Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Tài liệu Bệnh thần kinh do đái tháo đường doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (203.04 KB, 5 trang )

Bệnh thần kinh do đái tháo đường

Bệnh thần kinh do đái tháo đường (ĐTĐ) gặp khá phổ biến, ước tính
chừng 30% bệnh nhân có biểu hiện biến chứng này. 7,5 % bệnh nhân ĐTĐ
mới được chẩn đoán đã có bệnh thần kinh do ĐTĐ, sau 25 năm mắc bệnh có
khoảng một nửa số bệnh nhân ĐTĐ có biểu hiện bệnh lý thần kinh do ĐTĐ.
Bệnh thần kinh do ĐTĐ biểu hiện đa dạng thường được phân chia thành 5
hội chứng lớn sau:
Viêm đa dây thần kinh: tổn thương đồng thời hoặc kế tiếp nhau nhiều dây
thần kinh có tính chất đối xứng biểu hiện bằng:
Cảm giác đau thường tăng lên về đêm ở chân, tay hoặc cá biệt ở vùng
bụng-ngực. Cảm giác đau như cắt, như bị bỏng, đau nhiều khi gây nên chứng trầm
cảm phản ứng và chán ăn dẫn đến suy mòn dễ nhầm với ung thư. Điều trị bằng
tiêm insulin và thuốc chống trầm cảm có tác dụng tốt cho thể tổn thương này.

Viêm đa dây thần kinh có thể biểu hiện bằng rối loạn cảm giác như cảm
giác kiến bò, cảm giác ngứa, cảm giác lạnh chi hoặc cảm giác nóng chi.
Khám xét có thể thấy bệnh nhân giảm hoặc mất cảm giác hoặc ngược lại
tăng cảm giác đau dù chỉ cọ xát nhẹ với đường chỉ may trên quần áo. Giảm hoặc
mất cảm giác rung (khám bằng âm thoa), giảm hoặc mất cảm giác áp lực (khám
bằng monofilament), mất phản xạ tư thế khiến bệnh nhân khó giữ được tư thế
đứng, đi lại khó khăn (dáng đi loạng choạng). Tổn thương thần kinh do ĐTĐ cũng
có thể gây nên bệnh teo cơ nhất là ở các khoảng giữa cơ bàn tay, chân.
Bệnh nhiều dây thần kinh: tổn thương không đối xứng, lan tỏa nhiều dây
thần kinh ngoại vi biểu hiện đau và rối loạn cảm giác.
Bệnh đơn dây thần kinh: tổn thương duy nhất một dây thần kinh hoặc
nhánh thần kinh đó.
Bệnh thần kinh vận động gốc chi: do thiếu máu dẫn đến thoái hoá sợi trục
và mất myelin nặng từng đoạn đám rối và rễ thần kinh thắt lưng cùng dẫn đến teo
cơ gốc chi.
Bệnh thần kinh tự động: biểu hiện rối loạn hoạt động các cơ quan như hệ


sinh dục (liệt dương ), hệ tiết niệu (liệt bàng quang ), hệ tiêu hóa (liệt dạ dày, đi
ngoài ), rối loạn vận mạch và tiết mồ hôi, tổn thương da-xương (loét bàn chân,
viêm xương ).
+ Mắt: rối loạn điều tiết đồng tử gây nhìn mờ, nhìn đôi.
+ Tim – mạch: mạch nhanh khi nghỉ ngơi, giảm thay đổi nhịp tim, hạ huyết
áp tư thế, nhồi máu cơ tim không đau.
+ Đường tiêu hoá: kém ăn, cảm giác ăn chóng no, nôn, cảm giác khó chịu
vùng thượng vị, liệt dạ dày (cảm giác đầy) chậm tiêu hóa thức ăn nhiều khi gây hạ
đường huyết sau ăn, táo bón và đi ngoài phân lỏng xen kẽ nhau.
+ Hệ tiết niệu –sinh dục: khó đái, bàng quang mất trương lực (sau tiểu tiện
vẫn còn cảm giác có nước tiểu trong bàng quang), giãn bàng quang ứ nước tiểu tạo
điều kiện cho nhiễn khuẩn đường tiết niệu; giảm cương dương vật.
+ Da: rối loạn tiết mồ hôi (da khô, teo da: dùng mỡ làm ẩm da như mỡ
Ellgy hoặc Bridge Heel Baum).
+ Rối loạn tiết hormon đối kháng trong trường hợp hạ đường huyết: các
triệu chứng như vã mồ hôi; tim đập nhanh; cảm giác đói… thường mờ nhạt và
đường máu tăng lên chậm.
Theo 'Phòng và điều trị bệnh đái tháo đường' NXB Y học 2005






×