị trường tiêu thụ sản
phẩm của Công ty tương đối rộng. Như vậy chứng tỏ Công ty đã tìm cho mình những
thị trường để tiêu thụ sản phẩm khá tin cậy. Đây là điểm mạnh của công ty nên cần
phải phát huy và cũng nên tìm kiếm thêm thị trường để tiêu thụ sản phẩm một cách có
hiệu quả hơn nữa. Đồng thời dựa vào bảng trên ta có thể thấy được là tổng số kim
ngạch xuất khẩu ở các nước so với các năm là tăng lên, năm 2007 so với năm 2006
tăng 3.154.000USD tương ứng tăng 132%, sự gia tăng này không ngừng tăng cụ thể
năm 2008 so với năm 2007 tăng 4.916.000USD tương ứng tăng 88,72%. Sự gia tăng
này tuy không tăng nhanh bằng năm 2007 so với 2006. Nguyên nhân là do năm 2008
có sự biến động nền kinh tế thế giới nên tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty cũng
bị ảnh hưởng kéo theo việc mang lại kim ngạch về trong năm cũng bị giảm theo.
Nhưng đây cũng là dấu hiệu tốt đối với tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty. Và
Công ty vẫn đang không ngừng tìm hướng phát triển mới cho mình và tìm hiểu thêm
trên thị trường thế giới để tiêu thụ sản phẩm của mình trên thị trường đó nhằm khắp
phục tình trạng này, từ đó thu được nhiều kim ngạch hơn. Góp phần nâng cao nền kinh
tế nước nhà nói chung và Công ty Dệt Hà Nam nói riêng.
 Tuy nhiên trong quá trình hình thành và phát triển công ty có những thuận lợi
và khó khăn phần nào cũng ảnh hưởng đến quá trình sản xuất và kết quả hoạt động
kinh doanh của Công ty. Cụ thể:.
+ Thuận lợi


Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
25

×