Tải bản đầy đủ (.pdf) (69 trang)

Giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK (luận văn thạc sỹ luật học)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (999.3 KB, 69 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM

--------

GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA
CƠNG TY CHỨNG KHỐN

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN QUẢN TRỊ - LUẬT

SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRẦN NGỌC HIẾU
LỚP: QUẢN TRỊ - LUẬT KHÓA: 34 KHOA: QUẢN TRỊ
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TH.S PHAN PHƯƠNG NAM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÁNG 7 NĂM 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
--------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN QUẢN TRỊ - LUẬT

GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA
CƠNG TY CHỨNG KHỐN

SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRẦN NGỌC HIẾU
KHĨA: 34


MSSV: 0955060139
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TH.S PHAN PHƯƠNG NAM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÁNG 7 NĂM 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu khoa học của tôi với sự hướng dẫn
của Th.s Phan Phương Nam – Giảng viên Khoa Luật Thương mại trường Đại học Luật
Tp. Hồ Chí Minh. Các số liệu, tài liệu được sử dụng trong khóa luận là trung thực, có
nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ. Những kết quả của khóa luận chưa
được cơng bố trong bất kỳ cơng trình nào trước đây. Tôi xin chịu trách nhiệm với lời
cam đoan của mình.
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2014
Tác giả đề tài khóa luận

Trần Ngọc Hiếu


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CTCK

: Cơng ty chứng khốn

CTCP

: Cơng ty cổ phần


HĐQT

: Hội đồng Quản trị

NHTM

: Ngân hàng thương mại

SGDCK

: Sở Giao dịch chứng khoán

TTCK

: Thị trường chứng khoán

TTGDCK

: Trung tâm giao dịch chứng khoán

UBCKNN

: Ủy ban Chứng khoán nhà nước


MỤC LỤC
MỤC LỤC.......................................................................................................................... I
PHẦN MỞ ĐẦU:.............................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH VÀ CÁC GIẢI PHÁP
PHÁP LÝ NHẰM GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA

CTCK: ............................................................................................................................... 4
1.1 Khái quát về xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK: .........................................4
1.1.1 Khái niệm xung đột lợi ích: ..................................................................................... 4
1.1.2 Phân loại các xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK: .................................... 6
1.1.3 Các nguyên nhân làm phát sinh xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK: ....... 7
1.1.3.1 “Vấn đề đại diện” phát sinh dựa trên các quan hệ mang tính chất đại diện trong
hoạt động của CTCK: ........................................................................................................8
1.1.3.2 Khả năng thực hiện đồng thời nhiều nghiệp vụ khác nhau trong hoạt động của
CTCK: .............................................................................................................................. 10
1.1.3.3 Sự hạn chế về nguồn lực thơng tin và tình trạng bất cân xứng thơng tin trên
TTCK nói chung và trong hoạt động của CTCK nói riêng. ............................................11
1.2 Khái quát về các biện pháp pháp lý nhằm giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động
của CTCK: .......................................................................................................................13
1.2.1 Các nguyên tắc giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK: .............. 13
1.2.2 Sự cần thiết phải giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK:............ 15
1.2.3 Các biện pháp pháp lý cơ bản nhằm giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động
của CTCK: ...................................................................................................................... 18
1.2.3.1 Các biện pháp pháp lý nhằm ngăn chặn các nguyên nhân làm phát sinh tình
huống xung đột lợi ích có thể tránh khỏi: ........................................................................18
1.2.3.2 Các biện pháp pháp lý nhằm ngăn chặn, kiểm soát và xử lý hành vi khai thác
xung đột lợi ích: ...............................................................................................................26
Tóm tắt chương 1 .............................................................................................................31


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC BIỆN PHÁP PHÁP LÝ NHẰM GIẢI QUYẾT
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CTCK THEO PHÁP LUẬT VIỆT
NAM HIỆN HÀNH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ: ........................................................... 32
2.1 Thực trạng các biện pháp pháp lý nhằm giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động
của CTCK theo pháp luật Việt Nam hiện hành: .............................................................. 32
2.1.1 Quy định về tổ chức và hoạt động của bộ phận kiểm sốt nội bộ: ........................ 32

2.1.2 Nghĩa vụ cơng bố và bảo mật thông tin trong hoạt động của CTCK: ................... 34
2.1.3 Quy định về cơ cấu tổ chức tách biệt các bộ phận kinh doanh trong CTCK: ....... 37
2.1.4 Nghĩa vụ quản lý tách bạch tài khoản của CTCK với tài khoản của nhà đầu tư và
các nghĩa vụ khác liên quan đến quản lý tài khoản của nhà đầu tư: ............................... 39
2.1.5 Các quy định liên quan đến q trình quản lý lệnh mua bán chứng khốn của
khách hàng: ..................................................................................................................... 42
2.1.6 Quy định đối với hợp đồng mở tài khoản, hợp đồng ủy thác quản lý tài khoản, hợp
đồng giao dịch ủy quyền và các loại hợp đồng khác làm phát sinh quan hệ đại diện giữa
CTCK và nhà đầu tư: ...................................................................................................... 44
2.1.7 Vấn đề thanh tra, giám sát và chế tài xử lý vi phạm trong hoạt động của CTCK: 47
2.1.8 Các quy định khác: ................................................................................................. 52
2.2 Một số kiến nghị: .......................................................................................................52
Tóm tắt chương 2 ............................................................................................................ 56
Kết luận ........................................................................................................................... 57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: ......................................................................... 0


PHẦN MỞ ĐẦU
1.1

Lý do chọn đề tài:

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2013, UBCKNN đã cấp phép thành lập cho hơn
104 CTCK với tổng vốn chủ sở hữu khoảng 36.910 tỷ đồng1. So với con số 55 CTCK
vào ngày 1 tháng 1 năm 2007 khi Luật Chứng khoán Việt Nam năm 2006 có hiệu lực thì
số lượng CTCK đã tăng gấp đôi. Sự ra đời và phát triển của các CTCK cùng với nhiều
hoạt động kinh doanh đa dạng đã góp phần đáp ứng nhu cầu được hỗ trợ trong hoạt
động kinh doanh của các nhà đầu tư chứng khoán, tuy nhiên cũng làm cho vấn đề xung
đột lợi ích trong các hoạt động này ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Trong khi đó,
giảm thiểu xung đột lợi ích, đảm bảo đối xử công bằng với tất cả khách hàng, bảo vệ lợi

ích của khách hàng nhằm đáp ứng các tiêu chí về mức độ tuân thủ các quy tắc kinh
doanh của các chủ thể trung gian trên TTCK luôn là một trong những yêu cầu bắt buộc
đối với TTCK Việt Nam trong bối cảnh hội nhập với TTCK toàn cầu theo nguyên tắc số
23 trong Bộ các nguyên tắc quản lý TTCK của Tổ chức Quốc tế các Ủy ban Chứng
khoán (IOSCO)2 đưa ra năm 2003 - “Các tổ chức trung gian tài chính phải thực hiện
việc tuân thủ các tiêu chuẩn về tổ chức nội bộ, thực hiện nghiệp vụ nhằm bảo vệ lợi ích
nhà đầu tư, quản lý rủi ro, và ban lãnh đạo của tổ chức trung gian tài chính chịu trách
nhiệm chính đối với các vấn đề này.”3.
Vì lí do đó, ngay từ khi ban hành văn bản pháp luật đầu tiên nhằm mục đích điều
chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực chứng khốn và TTCK đó là Nghị định
48/1998/NĐ-CP, Chính phủ đã đưa ra một số quy định cụ thể để kiểm sốt vấn đề xung
đột lợi ích trong hoạt động của TTCK nói chung và hoạt động của CTCK nói riêng.
Tiếp theo đó, sự ra đời của Nghị định 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK (thay
thế Nghị định 48/1998/NĐ-CP), và đặc biệt là Luật Chứng khoán năm 2006 (sửa đổi, bổ
sung năm 2010) cùng với nhiều văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định
58/2012/NĐ-CP, Thông tư 210/2012/TT-BTC,… ghi nhận sự nỗ lực đáng kể của Chính
phủ trong việc hoàn thiện các quy định này.
Tuy nhiên, trên thực tế, vấn đề xung đột lợi ích chưa được giải quyết hiệu quả.
Tình trạng CTCK thực hiện các hành vi phạm các quy định về quản lý tài khoản của
khách hàng, vi phạm các quy định về công bố thông tin, quy định về quản trị cơng ty,…
nhằm mục đích thu lợi bất chính ngày càng phổ biến, phức tạp và khó kiểm sốt. Việc
xử lý vi phạm hành chính cũng như hình sự đối với các hoạt động này rất hạn chế trong
1

Tình hình tái cấu trúc CTCK năm 2013, Theo Vụ quản lý kinh doanh chứng khoán - Ủy ban chứng khoán nhà
nước, ssc.gov.vn ngày 27/01/2014.
2
International Organization of Securities Commissions (IOSCO), Objectives and Principles of Securities
Regulation 2003, Điều 12.5, pp 37.
3

International Organization of Securities Commissions (IOSCO), tlđd, pp 32.

1


khi quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư liên tục bị xâm phạm cho thấy pháp luật
hiện hành vẫn còn một số tồn tại nhất định và đặt ra vấn đề cần phải hoàn thiện pháp
luật hơn nữa. Chính vì lý do đó, khi lựa chọn đề tài “Giải quyết xung đột lợi ích trong
hoạt động của CTCK”, phân tích các quy định trong Luật Chứng khốn năm 2006 (Sửa
đổi bổ sung năm 2010) và các văn bản hướng dẫn thi hành, trên cơ sở xem xét sự phù
hợp với thực tiễn áp dụng tại các CTCK và thực tiễn xây dựng pháp luật điều chỉnh các
quan hệ tương tự trong pháp luật của một số quốc gia có TTCK tương đồng với TTCK
Việt Nam, tác giả mong muốn sẽ góp phần giải quyết hiệu quả vấn đề trên.
1.2

Tình hình nghiên cứu:

TTCK Việt Nam hình thành khá muộn so với TTCK của các nước trên thế giới.
Chính vì thế, hệ thống các quy định của pháp luật điều chỉnh đối với hoạt động của
TTCK Việt Nam nói chung và hoạt động của CTCK nói riêng khá tiến bộ do có sự học
hỏi kinh nghiệm pháp luật của nhiều quốc gia có trình độ lập pháp cao, tuy nhiên vẫn
còn tồn tại một số hạn chế nhất định. Trong giai đoạn gần đây, đã có rất nhiều đề tài
khoa học có giá trị trong việc giải quyết thực trạng này. Tiêu biểu trong số đó có thể kể
đến đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của PGS. TS. Nguyễn Văn Vân về vấn đề “Cơ
chế pháp lý bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư là cá nhân trên thị TTCK trong điều kiện tồn
cầu hố”; Luận văn thạc sĩ đề tài “Pháp luật về hoạt động môi giới chứng khoán của các
CTCK” của tác giả Bùi Thái Hùng; Luận văn cử nhân đề tài “Một số vấn đề về địa vị
pháp lý của CTCK trên TTCK Việt Nam” của tác giả Nguyễn Anh Thư,... Tuy nhiên,
các đề tài kể trên chủ yếu đi sâu nghiên cứu về CTCK với tư cách là một chủ thể tham
gia TTCK, nghiên cứu các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động cụ thể của CTCK

hoặc nghiên cứu pháp luật dưới góc độ bảo vệ nhà đầu tư mà chưa đề cập đến vấn đề
giải quyết những xung đột về lợi ích phát sinh trong các hoạt động cụ thể đó.
1.3

Mục đích nghiên cứu:

Đề tài phân tích một số vấn đề lý luận liên quan đến xung đột lợi ích của các bên
phát sinh trong hoạt động kinh doanh của CTCK nhằm nhận diện bản chất và nguyên
nhân của hiện tượng xung đột lợi ích trong hoạt động này. Trên cơ sở các ngun nhân
phân tích được, đề tài sẽ trình bày một số biện pháp pháp lý cơ bản có thể ứng dụng để
giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK. Sau đó đối chiếu với thực trạng
pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật trên TTCK Việt Nam để khẳng định những
điểm mạnh, phát hiện những hạn chế, và đề xuất các giải pháp, kiến nghị hướng đến
việc hoàn thiện các quy định liên quan đến đối tượng nghiên cứu được quy định trong
Luật Chứng khoán Việt Nam năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
1.4

Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu:

2


Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến hiện tượng xung
đột lợi ích trong hoạt động của CTCK; các vấn đề về lý luận, đánh giá các quy định
nhằm giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK theo Pháp Luật về Chứng
khoán và TTCK Việt Nam hiện hành, và các vấn đề thực tiễn có liên quan.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu vấn đề xung đột lợi ích phát sinh trong
hoạt động của CTCK theo Luật Chứng khoán 2006, khơng nghiên cứu xung đột lợi ích
phát sinh trong hoạt động của các chủ thể được phép thực hiện hoạt động kinh doanh
chứng khoán khác hay nghiên cứu vấn đề xung đột lợi ích trên tồn bộ TTCK Việt Nam

nói chung. Đối với vấn đề xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK, đề tài cũng chỉ
đề cập đến các xung đột lợi ích trong mối tương quan quyền lợi giữa CTCK và nhà đầu
tư, không nghiên cứu vấn đề xung đột lợi ích trong hệ thống quản trị nội bộ của công ty.
Đề tài cũng chỉ tập trung phân tích, đánh giá các quy định nhằm giải quyết vấn đề xung
đột lợi ích trong Luật Chứng khốn năm 2006 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2010) mà
không nghiên cứu vấn đề này trong Luật Đầu tư năm 2005, Luật doanh nghiệp năm
2005 và các văn bản Pháp luật chuyên ngành có liên quan khác.
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích, tổng hợp và chứng minh được
sử dụng chủ yếu. Bên cạnh đó cịn sử dụng các phương pháp luật so sánh (comparative
law method), phương pháp duy vật biện chứng.
1.5

Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài:

Khía cạnh pháp lý được phân tích trong đề tài khá mới so với các cơng trình
nghiên cứu trước đây trong cùng lĩnh vực nên có ý nghĩa bổ sung cơ sở lý luận về các
biện pháp pháp lý nhằm giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK. Về giá
trị thực tiễn, đề tài có giá trị như là một tài liệu tham khảo trong q trình nghiên cứu
hồn thiện các quy định của Pháp Luật về Chứng khoán và TTCK Việt Nam với mục
tiêu hướng đến việc giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK, đồng thời,
cũng là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu về cơ chế pháp
lý nhằm bảo vệ nhà đầu tư trên TTCK, nghiên cứu liên quan đến khía cạnh pháp lý
trong quản trị CTCK, các nghiên cứu mang tính chất vi mơ liên quan đến nghĩa vụ quản
lý tài khoản của khách hàng, quản lý quá trình đặt lệnh mua, bán chứng khoán của
khách hàng,.. trong hoạt động của CTCK.
1.6

Bố cục luận văn:
Luận văn được phân bổ thành hai chương:


Chương I: Lý luận chung về xung đột lợi ích và giải pháp pháp lý nhằm giải quyết
xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK.
Chương II: Thực trạng các biện pháp pháp lý nhằm giải quyết xung đột lợi ích
trong hoạt động của CTCK theo pháp luật Việt Nam và kiến nghị.
3


CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH VÀ
CÁC GIẢI PHÁP PHÁP LÝ NHẰM GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CTCK:
1.1 Khái quát về xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK:
1.1.1 Khái niệm xung đột lợi ích:
“Xung đột lợi ích” (Conflict of interest) là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ
biến trong các bài viết học thuật cũng như các đề tài nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực
kinh tế, chính trị hay pháp lý liên quan đến các dịch vụ công, tài chính – ngân hàng,
quản lý nhà nước hay quản trị doanh nghiệp. Tùy theo mục tiêu nghiên cứu mà các nhà
nghiên cứu thường tiếp cận khái niệm xung đột lợi ích dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy
nhiên có thể khái quát thành hai hướng tiếp cận phổ biến sau đây:
Cách tiếp cận thứ nhất định nghĩa vấn đề xung đột lợi ích dựa trên phương pháp
phân tích từ. Theo đó, Xung đột lợi ích được mơ tả là hiện tượng có hai hay nhiều lợi
ích cùng tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định và các lợi ích này đối lập, chống
đối nhau. Theo tác giả Christopher M. Gorman4 xung đột lợi ích là “một tình huống mà
lợi ích cá nhân của một người có thể xung đột với trách nhiệm thụ ủy của người đó với
một người khác; hoặc một tình huống mà có tồn tại khả năng xung đột giữa trách nhiệm
thụ ủy của một người đối với hai hay nhiều người khác nhau.” 5 Theo tác giả Hồ Bá
Thâm, “Xung đột lợi ích xảy ra khi các bên tranh chấp về lợi ích mà một bên bị thiệt hại
từ bên kia và khả năng khó hay khơng thể hịa giải, điều hịa được trong một thời điểm
nào đó. Nói ngắn gọn: Xung đột lợi ích là sự tranh chấp quyết liệt lợi ích (quyền lợi nói
chung).”6 Cách định nghĩa dựa trên phương pháp phân tích từ giúp cho người đọc có thể
hình dung vấn đề xung đột lợi ích một cách trực tiếp bằng việc đưa ra hai đặc điểm

thuộc về bản chất của hiện tượng. Theo đó, để xác định một tình huống là xung đột lợi
ích, chỉ cần chứng minh được hai đặc điểm, một là sự tồn tại nhiều lợi ích và hai là xác
định tính chất đối chọi, mâu thuẫn của các lợi ích này. Tuy nhiên, vì lợi ích là vấn đề
thuộc về mặt ý chí của các chủ thể, là một yếu tố chủ quan và rất khó xác định nếu
khơng liên kết nó với những hiện tượng cụ thể, bản chất của xung đột lợi ích lại tồn tại
trong sự bất cân xứng thông tin7 nên việc nhận diện xung đột lợi ích theo hướng tiếp cận
này thường rất khó thực hiện. Cách định nghĩa này đề cập đến xung đột lợi ích một cách
4

JD., Candidate, Fordham University School of Law, May 2004; B.S., summa cum laude, Finance, Providence College,
May 2001. I
5
Christopher M. Gorman, Fordham journal of corporate & finalcial law, vol. IX, pp 476.
6
Ts. Hồ Bá Thâm (2011), “Mâu thuẫn, xung đột lợi ích nhóm – thực trạng và giải pháp”, Nxb Chính trị quốc gia, Tp.
Hồ Chí Minh, tr. 71.
7
Lý thuyết thơng tin bất cân xứng (Asymmetric information) lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 và đã khẳng
định được vị trí của mình trong kinh tế học hiện đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này
là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế. (Xem PGS. TS. Nguyễn
Văn Vân (2010), “Quyền tiếp cận thông tin của nhà đầu tư chứng khốn”, Tạp chí khoa học pháp lý, (2-57), tr.26.)

4


đơn thuần mà không quan tâm nhiều đến các hệ quả của xung đột lợi ích nên thường
được sử dụng trong các nghiên cứu mang tính chất lý luận trong lĩnh vực quản lý công,
các nghiên cứu hướng đến mục tiêu vĩ mô mà không quan tâm nhiều đến việc xây dựng
cơ chế nhận diện để phòng ngừa đối với các xung đột lợi ích như là một hiện tượng
mang tính chất nguy cơ.

Đối với các nghiên cứu mang tính chất ứng dụng, hướng đến cả mục tiêu nhận
diện và giải quyết vấn đề, các nhà khoa học thường sử dụng một cách định nghĩa khác
đó là cách định nghĩa dựa trên phương pháp dùng từ bao hàm. Theo đó, “xung đột lợi
ích” được hiểu là “một tình huống có thể làm suy giảm đạo đức của con người bởi lợi
ích của chính họ hoặc lợi ích chung; một tình huống xảy ra khi các bên từ bỏ trách
nhiệm đối với bên thứ ba”8. Theo nhóm các tác giả Andrew Crockett, Trevor Harris,
Frederic S. Mishkin, và Eugene N. White, “Xung đột lợi ích là một tình huống phát sinh
khi các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính có nhiều lợi ích, các lợi ích này tạo ra động
lực để họ thực hiện các hành vi sai trái hoặc che giấu những thông tin cần thiết cho sự
hoạt động hiệu quả của thị trường”9. Cách tiếp cận này gần như khơng đề cập đến lợi ích
thứ hai trong mối quan hệ xung đột với lợi ích thứ nhất như ở cách tiếp cận đầu tiên mà
xung đột lợi ích được định nghĩa bằng cách khái quát từ các hiện tượng là nguyên nhân
và hệ quả trực tiếp của tình huống xung đột lợi ích cũng như của hành vi khai thác xung
đột trên thực tế. Xung đột lợi ích được hiểu là một hiện tượng có nguy cơ làm tăng các
tình huống khó xử về đạo đức đối với các chủ thể tham gia vào thị trường bằng cách tạo
ra các động lực để các chủ thể đó che giấu hoặc cung cấp thông tin sai lệch, làm ảnh
hưởng đến khách hàng mà họ có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích.10 Cách định nghĩa này tạo ra
một cơ chế nhận diện xung đột lợi ích đơn giản (thơng qua việc nhận diện các hiện
tượng làm phát sinh xung đột lợi ích hoặc các hiện tượng là hệ quả của xung đột lợi
ích), đồng thời nhận diện vấn đề xung đột lợi ích một cách bao quát hơn (gồm cả xung
đột lợi ích tiềm tàng và xung đột lợi ích thực tế) nên có tính ứng dụng cao hơn và
thường được sử dụng khá phổ biến trong lĩnh vực kinh tế, pháp lý – nơi mà việc nhận
diện để giải quyết vấn đề xung đột lợi ích được quan tâm nhiều hơn là nghiên cứu bản
chất của nó như thế nào.
Với mục đích nghiên cứu chủ yếu là giải quyết vấn đề xung đột lợi ích trong hoạt
động của CTCK, trong đề tài nghiên cứu này, tác giả cũng sẽ tiếp cận khái niệm xung
đột lợi ích chủ yếu theo hướng tiếp cận thứ hai.
8

“Conflict of interest is: 1. a situation that can undermine a person due to self interest and public interest. 2. a


situation when parties discharge responsibility to a third party.” (Henry Campbell Black (1986), M. A, “Black’s
Law Dictionary” (Revised fourth edition), St. Paul, Minn. West publishing co., pp. 157)
9
Andrew Crockett, Trevor Harris, Frederic S. Mishkin, and Eugene White (2004), “Conflicts of Interest in the
Financial Services Industry: What Should We Do About Them?”, Geneva Reports on the World Economy, pp.5.
10
Andrew Crockett, Trevor Harris, Frederic S. Mishkin, and Eugene N. White, tldd, pp 5.

5


1.1.2 Phân loại các xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK:
Xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK là xung đột lợi ích theo nghĩa rộng, nó
bao gồm xung đột lợi ích tồn tại trong hai mối quan hệ gắn liền với hoạt động của
CTCK: (i) một là xung đột lợi ích phát sinh trong hoạt động kinh doanh với nhà đầu tư
là khách hàng của CTCK và (ii) hai là xung đột lợi ích trong quá trình quản trị nội bộ
của cơng ty. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả sẽ khơng đi sâu
nghiên cứu các xung đột lợi ích liên quan đến quá trình quản trị nội bộ của CTCK mà
chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề xung đột lợi ích trong hoạt động kinh doanh liên quan
đến mối quan hệ giữa CTCK với nhà đầu tư là khách hàng của CTCK. Có nhiều tiêu chí
khác nhau để phân chia các xung đột lợi ích thuộc về nhóm này. Tùy theo hướng tiếp
cận và mục đích nghiên cứu mà các tiêu chí phân loại này đều có những ý nghĩa khoa
học nhất định:
Dựa vào mức độ của xung đột, có thể phân loại xung đột lợi ích thành xung đột lợi
ích ngắn hạn (xung đột lợi ích thực tế) và xung đột lợi ích trong dài hạn (xung đột lợi
ích tiềm tàng). Xung đột lợi ích ngắn hạn xảy ra khi cá nhân hoặc tổ chức hành động đi
ngược với lợi ích của khách hàng mà cá nhân hay tổ chức đó đã cam kết phục vụ, nó
biểu hiện thơng qua những hành vi vi phạm nghĩa vụ cụ thể của CTCK trên thực tế nên
còn gọi là xung đột lợi ích thực tế. Xung đột lợi ích trong dài hạn là xung đột lợi ích

được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Mặc dù về bản chất thì xung đột lợi ích trong dài hạn
suy cho cùng cũng là những tình huống mà xung đột lợi ích ngắn hạn có thể xảy ra
nhưng nó lại khơng gắn liền với các hành vi vi phạm cụ thể mà là những tình huống tồn
tại dưới dạng nguy cơ chung đối với sự phát triển của tồn bộ TTCK nên cịn được gọi
là xung đột lợi ích tiềm tàng. Nếu như xung đột lợi ích trong ngắn hạn dẫn đến những
hành vi vi phạm nghĩa vụ, trách nhiệm đối với khách hàng thì xung đột lợi ích trong dài
hạn thường dẫn tới hành vi phi đạo đức, tốt nhất là nên tránh nhưng trong những tình
huống nhất định, xung đột lợi ích này là đặc điểm không thể tránh khỏi.
Dựa vào chủ thể lợi ích, có thể phân thành xung đột lợi ích cá nhân và xung đột lợi
ích tổ chức. Các cá nhân cũng như các tổ chức có thể thực hiện cả vai trò đại diện và vai
trò của người được ủy thác, khi đó, tổ chức có thể khơng phục vụ tốt lợi ích của người
ủy quyền hay người ủy thác mặc dù khơng có cá nhân nào có lỗi. Ví dụ như khi bộ phận
quản lý tài khoản ủy thác của một CTCK thuộc một NHTM biết rằng một công ty khách hàng của NHTM có vấn đề về tài chính thì họ vẫn phải tn theo theo ngun tắc
bảo mật thông tin về khách hàng. Tuy nhiên việc bảo mật thông tin lại làm bất lợi cho
chủ thể ủy thác quản lý tài khoản liên quan đến hoạt động của CTCK11.
11

Th.s Đặng Tài An Trang (2011), “Kiềm chế xung đột lợi ích trong lĩnh vực chứng khốn và TTCK”, Tạp chí
Chứng khốn Việt Nam, (156 - 10/2011), tr. 15.

6


Dựa vào đối tượng thụ hưởng kết quả của việc khai thác xung đột lợi ích, có thể
chia xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK thành xung đột lợi ích chủ quan và
xung đột lợi ích khách quan. Xung đột lợi ích chủ quan xuất hiện khi các lợi ích thực tế
hoặc tiềm tàng liên quan tới việc khai thác xung đột lợi ích sẽ mang lại lợi ích cho chính
CTCK. Ngược lại, nếu việc khai thác xung đột lợi ích khơng phải vì lợi ích của CTCK
mà là vì lợi ích của một bên thứ ba nào đó (thường là một khách hàng khác của CTCK)
thì các xung đột lợi ích trong trường hợp đó là xung đột lợi ích khách quan. Trong khi

xung đột lợi ích chủ quan thường mang tính cá biệt, liên quan trực tiếp đến lợi ích của
CTCK thì xung đột lợi ích khách quan ít nhiều mang tính chất của xung đột lợi ích
nhóm, trong đó CTCK và một số khách hàng mang lại lợi ích nhiều hơn cho CTCK
(thường là các khách hàng lớn) sẽ thuộc về một nhóm12 và những khách hàng cịn lại sẽ
thuộc về nhóm yếu thế. Lợi ích của CTCK gắn liền với lợi ích của khách hàng cùng
nhóm lợi ích với cơng ty. Do đó, khi có sự chênh lệch đáng kể lợi ích thu được từ những
khách hàng khác nhau, vì lợi ích của mình, CTCK sẽ ưu tiên cho lợi ích của các khách
hàng cùng nhóm và buộc phải từ bỏ trách nhiệm, nghĩa vụ, thậm chí là xâm phạm quyền
lợi của nhóm khách hàng cịn lại.
Dựa trên tiêu chí về đối tượng thụ hưởng lợi ích kể trên, Luật Chứng khốn Việt
Nam năm 2006 phân chia xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK thành hai nhóm
là: (i) xung đột giữa các lợi ích trực tiếp của CTCK với lợi ích của khách hàng và (ii) và
xung đột các lợi ích của các khách hàng khác nhau13. Theo quan điểm của tác giả, việc
phân chia xung đột lợi ích dựa vào đối tượng thụ hưởng lợi ích chỉ mang tính chất tương
đối mà khơng thể sử dụng tiêu chí này để phân loại xung đột lợi ích trong hoạt động của
CTCK một cách rạch rịi, bởi lẽ, việc lựa chọn lợi ích của khách hàng này hay lợi ích
của khách hàng khác, lựa chọn giữa lợi ích của CTCK hay lợi ích của khách hàng suy
cho cùng đều nhằm đảm bảo lợi ích của CTCK. Do đó, việc phân loại xung đột lợi ích
trong hoạt động của CTCK chỉ thật sự có ý nghĩa trong việc phân tích xung đột lợi ích
ngắn hạn, khi mà vấn đề khai thác xung đột lợi ích tác động trực tiếp đến từng chủ thể
trên TTCK. Trong dài hạn, tất cả các xung đột lợi ích của CTCK thực chất chỉ là xung
đột giữa các lợi ích của CTCK với nhau và vấn đề xung đột lợi ích sẽ có tác hại đến tồn
bộ TTCK (sẽ phân tích kĩ hơn khi nghiên cứu về sự cần thiết phải giải quyết xung đột
lợi ích trong hoạt động của CTCK ở phần 1.1.1.2) nên việc phân loại theo tiêu chí này
sẽ khơng cịn phù hợp nữa.
1.1.3 Các ngun nhân làm phát sinh xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK:
12

Việc xuất hiện nhóm lợi ích này là do các lợi ích khơng mâu thuẫn và phụ thuộc nhau. Theo đó, lợi ích của
CTCK hướng đến là chi phí dịch vụ sẽ tăng đáng kể và được chi trả nhiều hơn khi khách hàng cùng nhóm đạt

được lợi ích từ việc đầu tư hiệu quả của mình.
13
Thể hiện rõ ràng nhất tại khoản 3, Điều 45, Thông tư 210/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 30 tháng 11 năm
2012 Hướng dẫn về thành lập và hoạt động của CTCK.

7


Từ khái niệm xung đột lợi ích đã được đề cập ở phần 1.1.1, có thể khẳng định, một
trong những yếu tố bắt buộc, mang tính bản chất làm phát sinh tình huống xung đột lợi
ích nói chung và xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK nói riêng đó là sự tồn tại
của các lợi ích khác nhau (trong mối tương quan so sánh giữa lợi ích của CTCK với lợi
ích của nhà đầu tư hoặc so sánh giữa các lợi ích của CTCK với nhau). Tuy nhiên, sự tồn
tại của các lợi ích khác nhau chưa phải là điều kiện đủ làm phát sinh xung đột lợi ích
trong hoạt động của CTCK mà xung đột lợi ích chỉ phát sinh khi xuất hiện các hiện
tượng làm cho các lợi ích khác nhau đó trở nên xung đột và làm cho các lợi ích xung đột
trở thành nguy cơ có thể gây ra tổn hại đến quyền và lợi ích của nhà đầu tư cũng như đối
với tồn bộ TTCK. Do đó, việc xác định các nguyên nhân làm phát sinh xung đột lợi ích
trong hoạt động của CTCK cũng phải hướng đến việc xác định tất cả các nguyên nhân
làm phát sinh ba yếu tố kể trên. Trên thực tế, các nguyên nhân này có thể tồn tại một
cách đơn nhất hoặc cũng có thể tồn tại cùng lúc trong các hiện tượng cụ thể, do đó tác
giả sẽ khơng phân chia một cách rạch rịi thành ba nhóm ngun nhân như đã đề cập mà
sẽ trình bày chúng như là các mặt tác động khác nhau của ba hiện tượng làm phát sinh
xung đột lợi ích, bao gồm: (i) “Vấn đề đại diện” phát sinh dựa trên các quan hệ mang
tính chất đại diện trong hoạt động của CTCK; (ii) Khả năng thực hiện đồng thời nhiều
nghiệp vụ khác nhau trong hoạt động của CTCK; và (iii) Sự hạn chế về nguồn lực thơng
tin và tình trạng bất cân xứng thơng tin trên TTCK nói chung và trong hoạt động của
CTCK nói riêng.
1.1.3.1 “Vấn đề đại diện” phát sinh dựa trên các quan hệ mang tính chất đại diện
trong hoạt động của CTCK:

Để đáp ứng nguyên tắc trung gian trên TTCK, Pháp Luật về Chứng khoán và
TTCK thường khơng cho phép nhà đầu tư chứng khốn tự mình gặp gỡ, trao đổi thơng
tin và mua, bán chứng khốn trực tiếp từ những người có nhu cầu bán, mua chứng
khốn khác mà chỉ có thể thực hiện hoạt động mua, bán chứng khốn thơng qua chủ thể
trung gian, đó chính là các CTCK. Các nhà đầu tư chứng khốn phải có tài khoản mở tại
một CTCK14 và tiến hành mọi hoạt động mua, bán, đầu tư chứng khốn thơng qua tài
khoản này tại các sàn giao dịch của CTCK, phải ký thác tiền và chứng khoán thuộc sở
hữu của mình vào tài khoản tại CTCK mà khơng trực tiếp nắm giữ15. Xét về mặt này,
CTCK đóng vai trò trung gian bắt buộc thực hiện chức năng giám sát trong hoạt động
mua bán, trao đổi chứng khoán của khách hàng. Vai trò đại diện của CTCK còn được
thể hiện trong hầu hết các nghiệp vụ mà CTCK được thực hiện (trừ nghiệp vụ tự doanh

14

Điều 7, Thông tư 74/2011/TT-BTC của Bộ tài chính hướng dẫn về giao dịch chứng khốn.
Th.s Phan Phương Nam (2011), “Hồn chỉnh cơ chế pháp lý bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán trong giai đoạn giao
dịch chứng khốn”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (1-186) tháng 1 năm 2011, tr.42.
15

8


chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán)16. Mối quan hệ giữa CTCK và nhà đầu tư
trong các nghiệp vụ này thực chất là mối quan hệ đại diện (principal – agent
relationship), trong đó nhà đầu tư là người ủy nhiệm (principal) và CTCK là người thụ
ủy (agent). Quan hệ đại diện trong hoạt động của CTCK luôn tồn tại hai mặt của lợi ích
mâu thuẫn theo học thuyết về đại diện (agency theory17), đặc biệt là trong các nghiên
cứu về quan hệ chủ sở hữu – người đại diện (principal – agent research)18 ở các nước
phương Tây: (i) Một là sự khác biệt về lợi ích của người ủy thác và người đại diện; và
(ii) hai là sự khác biệt trong quan điểm của người ủy thác và người đại diện đối với vấn

đề rủi ro dẫn đến những hành động khác nhau và ảnh hưởng đến lợi ích chung 19. Nếu
như mối quan tâm cơ bản nhất của nhà đầu tư khi sử dụng các dịch vụ hỗ trợ của CTCK
là mục tiêu đảm bảo an toàn vốn đi kèm với một mức lợi nhuận kì vọng cụ thể nên mức
độ chấp nhận rủi ro thấp thì mục tiêu của CTCK lại là tối đa hóa lợi nhuận thông qua
việc gia tăng doanh thu từ việc cung ứng các dịch vụ cho khách hàng nên họ thường có
khuynh hướng chấp nhận rủi ro có thể gặp phải đối với các khoản đầu tư của khách
hàng miễn là gia tăng được số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ. Xét về mặt này, “Vấn
đề đại diện” trong hoạt động của CTCK đã làm phát sinh các lợi ích xung đột đầu tiên –
khác biệt về lợi ích trong mối tương quan so sánh giữa lợi ích của CTCK với lợi ích của
khách hàng, khác biệt lợi ích gắn liền với các chủ thể mang lợi ích trong hoạt động của
CTCK. So với tính chất của vấn đề xung đột lợi ích trong các hoạt động khác – đặc biệt
là xung đột lợi ích trong cơ cấu tổ chức của cơng ty cổ phần, cơng ty TNHH, thì vấn đề
xung đột lợi ích trong CTCK về mặt này có tính chất gay gắt hơn. Nếu như quan hệ
giữa người đại diện là người quản lý và chủ sở hữu trong mơ hình cơng ty bình thường
đã được xoa dịu vì suy cho cùng, lợi ích hai bên cịn có điểm chung đó là phụ thuộc vào
hiệu quả hoạt động của cơng ty20 thì trong quan hệ đại diện giữa CTCK và khách hàng
các lợi ích này hồn tồn khơng đồng nhất, CTCK vẫn có thể đạt được lợi ích là các chi
phí cung cấp dịch vụ và kiểm sốt tốt các rủi ro đối với mình ngay cả khi khách hàng bị
thua lỗ đối với khoản đầu tư được tư vấn.
16

Ts. Phạm Thị Giang Thu (2008), Giáo trình Luật chứng khốn, trường Đại học luật Hà Nội, Nxb Cơng An Nhân
dân, tr. 322, 364, 310.
17
Học thuyết về đại diện lần đầu tiên được đưa ra bởi các nhà kinh tế học là Wilson năm 1968 và Arrow năm 1971
dưới dạng học thuyết miêu tả vấn đề chia sẻ rủi ro giữa các cá nhân hay các nhóm. Sau đó được phát triển bởi
Jesen & Meckling năm 1976; Ros năm 1973 và hoàn thiện thành học thuyết về mối quan hệ đại diện giữa chủ sở
hữu và người đại diện bởi Jesen & Meckling năm 1976.
18
Các học thuyết về đại diện chia thành hai nhánh đó là nhánh nghiên cứu thực chứng (Positivist reserch) – nghiên

cứu trong tình huống đặc biệt là quan hệ giữa chủ sở hữu và người quản lý trong các công ty lớn, công ty đại
chúng và nhánh nghiên cứu quan hệ chủ sở hữu – người đại diện (principal – agent reserch) – nghiên cứu tổng quát
về quan hệ chủ sở hữu – đại diện trong tất cả các trường hợp như quan hệ giữa chủ lao động và người làm thuê,
giữa luật sư và khách hàng, giữa người mua và người bán và các quan hệ đại diện khác. (Xem Kathleen M.
Eisenhardt (1989), “Agency Theory: An Assessment and Review”, The academy of management, Vol. 14, No. 1,
Jan., 1989, pp 59 – 60).
19
Kathleen M. Eisenhardt (1989), tlđd, pp 57.
20
Kathleen M. Eisenhardt (1989), tlđd, pp 60.

9


Khi xem xét dưới góc độ là nguyên nhân làm cho các lợi ích xung đột trở thành
nguy cơ đối với nhà đầu tư và TTCK. Bản chất của các quan hệ mang tính chất đại diện
trong hoạt động của CTCK làm phát sinh các nghĩa vụ của CTCK đối với nhà đầu tư,
đồng thời cũng trao rất nhiều quyền để đảm bảo CTCK có thể hồn thành nhiệm vụ của
người được ủy thác, đó có thể là quyền được can thiệp trực tiếp vào các hoạt động đầu
tư và chủ động đưa ra quyết định mà không cần phải thông qua quyết định cuối cùng
của khách hàng (bao gồm quyết định mua, bán chứng khoán theo yêu cầu của người
bán, người mua trong hoạt động môi giới, quyết định thực hiện các công việc liên quan
đến phát hành chứng khoán trong hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán, hay quyết
định quản lý và đầu tư đối với hoạt động ủy thác quản lý tài khoản,... ), đó cũng có thể là
quyền tiếp cận đối với thơng tin của nhà đầu tư là khách hàng (thường được quy định
dưới dạng quyền được yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết của
CTCK khi nhận ủy thác21). Chính những quyền này đã trở thành những cơng cụ mà
CTCK sử dụng để khai thác xung đột lợi ích nhằm trục lợi cho mình.
1.1.3.2 Khả năng thực hiện đồng thời nhiều nghiệp vụ khác nhau trong hoạt động của
CTCK:

Xuất phát từ bản chất của hoạt động kinh doanh chứng khoán của CTCK, pháp
luật pháp về chứng khoán và TTCK của các quốc gia trên thế giới đều cho phép CTCK
thực hiện đồng thời nhiều hoạt động kinh doanh khác nhau22. Tương ứng với mỗi
nghiệp vụ hoạt động, CTCK hướng đến một lợi ích khác nhau, đó có thể là các lợi ích
trực tiếp thu được từ hoạt động đầu tư chứng khoán như cổ tức (đối với cổ phiếu), lãi
suất (đối với trái phiếu), cổ phiếu thưởng, chênh lệch giá mua vào và bán ra của chứng
khoán, quyền ứng cử, bầu cử, tham dự đại hội đồng cổ đơng, quyền cung cấp thơng
tin,... hoặc cũng có thể là các lợi ích thu được thơng qua việc cung cấp dịch vụ cho
khách hàng như các khoản hoa hồng, phí cung cấp dịch vụ... Khi các hoạt động này bị
giới hạn bởi một nguồn lực thơng tin khan hiếm thì CTCK chỉ có thể lựa chọn một lợi
ích tương ứng với một hoạt động duy nhất. Các lợi ích trong trường hợp đó gọi là lợi ích
xung đột. Lợi ích xung đột là những lợi ích có tính chất mâu thuẫn, loại trừ nhau. Do đó,
CTCK khơng thể đảm bảo cả hai lợi ích cùng lúc. Sự mở rộng về phạm vi hoạt động của
thị trường tài chính nói chung đã dẫn đến tình trạng các định chế tài chính (Bao gồm cả
CTCK) đưa ra nhiều dịch vụ dựa trên một nguồn lực chung, điều này đã tạo ra các lợi
ích khác nhau và đó là ngun nhân làm phát sinh nhóm các lợi ích xung đột thứ hai -

21

Xem khoản 4, Điều 19 Chỉ thị số 39/2004 của Liên minh châu Âu về thị trường các công cụ tài chính; điểm b,
khoản 6, Điều 61 Thơng tư 210/2012/TT-BTC,…
22
Điều 12 Luật dịch vụ đầu tư tài chính và thị trường vốn Hàn Quốc năm 2012, Điều 125 Luật Chứng khoán
Trung Quốc năm 2006, Điều 96 Luật chứng khoán Thái Lan, Điều 60 Luật Chứng khoán Việt Nam năm 2006,…

10


khác biệt về lợi ích trong mối tương quan so sánh giữa các lợi ích của CTCK với nhau,
khác biệt lợi ích gắn liền với những hoạt động cụ thể trong hoạt động của CTCK.

Khi xem xét dưới góc độ là nguyên nhân làm cho các lợi ích khác nhau trở nên
xung đột, thì bản thân việc thực hiện đồng thời nhiều hoạt động khác nhau cũng có khả
năng tạo ra sự xung đột nội tại giữa các lợi ích trong từng hoạt động. Thứ nhất, khi giá
trị của một doanh nghiệp khách hàng đang suy giảm nhưng nhà đầu tư chưa nhận biết
được điều này, CTCK có thể sử dụng hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán của nó
đưa ra một đợt phát hành chứng khốn với các thông tin không trung thực về chất lượng
của đợt phát hành với cơng chúng đầu tư để bán chứng khốn đó. Động cơ của CTCK ở
đây là các khoản phí thu được từ hoạt động bảo lãnh phát hành hoặc cứu các khoản đầu
tư (đã thực hiện trong hoạt động tự doanh) bằng cách tái tài trợ cho doanh nghiệp khách
hàng thông qua vốn của những nhà đầu tư khác. Thứ hai, khi giá trị của một doanh
nghiệp khách hàng gia tăng nhưng nhà đầu tư chưa nhận biết được điều này, CTCK có
thể tiếp tục đầu tư cho các khách hàng tốt nhất của họ thông qua hoạt động tự doanh mà
không cung cấp các danh mục đầu tư đó cho khách hàng. Đối với vấn đề này, đó là
CTCK “phớt tay trên” và xâm phạm nghĩa vụ đối với nhà đầu tư. Một vấn đề nữa trong
số các vấn đề liên quan đến mâu thuẫn lợi ích là bộ phận phân tích chứng khốn của các
CTCK có khuynh hướng bị chi phối bởi CTCK đưa ra những phân tích đánh giá có lợi
cho các chứng khốn mà CTCK bảo lãnh phát hành. Bộ phận môi giới của CTCK cũng
có khuynh hướng thu hút khách hàng mua chứng khốn do chính nó bảo lãnh phát hành.
Những điều này đã tạo ra sự mâu thuẫn lợi ích giữa CTCK với nhà đầu tư và kể cả với
doanh nghiệp. Hậu quả là làm tổn hại đến lợi ích kinh tế của cơng chúng đầu tư và làm
xói mịn niềm tin vào thị trường vốn23.
Như vậy, khả năng thực hiện nhiều hoạt động khác nhau và sự liên kết giữa các
hoạt động này mặc dù làm tăng tính kinh tế theo quy mơ và làm giảm chi phí trong các
hoạt động của CTCK do việc mở rộng mối quan hệ giữa CTCK với nhà đầu tư và tránh
tình trạng thu thập thơng tin trùng lắp nhưng lại làm phát sinh các lợi ích khác nhau và
cũng làm cho các lợi ích khác nhau trở thành các lợi ích xung đột. Đây là hai điều kiện
cơ bản để hình thành nên vấn đề xung đột lợi ích.
1.1.3.3 Sự hạn chế về nguồn lực thơng tin và tình trạng bất cân xứng thơng tin trên
TTCK nói chung và trong hoạt động của CTCK nói riêng.
Bất cân xứng thơng tin là một tình trạng khá phổ biến trên TTCK nói chung và

trong hoạt động của CTCK nói riêng. Bất cân xứng thơng tin trong hoạt động của CTCK
là tình huống mà CTCK có nhiều thơng tin chính xác hơn bên cịn lại là nhà đầu tư.
23

Xem tại: http://yume.vn/thienthan_tihon124/article/co-dong-ngan-hang-va-nguoi-cho-vay-xung-dot-loi-ich35C82092.htm

11


Xuất phát từ quyền yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin nhằm đảm bảo thực hiện các
công việc với vai trò là người thụ ủy như đã đề cập ở phần 1.1.3.1 và tính chun mơn
hóa trong hoạt động kinh doanh chứng khốn, CTCK trở nên có nhiều ưu thế hơn về chi
phí và khả năng tiếp cận, thu thập, xử lý, giải thích và phân phối thơng tin so với nhà
đầu tư. Tính chun mơn hóa trong hoạt động kinh doanh giúp CTCK thiết lập được các
mối quan hệ mang tính chất dài hạn với các cơng ty là khách hàng cũng như đối tác của
CTCK, thiết lập được cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và đội ngũ nhân viên có nhiều
kinh nghiệm, điều này đã làm gia tăng tình trạng bất cân xứng thơng tin trong hoạt động
của CTCK. Bất cân xứng thông tin là một hiện tượng khách quan, không thể tránh khỏi
trong hoạt động của CTCK, nó khơng làm phát sinh các lợi ích khác nhau nhưng lại
đóng vai trị rất quan trọng trong việc làm phát sinh vấn đề xung đột lợi ích như là
nguyên nhân làm cho các lợi ích khác nhau trở nên xung đột và làm cho các lợi ích xung
đột trở thành nguy cơ đối với nhà đầu tư và TTCK.
Thứ nhất, bất cân xứng thông tin làm cho các lợi ích khác nhau trong hoạt động
của CTCK trở nên xung đột. Thông thường, nếu các nhà đầu tư tự mình thực hiện hoạt
động đầu tư của mình mà khơng sử dụng các dịch vụ của CTCK thì các lợi ích của
CTCK và lợi ích của nhà đầu tư là độc lập với nhau vì nó dựa trên những nguồn thông
tin riêng biệt do các bên tự thu thập, xử lý và phân tích. Khi đó, CTCK sẽ không thể
thực hiện được hành vi khai thác xung đột lợi ích, các lợi ích khác nhau trong trường
hợp này khơng tồn tại dưới dạng các lợi ích xung đột nên khơng phải là hiện tượng xung
đột lợi ích. Tuy nhiên, bất cân xứng thông tin làm phát sinh nhu cầu của nhà đầu tư đối

với các dịch vụ của CTCK. Bất cân xứng thông tin được nhà đầu tư thừa nhận và tìm
cách khắc phục bằng cách kí kết các hợp đồng sử dụng các dịch vụ với CTCK với nhu
cầu “mua lại” các thơng tin mà CTCK có được để phục vụ cho hoạt động đầu tư của
mình. Để hạ thấp chi phí sản xuất thơng tin cho mỗi dịch vụ, CTCK lại có thể áp một
nguồn tài nguyên thông tin cho nhiều dịch vụ khác nhau. Lúc này, các lợi ích đạt được
lại dựa trên cùng một nguồn thông tin hạn chế duy nhất. Như đã phân tích ở Phần
1.1.1.2, điều này làm cho các lợi ích khác nhau trong hoạt động của CTCK trở nên xung
đột.
Thứ hai, với vai trò là nguyên nhân làm cho các lợi ích xung đột trở thành nguy cơ
đối với nhà đầu tư và TTCK. Trong trường hợp thơng tin hồn hảo, khách hàng có thể
biết được tất cả thơng tin điều chỉnh hoạt động đại diện của CTCK thì quan hệ đại diện
sẽ khơng dẫn đến xung đột lợi ích24. Tuy nhiên, trường hợp thơng tin hồn hảo là rất khó
và gần như là khơng thể xảy ra ngay cả trên các TTCK phát triển bậc nhất thế giới. Tình
trạng bất cân xứng thông tin làm cho nhà đầu tư khơng thể kiểm sốt được hoạt động đại
24

Kathleen M. Eisenhardt (1989), tlđd, pp. 61

12


diện của CTCK, khơng kiểm sốt được luồng thơng tin mà CTCK sử dụng trong hoạt
động của nó, điều này làm tăng sự cảm nhận của nhà đầu tư vào mâu thuẫn lợi ích và
làm cho các lợi ích xung đột này thực sự trở thành nguy cơ đối với nhà đầu tư và TTCK.
Tóm lại, trong q trình thực hiện các hoạt động của mình, CTCK và các nhân
viên của CTCK thực hiện hai vai trò cơ bản gồm: trung gian trong các giao dịch tài sản
và giám sát tài sản. Trong cả hai vai trò trên, các CTCK đều đóng vai trị làm các đại
diện thay mặt người ủy quyền là nhà đầu tư và thông thường, những người thực hiện các
nghiệp vụ của CTCK cũng là những người được ủy thác – những người có trách nhiệm
được ủy thác đối với người ủy thác là khách hàng của mình25. Tuy nhiên, những người

được ủy thác khơng chỉ thuần túy đóng vai trị là người đại diện và người được ủy thác
hoạt động vì lợi ích của một người ủy thác duy nhất mà họ còn thực hiện nhiều hoạt
động khác nhau vì nhiều lợi ích khác nhau. Các lợi ích mà họ đạt được trong khi thực
hiện các hoạt động này ln có sự mâu thuẫn do bị giới hạn bởi nguồn lực thơng tin hạn
chế, tình trạng bất cân xứng thơng tin và tính chất đặc thù của TTCK26 đã làm phát sinh
vấn đề xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK.
1.2 Khái quát về các biện pháp pháp lý nhằm giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt
động của CTCK:
Các biện pháp pháp lý nhằm giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động của
CTCK được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều
chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến vấn đề xung đột lợi ích phát sinh trong q trình
thực hiện các hoạt động kinh doanh của CTCK. Vì bản chất của các quan hệ xã hội liên
quan đến vấn đề xung đột lợi ích được các quy phạm pháp luật này điều chỉnh hồn tồn
là những quan hệ xã hội mang tính chất kinh tế, nên các biện pháp pháp lý nhằm giải
quyết xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK thực chất cũng là những quy định
được luật hóa dựa trên các biện pháp kinh tế. Do đó, ngồi những đặc trưng riêng có
như là một biện pháp pháp lý, các biện pháp này cũng thể hiện nhiều điểm tương đồng
về cả cơ chế giải quyết và nguyên tắc điều chỉnh so với nhóm các biện pháp kinh tế.
1.2.1 Các nguyên tắc giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK:
 Nguyên tắc bảo đảm quyền sở hữu:
Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản của công đân được quy
định tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013, Điều 169 Bộ luật dân sự năm 2005. Quyền sở
hữu tài sản bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài
25

Th.s Đặng Tài An Trang (2011), tlđd , tr. 14.
Tính đặc thù của TTCK là do chứng khoán là một loại hàng hóa đặc biệt, số lượng lớn, danh mục đa dạng, biến
động giá cao và khơng mang tính cá biệt như một số hàng hóa thơng thường khác. Việc mua bán chứng khoán lại
thường được thực hiện theo phương thức khớp lệnh và yêu cầu bảo mật thông tin khách hàng.
26


13


sản. Nguyên tắc bảo đảm quyền sở hữu tài sản trên TTCK được hiểu là không xâm
phạm đến tài khoản của nhà đầu tư, không xâm phạm đến quyền định đoạt của CTCK
đối với các tài sản của nó. Các quy định về đảm bảo quyền sở hữu tài sản cho nhà đầu tư
cũng như CTCK là nền tảng và tiền đề quan trọng cho việc giao dịch chứng khoán và
thu hút vốn cho nền kinh tế. Bởi vì các nhà đầu tư cũng như CTCK không thể mua, bán
chứng khốn nếu khơng xác định được sở hữu của người bán đối với chứng khoán là đối
tượng của hợp đồng.27
 Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh:
Điều 33, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh
trong những ngành nghề mà pháp luật khơng cấm”, điều đó có nghĩa là quyền tự do kinh
doanh được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quyền tự do kinh doanh được hiểu là khả
năng hành động một cách có ý thức của cá nhân hay pháp nhân trong quá trình sản xuất
- kinh doanh. Theo nghĩa này, thì quyền tự do kinh doanh là khả năng mà pháp luật hay
cá nhân có thể xử sự như: tự do quyết định hình thức kinh doanh, tự do lựa chọn mơ
hình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, tự do lựa chọn đối tác để thiết lập các mối
quan hệ kinh tế,… Có thể nói rằng việc ghi nhận quyền tự do kinh doanh là một quyền
Hiến định tạo cơ sở quan trọng cho sự vận hành của nền kinh tế nói chung và TTCK nói
riêng28. Trên TTCK, quyền tự do kinh doanh tạo căn cứ để CTCK lựa chọn các hình
thức kinh doanh phù hợp để tối đa hóa lợi nhuận.
 Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do cạnh tranh:
Cạnh tranh được thừa nhận là quy luật vận động cơ bản của nền kinh tế thị trường
và là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Tự do cạnh tranh trong hoạt động
của TTCK nói chung và hoạt động của CTCK nói riêng là một quyền hết sức quan trọng
và được pháp luật thừa nhận thông qua các nguyên tắc về giao dịch, nguyên tắc đa dạng
hóa các chủ thể tham gia vào TTCK, các chế tài áp dụng đối với hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trên thị trường,… Thực thi quyền tự do cạnh tranh trên TTCK còn

được xem là một cơ chế tự động giải quyết hiệu quả vấn đề xung đột lợi ích trong hoạt
động của CTCK làm gia tăng tính minh bạch của thị trường. Do đó, các biện pháp nhằm
giải quyết xung đột lợi ích khơng được phép làm suy giảm quyền tự do cạnh tranh của
CTCK cũng như của nhà đầu tư đã được pháp luật bảo vệ.
 Nguyên tắc giải quyết xung đột lợi ích không gây tổn hại đến TTCK:
Trước tiên, cần phải khẳng định xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK cũng
như trong hoạt động của các định chế tài chính khác là một vấn đề thuộc bản chất không
27

Trần Quốc Hoài (2006), “Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư tên TTCK”, Đại học Luật Tp. Hồ
Chí Minh, Tr.19.
28
Trần Quốc Hồi (2006), tlđd, Tr.19.

14


thể tránh khỏi do vai trò đại diện và đồng thời là người được ủy thác luôn hiện diện song
song với nghĩa vụ mà công ty phải thực hiện với một bên khác, do vậy nếu theo nguyên
tắc không thực hiện các hoạt động có lợi ích xung đột thì nhiều hoạt động của các định
chế tài chính này khơng thể thực hiện được29. Mặt khác, sự tồn tại của xung đột lợi ích
trong hoạt động của CTCK vẫn có thể tạo ra tác động tích cực (sẽ phân tích ở phần tiếp
theo). Do đó, khi xem xét lựa chọn các biện pháp giải quyết xung đột lợi ích cũng cần
phải cân nhắc giữa các tác động tích cực và khả năng làm giảm tính hiệu quả của thị
trường do việc ngăn chặn sự lưu chuyển của các dịng thơng tin hữu ích, cân nhắc giữa
chi phí cho biện pháp giải quyết và thiệt hại do xung đột lợi ích gây ra để áp dụng biện
pháp phù hợp30. Điều này cũng chính là xem xét sự cần thiết phải áp dụng các biện pháp
giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK.
1.2.2 Sự cần thiết phải giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK:
Sự cần thiết phải giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK được thể

hiện thông qua các tác động của xung đột lợi ích trong bối cảnh TTCK hiện tại. Xuất
phát từ vai trò quan trọng của việc duy trì và nâng cao uy tín trong việc khuyến khích
các nhà đầu tư sử dụng các sản phẩm dịch vụ của CTCK và nguyên tắc đánh đổi giữa
việc khai thác xung đột lợi ích với uy tín của chính nó, trong dài hạn, nếu như việc khai
thác xung đột lợi ích có thể nhận diện được, CTCK sẽ khơng cịn động lực để thực hiện
các hành vi khai thác xung đột lợi ích này. Kết quả là CTCK sẽ cơ cấu lại tiền lương và
các quy định về khen thưởng, kỉ luật nhân viên để tạo ra các lợi ích khác đủ mạnh để
chống lại các hành vi khai thác xung đột lợi ích. Điều này sẽ tạo động lực để CTCK thay
đổi cơ cấu và phát triển phù hợp với thị trường31. Về mặt này, sự tồn tại của xung đột lợi
ích có tác động tích cực. Xung đột lợi ích giúp định hướng hoạt động của CTCK và kích
thích sự phát triển của thị trường. Tuy nhiên, tác động tích cực của xung đột lợi ích chỉ
có thể đạt được khi nhà đầu tư có đầy đủ thơng tin, khả năng và kinh nghiệm để kiểm
soát được hoạt động của CTCK. Xét về các mặt này, TTCK nói chung và đặc biệt là
TTCK của một số nước mới nổi trong đó có Việt Nam chưa thể đạt được.
Cụ thể, về trình độ và kinh nghiệm của nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam. Mặc dù
tính đến năm 2014 TTCK Việt Nam đã hoạt động được 14 năm. Tuy nhiên, so với các
TTCK lâu đời thì TTCK Việt Nam còn khá non trẻ. Sự mới mẻ của thị trường kéo theo
hệ quả là sự yếu kém về kiến thức và kinh nghiệm từ phía nhà đầu tư. Các nhà đầu tư
chứng khoán trên TTCK Việt Nam đa số là các nhà đầu tư không chuyên nghiệp, hầu
hết chỉ được đào tạo từ các ngành nghề, chuyên môn khác nhau và phần lớn chưa qua
khóa đào tạo kiến thức về đầu tư chứng khốn. Trong khi đó, TTCK lại là một thị
29

Đặng Tài An Trang (2011), tlđd, tr. 14.
Andrew Crockett, Trevor Harris, Frederic S. Mishkin, and Eugene N. White, tldd, pp. 6.
31
Andrew Crockett, Trevor Harris, Frederic S. Mishkin, and Eugene N. White, tldd, pp.6.
30

15



trường bậc cao, hàng hóa khơng phải là “vật” cụ thể, số lượng hàng hóa lớn, danh mục
đầu tư đa dạng, giao dịch được thực hiện theo phương thức khớp lệnh – trong đó thơng
tin về người mua bán gần như khơng thể xác định cộng với tình trạng bất cân xứng về
thơng tin (đã trình bày ở phần 1.1.3.3) và sự tác động của các yếu tố thuộc về cấu trúc
nội bộ, các khó khăn tài chính tức thời trong ngắn hạn làm cho nhà đầu tư không thể
kiểm soát được hoạt động của CTCK. Trên thực tế, rất nhiều nhà đầu tư đã không thu
được lợi nhuận thậm chí là thua lỗ do đầu tư theo sự mơi giới, tư vấn của CTCK vẫn
phải chịu nghĩa vụ trả phí mà khơng được đền bù, trong khi hoạt động tự doanh của của
CTCK vẫn tạo ra lợi nhuận cao đã chứng minh cho việc khai thác xung đột lợi ích này32.
Trong những tình huống như vậy, xung đột lợi ích trong hoạt động của CTCK thường
tồn tại dưới dạng nguy cơ và gây ra những tác động tiêu cực nhiều hơn là tạo ra tác động
tích cực, do đó cần thiết phải có các biện pháp giải quyết.
Tác động tiêu cực của xung đột lợi ích trong ngắn hạn thường phát sinh từ các
hành vi khai thác xung đột lợi ích của CTCK, đó chính là sự xâm phạm đến quyền và
lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Đối với nhà đầu tư chứng khoán, vấn đề quyền và lợi
ích hợp pháp phát sinh từ hoạt động đầu tư là rất quan trọng. Nếu quyền và lợi ích hợp
pháp khơng được bảo vệ thì động cơ đầu tư sẽ khơng cịn. Từ đó, nhà đầu tư sẽ mất
niềm tin vào thị trường và sẽ lựa chọn các kênh đầu tư khác. Giải quyết xung đột lợi ích
trên TTCK góp phần nâng cao được vị trí vốn yếu thế của nhà đầu tư trong mối quan hệ
với CTCK, bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư, qua đó làm gia tăng niềm tin của nhà
đầu tư đối với hoạt động của CTCK. Củng cố niềm tin của nhà đầu tư đối với hoạt động
của CTCK cũng là củng cố các động lực thúc đẩy nhà đầu tư sử dụng các dịch vụ do
CTCK cung cấp, thúc đẩy sự phát triển của CTCK và sự phát triển của TTCK nói
chung, bởi lẽ, TTCK chỉ có thể đứng vững khi có lịng tin nơi nhà đầu tư và thị trường
ln bị lệ thuộc vào lịng tin33.
Trong dài hạn, vấn đề xung đột lợi ích tồn tại làm cho CTCK có xu hướng che
giấu hoặc cơng bố thơng tin sai lệch để trục lợi. Hành vi này làm giảm một cách đáng kể
chất lượng thông tin trên TTCK, làm cho vấn đề bất cân xứng thông tin trở nên nghiêm

trọng hơn. Bất cân xứng thông tin giữa CTCK với khách hàng làm gia tăng sự lựa chọn
bất lợi (adverse selection)34 và sự rủi ro về đạo đức (moral hazard), làm cản trở chức
32

Theo tác giả Hồng Nam, Báo Vneconomy, Phía sau nỗi niềm oan ức của nhà đầu tư chứng khoán
http://vneconomy.vn/2012072609533533P0C7/phia-sau-noi-niem-oan-uc-cua-nha-dau-tu-chung-khoan.htm
33
Lê Vũ Nam (2012), “Các nguyên tắc cơ bản trong việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động đầu tư
chứng khốn”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (1 + 2), tr. 111.
34
Lựa chọn bất lợi là vấn đề phát sinh trước khi giao dịch được xác lập, nó được hiểu là sự lựa chọn một phương
án huy động vốn không phải là tốt nhất của thị trường khi một bên có khả năng tạo ra những kết quả bất lợi trong
các hợp đồng đầu tư tài chính lại chính là bên có đầy đủ thơng tin và do đó nỗ lực nhiều nhất để tham gia vào các
hợp đồng tài chính nên được thị trường lựa chọn.Rủi ro về đạo đức xảy ra sau khi giao dịch được giao kết. Trong
tình huống này, các cá nhân hay cơng ty cung cấp dịch vụ tài chính sử dụng các khoản đầu tư của nhà đầu tư vào
mục đích cá nhân hoặc thực hiện việc đầu tư vào các dự án không mang lại lợi nhuận nhưng làm gia tăng quyền

16


năng dẫn vốn của TTCK. Bất cân xứng thông tin cịn là cơ hội cho CTCK tạo ra các
thơng tin về cung cầu giả tạo, các thông tin sai lệch hoặc che giấu các thông tin đáng tin
cậy để tư lợi trong hoạt động kinh doanh của nó. Thơng tin đáng tin cậy là chìa khóa để
TTCK có thể thực hiện được các chức năng của nó, do đó việc làm sai lệch và che giấu
các thông tin này ngăn cản TTCK khỏi những kênh huy động vốn từ những cơ hội đầu
tư hiệu quả hoặc làm chậm lại quá trình này do việc đưa ra quyết định trở nên khó khăn
hơn, làm giảm tính hiệu quả của TTCK. Về mặt này, giải quyết xung đột lợi ích trong
hoạt động của CTCK cũng đồng nghĩa với việc làm tăng tính minh bạch và tính khách
quan của thơng tin trên TTCK, đảm bảo sự ổn định và phát triển của TTCK Việt Nam.
Như vậy, mặc dù xung đột lợi ích là một hiện tượng khách quan tồn tại trong hoạt

động của CTCK, trong nhiều trường hợp nó sẽ có tác động tích cực thúc đẩy sự phát
triển của CTCK bằng yêu cầu thay đổi cơ cấu để phát triển cho phù hợp với thị trường,
khi có tác động tiêu cực, thị trường cũng sẽ có cơ chế tự động để giải quyết các hành vi
khai thác xung đột lợi ích bằng quy luật cạnh tranh của chính nó (Sẽ phân tích cụ thể ở
phần sau). Tuy nhiên trong bối cảnh bất cân xứng về thơng tin và yếu kém về trình độ,
kinh nghiệm của nhà đầu tư chứng khoán trên TTCK thì vấn đề xung đột lợi ích khơng
được kiểm sốt đang tạo ra rất nhiều rủi ro cho nhà đầu tư, các hành vi khai thác xung
đột lợi ích khơng chỉ làm xâm phạm đến quyền và lợi ích của nhà đầu tư, làm suy giảm
niềm tin của nhà đầu tư đối với TTCK mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của
toàn bộ thị trường. Những tác động tiêu cực này trên thực tế đang diễn ra rất phổ biến và
do đó đặt ra yêu cầu cần phải có các biện pháp giải quyết.
Có nhiều cách thức và biện pháp để giải quyết xung đột lợi ích nói chung và xung
đột lợi ích trong hoạt động của CTCK nói riêng. Nếu dựa vào tính chất của các biện
pháp giải quyết có thể phân thành các biện pháp pháp lý, các biện pháp kinh tế, các biện
pháp mang tính chất xã hội (như giáo dục, vận động, tuyên truyền…); nếu dựa vào tiêu
chí thời gian và quy trình đầu tư chứng khốn có thể phân thành các biện pháp trong giai
đoạn phát hành, niêm yết chứng khoán, các biện pháp trong giai đoạn giao dịch, các
biện pháp trong quá trình giải quyết tranh chấp; dựa vào chủ thể thực hiện có các biện
pháp tự vệ, các biện pháp do cơ quan quản lý nhà nước thực hiện, các biện pháp tư
pháp35; ngồi ra cịn có các biện pháp tổ chức thực thi pháp luật hiệu quả, các biện pháp
quản trị công ty, thông qua cơ chế tự điều chỉnh, các quy tắc mềm,…36 Tuy nhiên, trong
phạm vi nghiên cứu đề tài này, tác giả chỉ tập trung phân tích các biện pháp về pháp lý.
lực và tầm vóc của cơng ty hơn là chú trọng vào lợi ích của nhà đầu tư. (Xem Andrew Crockett, Trevor Harris,
Frederic S. Mishkin, and Eugene N. White, tldd, pp. 2-3.)
35
PGS. TS. Nguyễn Văn Vân (2010), “Bàn về hiệu quả của các biện pháp pháp lý bảo vệ nhà đầu tư trên TTCK”,
Kỷ yếu hội thảo Pháp luật bảo vệ nhà đầu tư chứng khốn – thực tiễn và các giải pháp hồn thiện, tr. 34.
36
PGS. TS Bùi Xuân Hải (2011), “Bảo vệ nhà đầu tư: Những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật Doanh
nghiệp Việt Nam trong bối cảnh Hội Nhập”, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, 10/2010.


17


1.2.3 Các biện pháp pháp lý cơ bản nhằm giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động
của CTCK:
Thơng thường, các biện pháp pháp lý nhằm giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt
động của CTCK được thực hiện theo hai cơ chế: (i) Một là giải quyết xung đột lợi ích
bằng các quy định nhằm ngăn chặn các nguyên nhân làm phát sinh tình huống xung đột
lợi ích có thể tránh khỏi (avoiding conflicts) và (ii) hai là giải quyết bằng các quy định
liên quan đến việc ngăn chặn, kiểm soát và xử lý hành vi khai thác xung đột lợi ích
trong trường hợp biện pháp đầu tiên khơng thể thực hiện được – tức là trong các tình
huống xung đột lợi ích khơng thể tránh khỏi (unavoiding conflicts).
1.2.3.1 Các biện pháp pháp lý nhằm ngăn chặn các nguyên nhân làm phát sinh tình
huống xung đột lợi ích có thể tránh khỏi:
Dựa trên ba nguyên nhân chính làm phát sinh xung đột lợi ích trong hoạt động của
CTCK, các nhà kinh tế học trên thế giới đã đề xuất năm nhóm cơ chế để ngăn chặn các
nguyên nhân này, bao gồm: (i) cơ chế tự điều chỉnh của thị trường; (ii) cơ chế bảo mật,
công bố thông tin bắt buộc và (iii) “xã hội hóa” quy trình sản xuất thơng tin nhằm giải
quyết tình trạng thiếu hụt và bất cân xứng thông tin trong hoạt động của CTCK; (iv) cơ
chế giám sát của cơ quan giám sát nội bộ; (v) cơ chế tách biệt về chức năng nhằm giải
quyết các lợi ích xung đột và nguy cơ phát sinh do khả năng được phép thực hiện nhiều
nghiệp vụ khác nhau của CTCK.37 Trên cơ sở ứng dụng và phát triển một cách có chọn
lọc năm cơ chế trên sao cho phù hợp với đặc trưng của các biện pháp pháp lý, các nhà
lập pháp đã khái quát hóa tất cả các cơ chế này thành các quy phạm pháp luật, và đó
chính là các biện pháp pháp lý nhằm giải quyết xung đột lợi ích trong hoạt động của
CTCK bằng cách ngăn chặn nguyên nhân làm phát sinh các tình huống xung đột lợi ích.
a. Các quy định nhằm hỗ trợ cơ chế tự điều chỉnh của thị trường:
Dưới góc độ kinh tế học, TTCK có thể tự giải quyết các hành vi khai thác xung đột
lợi ích trong hoạt động của CTCK thông qua quy luật cạnh tranh của chính nó. Xuất

phát từ vai trị quan trọng của việc duy trì và nâng cao uy tín của CTCK trong việc
khuyến khích các nhà đầu tư sử dụng các dịch vụ của CTCK và nguyên tắc đánh đổi
giữa hành vi khai thác xung đột lợi ích với uy tín của CTCK, TTCK đưa ra hai cơ chế
làm triệt tiêu các động lực khai thác xung đột lợi ích của CTCK: (i) Một là cơ chế trừng
phạt tự động thông qua việc gia tăng chi phí và giảm nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách
hàng đối với CTCK, buộc CTCK phải minh bạch các thông tin, giảm thiểu xung đột lợi
ích để gia tăng lợi thế cạnh tranh; (ii) Hai là thúc đẩy CTCK thực hiện những phương
thức mới để có thể đạt được các lợi ích xung đột mà không gây ra những nguy cơ đối
với nhà đầu tư là khách hàng của CTCK hoặc nguy cơ đối với thị trường (Ví dụ như
37

Andrew Crockett, Trevor Harris, Frederic S. Mishkin, and Eugene N. White, tlđd, pp.6.

18


việc mua bán thông tin từ một tổ chức được UBCKNN cấu trúc để giảm xung đột lợi
ích)38. Cơ chế tự điều chỉnh của TTCK là một cơ chế mang tính chất đặc trưng kinh tế,
dựa trên quy luật cạnh tranh của thị trường, tuy nhiên, các cơ chế này chỉ có thể hoạt
động hiệu quả trong thị trường cạnh tranh hồn hảo – một điều rất khó diễn ra ngay cả
trên TTCK của các quốc gia phát triển. Do đó, để có thể vận hành được, các cơ chế này
cần có sự hỗ trợ bằng các chính sách của nhà nước. Sự can thiệp của nhà nước trên thực
tế thường được thực hiện bằng công cụ pháp luật và các quy định của pháp luật nhằm
mục đích như vậy gọi là các biện pháp pháp lý nhằm hỗ trợ cơ chế tự điều chỉnh của thị
trường.
Các biện pháp pháp lý nhằm hỗ trợ cơ chế tự điều chỉnh của thị trường thường
không được thể hiện thành các quy phạm pháp luật cụ thể mà nó tồn tại trong rất nhiều
quy định khác nhau liên quan đến nghĩa vụ công bố thông tin trên TTCK, các quy định
nhằm tạo cơ chế pháp lý thuận lợi cho các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh
chứng khoán, các quy định về đánh giá, xếp loại hoạt động của CTCK,…

Ưu điểm của biện pháp này là sử dụng cơ chế điều chỉnh tự động của thị trường và
hướng đến sự tự điều chỉnh của CTCK mà không cần phải thông qua bất kỳ một chế tài
nào khác nên thường mang lại hiệu quả cao, các biện pháp pháp lý hỗ trợ cơ chế tự điều
chỉnh của thị trường có thể thực hiện được ngay cả trong tình huống hạn chế về thông
tin đối với các hành vi khai thác xung đột lợi ích mà khơng cần sự hỗ trợ của các biện
pháp kiểm tra, giám sát thực hiện. Các biện pháp này có thể tránh được những phản ứng
thái quá của CTCK vì các chế tài hồn tồn khơng phải do cơ quan nhà nước đưa ra mà
đó là sự trừng phạt của thị trường. Trong khi các biện pháp phi thị trường thường đi kèm
với nguy cơ làm suy giảm thơng tin hữu ích trên thị trường thì các giải pháp pháp lý
hướng vào cơ chế tự điều chỉnh của thị trường lại khắc phục được hạn chế này. Tuy
nhiên, các quy định hỗ trợ cơ chế tự điều chỉnh của thị trường nhìn chung là các biện
pháp mang tính vĩ mơ, nó hướng sự điều chỉnh đến tồn bộ thị trường mà không nhằm
mục tiêu giải quyết trực diện các tình huống dẫn đến xung đột lợi ích trên thực tế nên
thường không mang lại những tác động tức thời mà hiệu quả của nó chỉ có thể được
chứng minh trong dài hạn, do đó, việc đánh giá hiệu quả của các biện pháp này rất khó
khăn. Bên cạnh đó, vì là các biện pháp vĩ mơ với cơ chế điều chỉnh tự động nên khơng
thể kiểm sốt được và phụ thuộc hoàn toàn vào nhận thức của CTCK.
b. Nhóm các quy định nhằm khắc phục tình trạng hạn chế và bất cân xứng về
thông tin trên TTCK:
Tương ứng với nguyên nhân thứ hai làm phát sinh xung đột lợi ích trong hoạt động
của CTCK là tình trạng hạn chế và bất cân xứng về thông tin, pháp luật cũng đưa ra các
38

Andrew Crockett, Trevor Harris, Frederic S. Mishkin, and Eugene N. White, tlđd, pp. 7.

19


×