Tải bản đầy đủ (.pdf) (74 trang)

Mua bán doanh nghiệp lý luận và thực tiễn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (882.35 KB, 74 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
----------

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

MUA BÁN DOANH NGHIỆP
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
SVTH

: NGUYỄN THỊ MỸ DUNG

Khoá

: 30

MSSV

: 3030041

GVHD

: TS. PHAN HUY HỒNG

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2009

1


DANH MỤC VIẾT TẮT


Công ty TNHH: Công ty trách nhiệm hữu hạn
CQQLCT: Cơ quan quản lý cạnh tranh
DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước
DNTN: Doanh nghiệp tư nhân
JSTC: Japan Fair Trade Commission - Ủy ban Thương mại công bằng Nhật
Bản – Cơ quan quản lý cạnh tranh tại Nhật Bản
UBCK: Ủy ban chứng khốn
UBCKNN: Ủy ban chứng khốn Nhà nước
USD: đồng đơ la Mỹ
WTO: Tổ chức thương mại thế giới

2


MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU ....................................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP ........ 4
1.1

Khái quát chung hoạt động mua bán doanh nghiệp ........................................................... 4

1.1.1

Nguồn gốc, cơ sở tồn tại và phát triển của hoạt động mua bán doanh nghiệp
............................................................................................................................................. 4

1.1.1.1

Nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự xuất hiện của hoạt động mua bán doanh nghiệp ........... 4


1.1.1.2

Nguyên nhân tồn tại của hoạt động mua bán doanh nghiệp .............................................. 5

1.1.2

Khái niệm và hình thức thể hiện của hoạt động mua bán doanh nghiệp ........................... 7

1.1.2.1

Mua bán doanh nghiệp theo cách hiểu của thông lệ quốc tế ............................................. 7

1.1.2.2

Mua bán doanh nghiệp nhìn dưới lăng kính của pháp luật Việt Nam ................................ 9

1.2

Các mối quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện mua bán doanh nghiệp và quy định
pháp luật điều chỉnh .......................................................................................................... 13

1.2.1

Giai đoạn tìm hiểu và các quy định pháp luật điều chỉnh ................................................. 13

1.2.1.1

Các quy định điều chỉnh quyền thực hiện hoạt động hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp 13


1.2.1.2

Quyền mua lại doanh nghiệp thông qua các quy định của pháp luật hiện hành .............. 14

1.2.1.3

Quyền quản lý, kiểm soát doanh nghiệp sau khi thực hiện hoạt động mua bán doanh
nghiệp ................................................................................................................................ 18

1.2.1.4

Quyền được sử dụng ngoại hối để thực hiện các hoạt động liên quan đến mua bán doanh
nghiệp ................................................................................................................................ 20

1.2.1.5

Những quy định riêng biệt trong từng lĩnh vực cụ thể...................................................... 20

1.2.1.6

Những quy định liên quan đến kiểm soát tập trung kinh tế khi thực hiện hoạt động mua
bán doanh nghiệp .............................................................................................................. 21

1.2.2

Giai đoạn các bên thỏa thuận, ký với nhau những cam kết sơ bộ - giai đoạn tiền hợp đồng
........................................................................................................................................... 23

1.2.3


Những quy định điều chỉnh giai đoạn điều tra chi tiết doanh nghiệp mục tiêu ............... 24

1.2.4

Những quan hệ phát sinh trong giai đoạn ký kết hợp đồng mua bán và các quy định pháp
luật liên quan ..................................................................................................................... 25

1.2.5

Các mối quan hệ phát sinh trong giai đoạn thực hiện hợp đồng ...................................... 26

3


1.2.5.1

Các quy định điều chỉnh hoạt động chuyển giao tài sản, chuyển nhượng vốn................. 26

1.2.5.2

Các quy định liên quan đến hoạt động kế tốn doanh nghiệp trong q trình thực hiện
mua bán doanh nghiệp ...................................................................................................... 27

1.2.5.3

Vấn đề liên quan đến quyền sử dụng đất ......................................................................... 27

1.2.5.4

Giải quyết quyền lợi của người lao động........................................................................... 29


1.2.6

Giai đoạn kết thúc quá trình mua bán doanh nghiệp ....................................................... 31

1.2.6.1

Vấn đề liên quan đến việc điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đăng ký kinh
doanh cho doanh nghiệp mới sau khi thực hiện mua bán doanh nghiệp......................... 31

1.2.6.2

Những quy định liên quan đến vấn đề chuyển đổi loại hình doanh nghiệp ..................... 32

1.2.6.3

Vấn đề kế thừa quyền và nghĩa vụ để đảm bảo quyền lợi của các bên thứ ba ................ 33

1.2.6.4

Trách nhiệm liên quan đến nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước ............................................ 34
Tiểu kết chương 1 ............................................................................................................. 35

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP CÁC VẤN ĐỀ TỒN TẠI VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT ................................................................ 37
2.1

Thực tiễn hoạt động mua bán doanh nghiệp trong thời gian vừa qua và dự báo trong
những năm tới ................................................................................................................... 37

2.2


Những tồn tại trong các quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán doanh
nghiệp ................................................................................................................................ 39

2.2.1

Những quy định liên quan đến hình thức thực hiện mua bán doanh nghiệp................... 39

2.2.2

Bất cập trong các quy định điều chỉnh giai đoạn đầu của quá trình thực hiện mua bán
doanh nghiệp ..................................................................................................................... 41

2.2.2.1

Những tồn tại trong các quy định liên quan đến hoạt động mua lại doanh nghiệp ......... 42

2.2.2.2

Những bất cập trong các quy định kiểm soát tập trung kinh tế........................................ 43

2.2.3

Một vài tồn tại của pháp luật cản trở hoạt động điều tra chi tiết doanh nghiệp mục tiêu
........................................................................................................................................... 46

2.2.4

Những thiếu vắng trong các quy định điều chỉnh giai đoạn tìm hiểu nhau giữa các đối tác
trong hoạt động mua bán doanh nghiệp .......................................................................... 46


2.2.5

Bất cập của các quy định liên quan đến quá trình thực hiện hợp đồng mua bán doanh
nghiệp ................................................................................................................................ 47

2.2.4.1

Liên quan đến hoạt động chuyển giao tài sản................................................................... 47

2.2.4.2

Liên quan đến quyền sử dụng đất ..................................................................................... 48

4


2.2.6

Giai đoạn kết thúc quá trình mua bán doanh nghiệp ....................................................... 49

2.2.5.1

Điều chỉnh những thay đổi liên quan đến tư cách pháp nhân của doanh nghiệp ............ 49

2.2.5.2

Quyền được chuyển đổi loại hình doanh nghiệp .............................................................. 50

2.3


Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán
doanh nghiệp ..................................................................................................................... 51

2.3.1

Thống nhất lại các khái niệm liên quan đến mua bán và sáp nhập doanh nghiệp trong các
văn bản quy phạm pháp luật ............................................................................................. 52

2.3.2

Khắc phục một số tồn tại liên quan đến những quy định điều chỉnh quyền thực hiện hoạt
động mua bán doanh nghiệp............................................................................................. 52

2.3.2.1

Liên quan đến hoạt động mua lại doanh nghiệp ............................................................... 52

2.3.2.2

Liên quan đến quy định điều chỉnh hoạt động tập trung kinh tế...................................... 53

2.3.3

Bổ sung những thiếu vắng trong các quy định điều chỉnh giai đoạn tìm hiểu giữa các bên
........................................................................................................................................... 54

2.3.4

Điều chỉnh những quy định liên quan đến giai đoạn thực hiện hợp đồng ....................... 54


2.3.3.1

Quy định cụ thể hơn đối với tài sản của doanh nghiệp..................................................... 54

2.3.3.2

Vấn đề liên quan đến quyền sử dụng đất của nhà đầu tư nước ngoài ............................. 54

2.3.5

Vấn đề liên quan đến việc thực hiện thủ tục đầu tư và thủ tục đăng ký kinh doanh của
nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện hoạt động mua bán doanh nghiệp ........................ 55

2.3.6

Những đề xuất tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp....... 55

2.3.7

Những kiến nghị liên quan đến việc hồn thiện mơi trường kinh doanh và đào tạo nguồn
nhân lực ............................................................................................................................. 55

2.3.6.1

Cần hồn thiện hơn mơi trường kinh doanh để đảm bảo đủ điều kiện thuận lợi cho hoạt
động mua bán doanh nghiệp............................................................................................. 55

2.3.6.2


Đào tạo nguồn nhân lực có đủ kiến thức để thực hiện, tư vấn thực hiện hoạt động mua
bán doanh nghiệp .............................................................................................................. 56
Tiểu kết chương 2 ............................................................................................................. 57

KẾT LUẬN .......................................................................................................................................... 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

5


LỜI MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, việc hội nhập kinh tế thế giới đang được thực hiện và ngày càng trở nên
nhanh chóng. Theo những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, các hàng rào
nhằm bảo vệ các doanh nghiệp trong nước đang dần được tháo bỏ, tạo ra một mơi
trường kinh doanh bình đẳng cho các thành phần kinh tế, trong đó có thành phần kinh
tế có yếu tố nước ngồi. Hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng
nhiều tại thị trường Việt Nam do môi trường đầu tư đã dần trở nên thơng thống. Đồng
nghĩa với việc sẽ xuất hiện rất nhiều những cơ hội cũng như thách thức đối với các
thành phần kinh tế, các thành viên tham gia hoạt động trong nền kinh tế. Việc mở cửa
thị trường là điều hiển nhiên phải thực hiện, và khi đó các doanh nghiệp trong nước
phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt với các doanh nghiệp nước ngoài. Sức ép từ cạnh
tranh, các yêu cầu về nguồn vốn, công nghệ, sản phẩm… có thể là động lực thúc đẩy
cho các doanh nghiệp phát triển, nâng cao quy mô hoạt động của mình lên, gia tăng
tính cạnh tranh cho bản thân. Tuy nhiên, đây cũng có thể là những rào cản khiến cho
một số doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn: có thể là khơng đủ sức để tồn tại
trên thị trường, đứng trước những nguy cơ giải thể hay đi đến phá sản.

Chính thực trạng trên đã tạo điều kiện tiền đề cho hoạt động mua bán doanh
nghiệp xuất hiện, phát triển trên thị trường và đã thực sự thu hút khá nhiều thành phần
kinh tế tham gia, trong đó có cả những doanh nghiệp trong nước lẫn các nhà đầu tư
nước ngồi. Có thể nhận định rằng hoạt động mua bán doanh nghiệp xuất phát điểm từ
sự cạnh tranh mãnh liệt của nền kinh tế, hơn nữa, cũng chính hoạt động mua bán doanh
nghiệp lại là một phương tiện để tạo ra sự năng động và gia tăng tính cạnh tranh trở lại
cho nền kinh tế: hoạt động này đã thúc đẩy việc sản xuất kinh doanh trở nên sơi động
hơn, đã góp phần khơi thơng dịng chảy của nguồn vốn, tạo ra những khoản thu nhập
đáng kể cho nền kinh tế; từ đó thị trường ngày càng đòi hỏi nhiều hơn sự phát triển của
các thành phần tham gia kinh tế. Mua bán doanh nghiệp có thể được xem là một
phương thức cứu cánh cho các doanh nghiệp: một mặt nó làm gia tăng tính cạnh tranh
trên thị trường cho doanh nghiệp bằng cách tận dụng những nguồn lực có sẵn từ các
doanh nghiệp khác để mở rộng thị trường sản phẩm, thị trường tiêu thụ, cắt giảm được
những khoản chi phí liên quan đến quá trình quản lý, sản xuất, phân phối sản phẩm…
Mặt khác, nó giúp cho các doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường liên quan một cách khá
nhanh chóng và giảm thiểu tối đa các thiệt hại có thể, tránh được các thủ tục giải thể
hoặc phá sản phức tạp.
6


Từ sự phát triển của các yếu tố được xem là tiền đề thúc đẩy hoạt động mua bán
doanh nghiệp, có thể nhận thấy rằng, hoạt động này hiện tại trên thị trường Việt Nam
đã thu hút khá nhiều sự quan tâm của các thành phần kinh tế, và hơn thế, trong tương
lai, hoạt động này cũng có thể trở nên sôi nổi hơn. Tuy nhiên, cho đến nay, tỉ lệ thành
công trong từng giai đoạn cụ thể của những giao dịch mua bán này còn khá hạn chế.
Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan: các bên tham gia
giao dịch (đặc biệt là các doanh nghiệp Việt Nam) chưa thực sự nắm rõ các quy trình
thực hiện giao dịch cũng như chưa quan tâm đến những yếu tố tác động đến kết quả
của giao dịch; mặt khác, hành lang pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến việc
điều chỉnh hoạt động này tuy được nhận xét là khá đầy đủ nhưng vẫn còn tồn tại khá

nhiều vướng mắc khi thực hiện hoạt động này trên thực tế. Để một giao dịch mua bán
doanh nghiệp thành công, các bên cần phải quan tâm đến rất nhiều các yếu tố khác
nhau, trong đó khơng thể không quan tâm đến các quy định của pháp luật liên quan
điều chỉnh các vấn đề của hoạt động mua bán doanh nghiệp.
Những nhận định trên cho thấy việc nghiên cứu một cách tổng quan những quy
định của pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán doanh nghiệp, nhận diện những bất
cập đang còn tồn tại trong quy định hiện hành là cần thiết. Điều này góp phần tạo sự
thuận lợi cho sự phát triển của hoạt động mua bán doanh nghiệp. Và vì thế, tác giả cảm
thấy rất tâm đắc với đề tài: “Mua bán doanh nghiệp – Lý luận và thực tiễn” và đã lựa
chọn đề tài này cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2.

Tình hình nghiên cứu đề tài

Hoạt động mua bán doanh nghiệp là một đề tài khá hấp dẫn và cũng đã được
nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, cụ thể: “Pháp luật kiểm sốt hoạt động mua
lại cơng ty theo pháp luật hiện hành” của tác giả Trần Anh Khoa – khóa luận tốt
nghiệp cử nhân luật niên khóa 2001 – 2006; “Mua bán doanh nghiệp theo pháp luật
hiện hành” của tác giả Trần Thanh Tùng – luận văn thạc sĩ luật học năm 2007 và một
số luận văn khác liên quan đến vấn đề tổ chức lại doanh nghiệp. Tuy nhiên, những
cơng trình nói trên chủ yếu tập trung vào một vài hình thức cụ thể của hoạt động mua
bán doanh nghiệp, từ đó nghiên cứu những vấn đề pháp lý liên quan đến hình thức đó.
Thơng qua những cơng trình nghiên cứu trên, người đọc chưa thể hình dung ra được
một cách tổng quát mua bán doanh nghiệp là gì, quá trình thực hiện ra sao, cũng như
chưa nhận diện được các quy định liên quan điều chỉnh từng mối quan hệ phát sinh
trong quá trình thực hiện mua bán doanh nghiệp.

7



3.

Mục đích nghiên cứu

Xuất phát từ vai trị quan trọng của hoạt động mua bán doanh nghiệp hiện nay
trên thị trường trong nước, tác giả nghiên cứu đề tài này với mong muốn giúp người
đọc có một cái nhìn tổng quát về quá trình thực hiện mua bán doanh nghiệp thông qua
việc phát họa lên các giai đoạn, thủ tục thực hiện hoạt động này. Bên cạnh đó, tác giả
sẽ đưa ra các quy định hiện hành điều chỉnh những quan hệ phát sinh xuyên suốt trong
quá trình thực hiện hoạt động mua bán doanh nghiệp từ giai đoạn các bên tìm hiểu
nhau cho đến khi kết thúc giao dịch. Việc nghiên cứu hành lang pháp lý liên quan đến
hoạt động mua bán doanh nghiệp, trước hết nhằm nâng cao những hiểu biết của bản
thân, bên cạnh đó tác giả mong muốn nhận diện những điểm bất cập trong hệ thống
pháp luật hiện hành đã gây ra những ảnh hưởng nhất định đến việc thực hiện hoạt động
mua bán doanh nghiệp. Từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện phần nào
những bất cập đã nhận diện được. Tác giả mong muốn thơng qua cơng trình nghiên cứu
của mình, phần nào, có ý nghĩa hồn thiện khung hành lang pháp lý hiện tại, tạo điều
kiện thuận lợi hơn cho hoạt động mua bán doanh nghiệp phát triển.
4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung vào việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành
điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong suốt quá trình thực hiện hoạt động mua bán
doanh nghiệp để đưa ra một cái nhìn chung nhất về hành lang pháp lý liên quan đến
hoạt động mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam. Khái niệm mua bán doanh nghiệp được
đề cập đến trong luận văn được hiểu như một khái niệm tượng trưng cho các hình thức
của hoạt động này đang diễn ra trên thị trường mà không nhằm giới hạn vào một hình
thức nào cụ thể.
5.


Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử. Tác giả đi từ việc nghiên cứu, phân tích các cơ sở lý luận, các quy định
của pháp luật hiện hành; sau đó kết hợp với việc so sánh, đối chiếu với tình hình thực
tế về hoạt động mua bán doanh nghiệp ở nước ta. Từ kết quả đó, bằng phương pháp
tổng hợp, tác giả sẽ lần lượt làm sáng tỏ các vấn đề được đề cập trong luận văn.
6.

Kết cấu luận văn

Ngoài phụ lục, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu than khảo, lời mở đầu, kết
luận, mục lục luận văn có kết cấu chính bao gồm hai chương:

8


Chương I: Các vấn đề lý luận chung về mua bán doanh nghiệp
Chương II: Thực tiễn và pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán doanh nghiệp các vấn đề tồn tại và hướng giải quyết.

9


CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG
MUA BÁN DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát chung hoạt động mua bán doanh nghiệp
1.1.1 Nguồn gốc, cơ sở tồn tại và phát triển của hoạt động mua bán doanh
nghiệp
1.1.1.1 Nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự xuất hiện của hoạt động mua bán doanh

nghiệp
Hoạt động mua bán doanh nghiệp được hình thành từ rất sớm và phát triển cùng
với sự phát triển của nền kinh tế thị trường – Một nền kinh tế mang tính cạnh tranh rất
cao và được vận hành theo những quy luật riêng của nó. Chính sự cạnh tranh gay gắt
và quyết liệt giữa các thành viên tham gia trên thị trường đã làm xuất hiện những nhu
cầu mua bán doanh nghiệp.
Theo quy luật phát triển của thị trường, một khi sản xuất hàng hóa phát triển
mạnh thì sự cạnh tranh trên thị trường sẽ ngày càng gay gắt. Trong khi đó, các thành
phần tham gia trên thị trường có sự phân hóa nhất định: sẽ có những thành viên với quy
mô vốn rất lớn mạnh, đủ khả năng đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắc khe của thị
trường; và cũng sẽ có những thành viên cịn nhỏ lẻ, quy mơ và tiềm lực vốn là không
lớn. Đối với mỗi loại thành viên khác nhau, sự cạnh tranh khắc nghiệt của thị trường sẽ
có những tác động khác nhau.
Một doanh nghiệp với quy mô sản xuất nhỏ, khơng đủ tiềm lực về nguồn vốn,
khơng có lợi thế kinh doanh, khơng có khả năng tiếp tục duy trì hoạt động trước những
địi hỏi khắc khe của thị trường… sẽ có khuynh hướng mở rộng nguồn vốn, nâng cao
khả năng cạnh tranh để có thể tiếp tục tồn tại trên thị trường. Bên cạnh đó, nếu các
doanh nghiệp khơng cịn muốn tham gia trên thị trường, nhu cầu chuyển giao doanh
nghiệp cho người khác, rút lui khỏi thị trường cũng là tất yếu. Việc huy động thêm
nguồn vốn hay chuyển giao quyền sở hữu doanh nghiệp của mình nhằm tránh khỏi
nguy cơ giải thể hoặc phá sản doanh nghiệp. Ngược lại, đối với những doanh nghiệp
lớn mạnh, nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ cũng như thị
trường sản phẩm… cũng xuất hiện nhằm gia tăng tính cạnh tranh của mình. Việc liên
kết lại với nhau để tạo ra những tập đoàn kinh tế lớn mạnh cũng được các doanh
nghiệp quan tâm đến. Những nhu cầu trên được xem là điểm xuất phát của hoạt động
mua bán doanh nghiệp.

10



Từ những nhận định trên, có thể thấy rằng, nguyên nhân sâu xa của hoạt động
mua bán doanh nghiệp là sự cạnh tranh gay gắt, khắc nghiệt trên nền kinh tế thị trường.
Hoạt động này xuất hiện nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của các doanh
nghiệp trước những đòi hỏi khách quan của thị trường.
Tại Việt Nam, mặc dù hoạt động mua bán doanh nghiệp cũng đã manh nha xuất
hiện từ những năm 1998, tuy nhiên, do tư duy ăn chắc mặc bền của các doanh nghiệp
trong nước nên các doanh nghiệp thường tự tổ chức triển khai các hoạt động đầu tư,
kinh doanh từ nhỏ đến vừa rồi lớn mạnh. Điều này là một trong những nguyên nhân
dẫn đến hạn chế nguồn cung hàng hóa cho thị trường mua bán doanh nghiệp. Cho đến
khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật đầu tư năm 2005 có hiệu lực, hoạt động này
bắt đầu có tiến triển. Thêm vào đó, những chính sách mở cửa thị trường của Việt Nam
khi gia nhập WTO theo lộ trình ngày càng thu hút sự vốn đầu tư nước ngoài. Lúc này
mua bán doanh nghiệp trở thành bước đầu tiên để tiếp cận thị trường Việt Nam. Nghĩa
là, tại Việt Nam, nguyên nhân hình thành hoạt động mua bán doanh nghiệp không chỉ
là sự cạnh tranh gay gắt của thị trường mà cịn bắt nguồn từ những chính sách mở cửa
của Nhà nước.
1.1.1.2 Nguyên nhân tồn tại của hoạt động mua bán doanh nghiệp
Nói một cách chung nhất, mua bán doanh nghiệp được xem là một biện pháp cứu
cánh cho các doanh nghiệp trong thời điểm môi trường cạnh tranh đang khốc liệt và
cũng là một trong những biện pháp để tái cấu trúc doanh nghiệp và tài chính doanh
nghiệp. Hoạt động này tồn tại nhằm đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của các thành
phần kinh tế. Đa phần các doanh nghiệp đều mong muốn nâng cao quy mô vốn, mở
rộng phạm vi hoạt động của mình, tận dụng các nguồn lực tương hỗ của các doanh
nghiệp khác, tận dụng những kinh nghiệm trong công tác quản lý của nhau, gia tăng
tính cạnh tranh, và thậm chí nhiều doanh nghiệp cịn mong muốn thơn tính thị trường.
Và hoạt động mua bán doanh nghiệp với bản chất là hoạt động nhằm giành quyền kiểm
soát lẫn nhau ở một mức độ nhất định đã xuất hiện và tồn tại để tạo ra các giá trị “cộng
hưởng” cho các chủ thể tham gia. Điển hình cho những giá trị đó là việc các doanh
nghiệp có thể cắt giảm một số lượng nhân viên; huy động thêm nguồn vốn hoạt động,
gia tăng nguồn vốn lưu động để đẩy mạnh khả năng quay vòng vốn trong hoạt động

kinh doanh; tận dụng được những trang thiết bị hiện đại, công nghệ mới từ đối tác; sự
kết hợp của các chủ thể trong hoạt động mua bán doanh nghiệp sẽ làm gia tăng thị phần
trên thị trường liên quan và danh tiếng trong ngành một cách đáng kể.

11


Có thể nói rằng, thơng qua mua bán doanh nghiệp, các doanh nghiệp có thể tham
gia vào thị trường một cách nhanh chóng vì có thể tận dụng những giá trị cộng hưởng
nói trên thay vì phải trải qua một khoảng thời gian dài nhằm thiết lập cơ cấu tổ chức,
nhân sự, mạng lưới phân phối, … Bên cạnh đó, đây cũng là một biện pháp rút lui khỏi
thị trường một cách thuận lợi. Chỉ cần chuyển giao doanh nghiệp lại cho nhà đầu tư
khác mà không cần phải mất một khoảng thời gian cho việc thực hiện các thủ tục tuyên
bố giải thể hoặc phá sản. Đây là một giải pháp dễ dàng thực hiện đối với các doanh
nghiệp có quy mơ sản xuất nhỏ lẻ.
Với tác dụng hỗ trợ, cứu cánh cho các doanh nghiệp, hoạt động này được xem là
một kênh chu chuyển và lưu thông nguồn vốn trong nền kinh tế. Nó giúp giải phóng
những nguồn vốn đang bị chôn trong các doanh nghiệp thua lỗ; chuyển chúng sang
những nơi có khả năng sinh lợi cao hơn. Lúc này, hoạt động mua bán doanh nghiệp
cũng đã đóng một vai trị nhất định trong việc đẩy mạnh sự phát triển, sự năng động
của nền kinh tế.
Theo nguyên lý hoạt động và kết quả tạo ra của hoạt động mua bán doanh
nghiệp1, các chủ thể tham gia sẽ tạo ra được một phương trình cộng hưởng: 1+1=3.
Điều này cho thấy giá trị của hoạt động mua bán doanh nghiệp là rất lớn. Mua bán
doanh nghiệp không đơn thuần là cộng các giá trị của những doanh nghiệp tham gia mà
còn tạo ra cho các bên gấp nhiều lần giá trị đó – Đây là nguyên tắc then chốt phía sau
mỗi thượng vụ mua bán doanh nghiệp. Phương trình này cho thấy lý do của mỗi
thương vụ mua bán doanh nghiệp: địa vị, vị thế, năng lực tổ chức, mở rộng thị trường,
hiệu quả chi phí…. Chính vì thế, hoạt động này đã và đang được sự quan tâm của các
doanh nghiệp tham gia hoạt động trên thị trường.

Đánh giá của ông Tom Herron – Giám đốc dịch vụ tư vấn giao dịch tài chính
Cơng ty Ernst & Young (E&Y) Việt Nam: tiềm năng cho hoạt động mua bán doanh
nghiệp là rất lớn, khơng những đem lại lợi ích cho ban quản trị, nhân viên, khách hàng,
nhà đầu tư của doanh nghiệp, mà rộng hơn nó cịn đem lại lợi ích cho tồn xã hội2.
Bên cạnh những mặt tích cực mà hoạt động này mang lại cho nền kinh tế, cho các
doanh nghiệp tham gia, nó cũng cịn bộc lộ một vài tác động mang tính tiêu cực. Trong
một thương vụ mua bán giữa các doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài,
những nhà đầu tư nước ngoài thường là những người nắm quyền chi phối hoạt động

1

Nguyên lý của M&A – Bài viết được đăng trên website http://www.sanduan.vn/

2

Đông Hải, “Định giá doanh nghiệp trong thời kỳ biến động”, Báo Đầu tư chứng khoán.

12


của doanh nghiệp. Nhìn về mặt tổng thể, chỉ số tài chính của doanh nghiệp có phần tiến
triển tốt, quy mô hoạt động của doanh nghiệp trở nên lớn mạnh. Thế nhưng, đứng trên
góc độ quản lý, tiếng nói của doanh nghiệp trong nước sẽ mất dần trọng lượng.
Mua bán doanh nghiệp cũng sẽ là một trong những yếu tố gây tác động đến thị
trường lao động của một quốc gia. Hoạt động này, trong một số trường hợp sẽ làm dôi
dư một lượng lao động đáng kể (do quá trình sắp xếp, tổ chức lại các quy trình sản
xuất, bộ máy vận hành của doanh nghiệp mới). Kèm theo đó là nguy cơ gây ra hạn chế
cạnh tranh hoặc cạnh tranh khơng lành mạnh một khi những tập đồn kinh tế lớn mạnh,
hoặc các doanh nghiệp có quy mơ vốn lớn mạnh cố tìm cách mở rộng thị phần, thơn
tính thị trường và hình thành nên sự độc quyền nhất định trên thị trường. Tuy nhiên,

vấn đề này phần nào đã được pháp luật các nước kiểm soát ở những mức độ nhất định
nhằm tạo điều kiện cho hoạt động này được vận hành một cách thuận lợi, mang đến lợi
ích một cách bình đẳng cho các thành phần kinh tế.
Theo những quy luật tự nhiên, một vấn đề tồn tại ln có hai mặt của nó. Mặc dù
cịn tồn tại một vài vấn đề tiêu cực, thế nhưng, các doanh nghiệp khơng thể phủ nhận
những lợi ích mà mua bán doanh nghiệp mang lại cho chính họ và cho nền kinh tế - xã
hội nói chung. Chính vì thế, hoạt động mua bán doanh nghiệp đã và đang tồn tại trên
thị trường, và ngày càng phát huy vai trị của nó. Mua bán doanh nghiệp là một hoạt
động cần thiết đáp ứng các nhu cầu tất yếu của các doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, vấn đề mua bán doanh nghiệp đang diễn ra sôi nổi trên thị trường.
Các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện hoạt động này như một chiến lược phát triển
hoạt động kinh doanh. Nó giúp doanh nghiệp gia tăng sức mạnh, từ bỏ các hoạt động
kém hiệu quả để tập trung vào hoạt động kinh doanh chính, gia tăng lượng khách hàng,
mở rộng mặt hàng, dịch vụ,…Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, hoạt động mua bán
doanh nghiệp được xem như là hoạt động gia nhập thị trường Việt Nam một cách
nhanh chóng. Và như thế, hoạt động này đang được sự quan tâm của khá nhiều thành
phần kinh tế tại thị trường Việt Nam.
1.1.2 Khái niệm và hình thức thể hiện của hoạt động mua bán doanh nghiệp
1.1.2.1 Mua bán doanh nghiệp theo cách hiểu của thông lệ quốc tế
Khái niệm mua bán doanh nghiệp được xuất phát từ thuật ngữ: “Mergers and
Acquisitions” hay còn được gọi tắt là “M&A”. Thuật ngữ này thường được hiểu theo
một cách thông dụng là hoạt động giành quyền kiểm sốt doanh nghiệp, bộ phận doanh
nghiệp thơng qua việc sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đó. Hoạt động này
bao gồm cả mua bán tài sản, mua bán phần vốn góp và ngay cả mua tồn bộ doanh
nghiệp.
13


Theo giải thích của từ điển Kinh tế Kinh doanh Anh – Việt3 thì:
“Merger” được dịch là sáp nhập hay hịa nhập - có nghĩa là sự kết hợp giữa hai

hay nhiều cơng ty bằng cách cộng đồng lợi ích hoặc bằng cách tiếp quản khiến cho chỉ
một trong các cơng ty đó cịn tồn tại như một thực thể pháp lý; cách tiếp quản trong
trường hợp này được hiểu là một cơng ty sẽ mua lại hoặc thơn tính một công ty khác
(Takeover).
“Acquisition” là việc mua lại, nắm quyền kiểm sốt hoặc thơn tính – đây là việc
mà một cơng ty hoặc một nhóm nhà đầu tư mua một công ty khác hay mua đa số cổ
phiếu của công ty đó.
Có thể nhận thấy rằng, từ góc độ kinh tế, hoạt động mua lại hay còn gọi là mua
bán (Acquisition) và hoạt động sáp nhập (Merger) cũng có những điểm tương đồng
nhất định (sáp nhập cũng có thể được thực hiện qua việc mua lại hoặc thơn tính). Chính
vì thế, cụm từ M&A luôn được đi chung với nhau, và thường được hiểu một cách
chung nhất như là một thuật ngữ dùng để chỉ một cơng ty tìm cách nắm quyền kiểm
sốt một cơng ty khác thơng qua thâu tóm tồn bộ hoặc một phần tài sản hay một tỉ lệ
cổ phần của cơng ty đó, và việc thâu tóm đó phải đủ để khống chế tồn bộ quyết định
của cơng ty đó. Và những quy định về tỉ lệ đủ để thực hiện quyền kiểm sốt một cơng
ty sẽ phụ thuộc vào pháp luật của các quốc gia khác nhau.
Hoạt động mua bán doanh nghiệp hiện nay đang diễn ra khá sôi nổi trên thực tế
và thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Mỗi hình thức thể hiện của hoạt động này
đều đi kèm với những mục tiêu đầu tư nhất định. Để dễ dàng gọi tên trong việc phân
loại, hoạt động mua bán doanh nghiệp trong mục này sẽ được gọi chung là sáp nhập
doanh nghiệp. Theo đó hoạt động này bao gồm: sáp nhập ngang, sáp nhập dọc, sáp
nhập để mở rộng thị trường, sáp nhập để mở rộng sản phẩm, và sáp nhập thành tập
đoàn đa ngành nghề (Conglomerate)4.
Sáp nhập ngang (Horizontal Merger): là sự kết hợp giữa các công ty đang trực
tiếp cạnh tranh với nhau trong cùng một sản phẩm và trên cùng một thị trường;
Sáp nhập dọc (Vertical Merger): là sự kết hợp giữa những công ty thuộc những
công đoạn nối tiếp nhau của quá trình sản xuất, tiêu dùng – nghĩa là các công ty này
không cạnh tranh với nhau mà ngược lại, chúng bổ trợ cho nhau;
3


TS Nguyễn Đức Dy, TS Nguyễn Khắc Minh, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Mạnh Tuấn (2000), “Từ điển
Kinh tế Kinh doanh Anh – Việt (có giải thích)”, NXB Khoa Học và Kỹ Thuật.
4

TS Nguyễn Đức Dy, TS Nguyễn Khắc Minh, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Mạnh Tuấn, Tlđd

14


Sáp nhập để mở rộng thị trường (Market Extension Merger): là sự kết hợp giữa
những công ty kinh doanh những sản phẩm cùng loại trên những thị trường khác nhau;
Sáp nhập để mở rộng sản phẩm (Product Extension Merger): là sự kết hợp giữa
những công ty bán những sản phẩm khác loại nhau trên cùng một thị trường;
Sáp nhập thành tập đoàn đa ngành nghề (Conglomerate Merger): là sự kết hợp
giữa những cơng ty hồn tồn khác nhau về ngành nghề và công đoạn kinh doanh.
 Hoạt động sáp nhập để mở rộng thị trường, mở rộng sản phẩm hoặc sáp nhập
thành tập đồn đa ngành nghề cịn được gọi chung là sáp nhập kết khối5.
1.1.2.2 Mua bán doanh nghiệp nhìn dưới lăng kính của pháp luật Việt Nam
Cho đến nay, pháp luật Việt Nam chưa đưa ra một khái niệm pháp lý nào về hoạt
động mua bán doanh nghiệp. Các nhà làm luật chỉ ghi nhận lại một vài hình thức thể
hiện của hoạt động mua này trên thị trường Việt Nam trong nhiều văn bản khác nhau,
bao gồm: hoạt động góp vốn trực tiếp vào doanh nghiệp; mua lại phần vốn góp hoặc cổ
phần; sáp nhập doanh nghiệp và hợp nhất doanh nghiệp. Trong đó, hình thức góp vốn
vào doanh nghiệp hoặc mua lại phần vốn góp hoặc cổ phần trong doanh nghiệp là hình
thức phổ biến nhất.
Hoạt động góp vốn trực tiếp vào doanh nghiệp là hoạt động góp vào vốn điều lệ
của cơng ty TNHH hoặc mua cổ phần phát hành để tăng vốn điều lệ của công ty cổ
phần. Khoản 4, Điều 4 Luật Doanh nghiệp định nghĩa hoạt động góp vốn là hoạt động
đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công
ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị

quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, cơng nghệ, bí quyết, kỹ thuật, các tài
sản khác ghi trong Điều lệ của cơng ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty.
Theo quy định tại Điều 60 Luật Doanh Nghiệp: cơng ty TNHH có quyền tăng vốn điều
lệ thơng qua việc tiếp nhận vốn góp của thành viên mới – trong trường hợp này phải
được sự nhất trí của các thành viên trong cơng ty hoặc có quy định trong điều lệ công
ty. Riêng đối với công ty TNHH một thành viên, khi thực hiện việc tăng thêm vốn điều
lệ của công ty bằng cách này sẽ phải chuyển đổi thành công ty TNHH hai thành viên
trở lên trong vòng 15 ngày kể từ ngày thành viên mới cam kết góp vốn vào cơng ty
(Điều 76 Luật Doanh Nghiệp). Đối với việc góp vốn trực tiếp vào công ty cổ phần
thông qua việc mua cổ phần phát hành của công ty, các nhà đầu tư và công ty đó phải
thực hiện theo các quy định tại khoản 2, Điều 87 Luật Doanh Nghiệp. Trường hợp này
5

http://legal-dictionary.thefreedictionary.com/mergers+and+acquisitions

15


chỉ được xem là một trong những hình thức của hoạt động mua bán doanh nghiệp nếu
như việc góp vốn nói trên nhằm mục đích nắm quyền kiểm sốt một phần hoặc tồn bộ
doanh nghiệp đó. Ngược lại, việc góp vốn khơng nhằm mục đích kiểm sốt sẽ khơng
được xem là hoạt động mua bán doanh nghiệp mà đơn giản chỉ là hoạt động đầu tư
thông thường.
Mua lại phần vốn góp hoặc cổ phần đã phát hành của thành viên hoặc cổ đông
công ty: thực chất là hoạt động đầu tư thơng qua việc nhận chuyển nhượng vốn góp
hoặc cổ phiếu của các thành viên, cổ đông trong công ty (Công ty TNHH, và Công ty
cổ phần). Việc chuyển nhượng này phải tuân theo các quy định của Luật Doanh nghiệp
(Điều 44, và Điều 87).
Hợp nhất doanh nghiệp: nghĩa là việc “Hai hoặc một số công ty cùng loại (công
ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một cơng ty mới (cơng ty hợp nhất) bằng cách

chuyển tồn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ, và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất,
đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất” – Điều 153 Luật Doanh
nghiệp
Sáp nhập doanh nghiệp: Điều 154 Luật Doanh nghiệp quy định về hoạt động này
như sau: “Một hoặc một số công ty cùng loại (công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào
một cơng ty khác (cơng ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền,
nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang cơng ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn
tại của công ty bị sáp nhập”
 Điểm giống nhau của hoạt động hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp là doanh
nghiệp bị sáp nhập và doanh nghiệp bị hợp nhất sẽ không còn tồn tại sau hoạt động hợp
nhất, sáp nhập doanh nghiệp. Mua bán doanh nghiệp được thực hiện thông qua hoạt
động hợp nhất hoặc sáp nhập doanh nghiệp thực chất là giao dịch để hai hay nhiều
doanh nghiệp tập hợp lại bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ vào một
doanh nghiệp khác.
Việc hợp nhất, sáp nhập cũng được ghi nhận tại Nghị định 180/2004/NĐ-CP ngày
28/10/2004 của Chính phủ về thành lập mới, tổ chức lại, giải thể công ty Nhà nước
(Nghị định 180). Với nghị định này, đối tượng của việc hợp nhất, sáp nhập là Công ty
Nhà nước. Đây được xem là hoạt động tổ chức lại cơng ty Nhà nước6.
Ngồi ra, mua bán doanh nghiệp cịn được thực hiện thơng qua hoạt động mua lại
doanh nghiệp – đó là việc mà một doanh nghiệp mua toàn bộ tài sản hoặc một phần tài
6

Điều 20 Nghị định 180/2004/NĐ-CP

16


sản của doanh nghiệp khác, đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của
doanh nghiệp bị mua lại – Điều 17 Luật Cạnh Tranh. Việc mua lại doanh nghiệp nói
trên khơng đơn thuần là mua lại những tài sản của doanh nghiệp mà còn được hiểu là

mua cả địa vị pháp lý của doanh nghiệp đó. Nghĩa là, khi một doanh nghiệp mua lại
một doanh nghiệp khác sẽ bao gồm việc mua lại cả vốn, tài sản, và trách nhiệm của
doanh nghiệp đó. Theo như cách hiểu trên, chúng ta cũng có thể tìm gặp các quy định
mua lại doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp thông qua các quy định về chuyển
nhượng vốn của các thành viên trong các loại hình doanh nghiệp.
Vấn đề nắm được quyền kiểm soát và chi phối doanh nghiệp trong hoạt động mua
lại doanh nghiệp như đã nêu trong định nghĩa được hiểu là doanh nghiệp kiểm soát
giành được quyền sở hữu cổ phần của doanh nghiệp bị kiểm soát đủ chiếm được trên
50% quyền bỏ phiếu tại Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, hoặc ở mức mà theo
quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp bị kiểm soát đủ để doanh nghiệp
kiểm soát, chi phối hoạt động, quyết định quan trọng của doanh nghiệp bị kiểm sốt7.
Điều này có thể giúp phân biệt hoạt động mua lại doanh nghiệp với hoạt động đầu tư
thông thường khác chỉ nhằm hưởng lợi nhuận chứ không tham gia vào quản lý doanh
nghiệp – Luật của ta vẫn gọi là hoạt động đầu tư gián tiếp. Hoạt động mua lại doanh
nghiệp như vậy sẽ không làm mất đi sự tồn tại của doanh nghiệp bị mua lại, mà thực
chất chỉ là thay đổi chủ sở hữu của doanh nghiệp đó.
Bên cạnh thuật ngữ mua lại doanh nghiệp, các nhà làm luật còn ghi nhận hoạt
động mua bán doanh nghiệp. Hoạt động này được áp dụng đối với doanh nghiệp tư
nhân và doanh nghiệp Nhà nước. Điều 145 Luật Doanh Nghiệp quy định: “Chủ doanh
nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác” trong trường
hợp này, người mua lại doanh nghiệp tư nhân đó phải đăng ký kinh doanh lại theo quy
định của Luật Doanh Nghiệp – Việc mua bán doanh nghiệp tư nhân cũng được xem là
một hình thức thực hiện mua bán doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam. Đối với
Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), tác giả tìm thấy định nghĩa về bán DNNN tại khoản
1, Điều 3 Nghị định số 109/2008/NĐ-CP ngày 10/10/2008 của Chính phủ về bán, giao
doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, theo đó việc bán DNNN được hiểu bao gồm bán
toàn bộ hoặc một bộ phận doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, cơng ty thành viên hạch
tốn độc lập8 và bán đơn vị phụ thuộc9 là việc chuyển sở hữu có thu tiền tồn bộ doanh
7


Điều 34 Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Cạnh tranh.
8

Khoản 1, Điều 2 NĐ 109/2008/NĐ-CP

9

Khoản 2, Điều 2 NĐ 109/2008/NĐ-CP

17


nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp sang sở hữu tập thể, cá nhân hoặc pháp nhân khác.
Trong trường hợp mua bán DNNN như quy định tại Nghị định 109, bản chất không
phải là hoạt động mua bán doanh nghiệp theo nghiên cứu của luận văn này – mua bán
DNNN trong trường hợp này với bản chất là hoạt động sắp xếp lại DNNN – khơng
mang tính chất giành quyền kiểm sốt doanh nghiệp giữa các bên tham gia. Nói một
cách khác, quy định về mua bán DNNN không được xem là một trong những hình thức
của hoạt động mua bán doanh nghiệp, và trong phạm vi bài luận văn hoạt động này
cũng sẽ khơng được đề cập đến.
Những hình thức thể hiện của mua bán doanh nghiệp lại một lần nữa được Luật
Đầu tư khẳng định: Nhà đầu tư có thể mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý
hoạt động đầu tư, có thể thực hiện đầu tư thông qua việc sáp nhập, mua lại doanh
nghiệp. Hoạt động chuyển nhượng dự án đầu tư cũng được xem là một biểu hiện của
hoạt động mua bán doanh nghiệp. Theo Điều 66 Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày
22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
Đầu tư (Nghị định 108), chuyển nhượng dự án có thể gây ra việc chấm dứt hoặc không
chấm dứt sự tồn tại của tổ chức kinh tế chuyển nhượng. Trong trường hợp chuyển
nhượng dự án gắn với việc chấm dứt đầu tư của tổ chức kinh doanh chuyển nhượng thì

phải tuân thủ theo các thủ tục, điều kiện và thủ tục sáp nhập, mua lại doanh nghiệp tại
Điều 56 Nghị định 108, trường hợp không làm chấm dứt hoạt động của tổ chức kinh tế
chuyển nhượng thì phải tuân theo quy định về chuyển nhượng vốn tại Điều 65 Nghị
định này.
Nhìn một cách tổng quan, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận khá đầy đủ các hình
thức thể hiện của hoạt động mua bán doanh nghiệp. Theo đó hoạt động này cũng được
hiểu là hoạt động giành quyền kiểm sốt một doanh nghiệp khác thơng qua việc nắm
giữ trong tay một phần vốn góp hoặc cổ phần đủ để chi phối các hoạt động của doanh
nghiệp đó. Hiện nay, trên thực tế tại Việt Nam, hoạt động hợp nhất doanh nghiệp là
không khả thi bởi những yêu cầu cao của bản thân hoạt động này, các doanh nghiệp
Việt Nam chưa đủ điều kiện để có thể thực hiện hoạt động này một cách tốt nhất. Hoạt
động mua bán doanh nghiệp thơng qua hình thức góp vốn vào doanh nghiệp hoặc mua
lại phần vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp khác vẫn đang là hoạt động chủ yếu trên
thị trường Việt Nam.

18


1.2 Các mối quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện mua bán doanh
nghiệp và quy định pháp luật điều chỉnh
Về phương diện pháp lý, hoạt động mua bán doanh nghiệp có thể được chia thành
nhiều giai đoạn: giai đoạn tìm hiểu nhau, giai đoạn tiền hợp đồng, đàm phán sơ bộ; giai
đoạn điều tra, thẩm định doanh nghiệp mục tiêu; giai đoạn soạn thảo, đàm phán, thỏa
thuận, ký kết hợp đồng mua bán; giai đoạn thực hiện hợp đồng mua bán; và giai đoạn
sau khi hoàn tất – hậu mua bán doanh nghiệp. Mỗi giai đoạn nói trên sẽ làm phát sinh
các quan hệ khác nhau, và hiển nhiên sẽ có những quy định pháp luật khác nhau điều
chỉnh từng mối quan hệ đó.
1.2.1 Giai đoạn tìm hiểu và các quy định pháp luật điều chỉnh
Bước đầu tiên khi tham gia vào hoạt động mua bán doanh nghiệp, các bên cần
tiếp xúc và tìm hiểu lẫn nhau. Cần xác định được hình thức thực hiện hoạt động này để

có thể áp dụng đúng khung pháp lý điều chỉnh, thực hiện đúng cơ chế, trình tự thực
hiện giao dịch. Đây cũng là một bước quan trọng giúp các bên có thể định hướng được
việc thiết lập các điều khoản trong hợp đồng mua bán, liên quan đến nghĩa vụ thông
tin, thông báo đến các cơ quan chức năng. Điều quan trọng trong giai đoạn này là các
bên phải biết được các quyền luật định dành cho mình và cho các đối tác khác: quyền
được thực hiện mua bán với hình thức nào? Trong quá trình thực hiện sẽ phải chịu sự
điều chỉnh của ngành luật nào? Giới hạn quyền này đến đâu?... Như đã nêu tại mục
1.1.2, mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam được thể hiện thông qua nhiều hình thức
khác nhau, và tương ứng với mỗi hình thức này các doanh nghiệp sẽ có những quyền
khác nhau.
1.2.1.1 Các quy định điều chỉnh quyền thực hiện hoạt động hợp nhất, sáp nhập
doanh nghiệp
Hoạt động này, được ghi nhận tại nhiều văn bản khác nhau. Tại Bộ luật Dân sự,
việc hợp nhất hay sáp nhập chỉ được thực hiện bởi các pháp nhân cùng loại10. Luật
Doanh nghiệp hiện hành lại một lần nữa khẳng định chỉ những doanh nghiệp có cùng
loại hình tổ chức mới được hợp nhất hoặc sáp nhập với nhau11. Như vậy, nghĩa là
những tổ chức kinh tế khơng có tư cách pháp nhân, và khơng cùng loại hình tổ chức
với nhau thì sẽ khơng có quyền thực hiện hoạt động này. Theo những quy định này, thì
mọi doanh nghiệp, miễn là cùng loại hình tổ chức đều được hợp nhất, sáp nhập với
10

Điều 94, Điều 95 Bộ luật Dân sự

11

Điều 152, Điều 153 Luật Doanh nghiệp

19



nhau. Chỉ riêng DNTN không được quyền thực hiện hoạt động sáp nhập hoặc hợp nhất
với DNTN khác bởi DNTN là loại hình doanh nghiệp khơng có tư cách pháp nhân. Do
đó, nếu một doanh nghiệp đang được tổ chức theo mơ hình cơng ty cổ phần thì sẽ
khơng được sáp nhập, hợp nhất với một doanh nghiệp tổ chức theo mơ hình cơng ty
trách nhiệm hữu hạn và ngược lại. Đối với công ty hợp danh, khi thực hiện việc sáp
nhập hoặc hợp nhất cũng cần phải lưu ý đến quyền chuyển phần vốn góp của các thành
viên hợp danh – bởi đây là những thành viên có chế độ trách nhiệm vô hạn. Như vậy,
khi thực hiện hoạt động này, các bên tham gia cần phải tuân thủ về loại hình doanh
nghiệp để đảm bảo rằng mình có quyền thực hiện việc hợp nhất hay sáp nhập.
1.2.1.2 Quyền mua lại doanh nghiệp thông qua các quy định của pháp luật hiện
hành
Quyền mua lại doanh nghiệp như đã đề cập tại mục 1.1.2.2 “là việc một doanh
nghiệp mua lại một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp khác, đủ để kiểm sốt,
chi phối tồn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”12. Doanh nghiệp
được quyền thực hiện hoạt động này sẽ bao gồm: tổ chức, cá nhân kinh doanh13. Việc
mua lại doanh nghiệp hiện nay có thể được thực hiện theo hai cách thức: góp vốn, nhận
chuyển nhượng vốn, mua lại phần vốn góp, mua cổ phần chỉ nhằm mục đích kiểm sốt
doanh nghiệp mà không làm thay đổi chủ sở hữu của doanh nghiệp đó; hoặc mua lại
doanh nghiệp bằng một hợp đồng mua bán với đối tượng là một doanh nghiệp với toàn
bộ tài sản, quyền cũng như nghĩa vụ của doanh nghiệp. Lúc này, sẽ có sự thay đổi về
chủ sở hữu doanh nghiệp.
Đối với cách thức thứ nhất, các doanh nghiệp có thể áp dụng các quy định liên
quan đến điều kiện, trình tự, thủ tục của hoạt động chuyển nhượng vốn, mua cổ phần
đã được quy định tại Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư và các văn bản luật chuyên ngành
khác. Bởi xét về bản chất, đây là những giao dịch chuyển nhượng vốn đã được quy
định trong Luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư. Tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể và
mức độ cần thiết của việc chi phối doanh nghiệp mà các bên có thể chuyển nhượng cho
nhau một tỷ lệ vốn góp, cổ phần nhất định.
Quyền này đã được ghi nhận tại Điều 21 Luật đầu tư và được cụ thể thông qua
Điều 10 Nghị định 108: “Nhà đầu tư có quyền góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại

doanh nghiệp để tham gia quản lý hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Doanh nghiệp
12

Khoản 3, Điều 17 Luật cạnh tranh

13

Khoản 1, Điều 2 Luật cạnh tranh

20


và pháp luật có liên quan”. Điều 44 Luật Doanh nghiệp thể hiện quyền được chuyển
nhượng của các thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên: “thành viên công ty
trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc
tồn bộ phần vốn góp của mình cho người khác” dựa vào những quy định cụ thể tại
khoản 1, khoản 2 điều này. Đối với công ty TNHH một thành viên: “Chủ sở hữu công
ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn
điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác… Trường hợp chuyển nhượng một phần vốn
điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác, công ty phải đăng ký chuyển đổi thành công ty
trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên”14. Và đối với công ty cổ phần, việc
chuyển nhượng cổ phần được thực hiện theo các quy định tại Điều 87 của Luật Doanh
nghiệp.
Quyền được góp vốn, mua cổ phần như đã nêu trên cũng được áp dụng cho các
nhà đầu tư nước ngồi. Tổ chức, cá nhân người nước ngồi có quyền góp vốn, mua cổ
phần ở các doanh nghiệp Việt Nam, về cơ bản tương tự như các tổ chức, cá nhân người
Việt Nam15 nhưng bên cạnh đó, có một vài khác biệt điển hình.
Những nhà đầu tư nước ngồi khi thực hiện quyền này “phải thực hiện các quy
định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về tỷ lệ góp vốn, hình thức đầu tư
và lộ trình mở cửa thị trường; tuân thủ các quy định về điều kiện tập trung kinh tế của

pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về doanh nghiệp; đáp ứng điều kiện đầu tư trong
trường hợp dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện”16. Khoản 1, Điều 10 Nghị
định 139 ghi nhận: “Tất cả các tổ chức là pháp nhân, gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngồi, khơng phân biệt nơi đăng ký trụ sở chính và mọi cá nhân, khơng phân
biệt quốc tịch và nơi cư trú, nếu không thuộc đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 13
của Luật Doanh nghiệp, đều có quyền góp vốn, mua cổ phần với mức không hạn chế
tại doanh nghiệp theo quy định tương ứng của Luật Doanh nghiệp”. Như vậy, nếu bên
mua đạt được thỏa thuận với từng thành viên hoặc cổ đông của doanh nghiệp mục tiêu,
và với định mức không hạn chế, bên mua sẽ nắm được quyền sở hữu doanh nghiệp
mục tiêu với tỷ lệ nắm giữ đến 100% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó (trừ trường hợp
thuộc các quy định hạn chế đối với các nhà đầu tư nước ngoài được liệt kê tại điểm a,
b, c, d khoản 1, Điều 10 Nghị định 139).

14

Điều 66 Luật Doanh nghiệp

15

Khoản 3, Điều 13 Luật Doanh nghiệp

16

Khoản 2, Điều 10 Nghị định 108

21


Đối với các công ty kinh doanh dịch vụ: tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài
được áp dụng theo Biểu cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ khi gia nhập WTO (phụ

lục Nghị định thư gia nhập WTO). Việt Nam đã cam kết không hạn chế các nhà đầu tư
nước ngoài tiếp cận thị trường trong tất cả các ngành và phân ngành trong biểu cam
kết, theo đó các nhà đầu tư được góp vốn dưới hình thức mua cổ phần tại doanh nghiệp
Việt Nam, hiện nay tỷ lệ tối đa 30% vốn đầu tư nước ngoài tại một doanh nghiệp Việt
Nam đã được tháo bỏ (sau một năm kể từ ngày Việt Nam gia nhập WTO). Tuy nhiên,
tỷ lệ này đối với việc góp vốn vào các Ngân hàng thương mại cổ phần vẫn còn được
thực hiện: “Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngồi (bao gồm cả cổ
đơng nước ngồi hiện hữu) và người có liên quan của các nhà đầu tư nước ngồi đó
khơng vượt q 30% vốn điều lệ của một Ngân hàng Việt Nam”17. Ngoài ra, khi thực
hiện hoạt động này, các nhà đầu tư cũng cần phải đáp ứng một số điều kiện nhất định
được ghi nhận trong từng lĩnh vực khác nhau. Điển hình: các tổ chức tín dụng khi thực
hiện việc mua cổ phần của Ngân hàng Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện về mức
vốn, kinh nghiệm hoạt động và các điều kiện khác được quy định tại Điều 12 Nghị
định 69.
Riêng đối với hoạt động mua bán doanh nghiệp của các công ty đã niêm yết trên
sàn giao dịch chứng khoán sẽ chịu sự điều chỉnh của các quy định chuyên ngành, giới
hạn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp niêm yết là 49% trên tổng số
cổ phiếu phát hành thêm trong từng đợt (quy định tại Công văn số 496 ngày 12/7/2007
của UBCKNN), tuy nhiên trong từng trường hợp cụ thể, các doanh nghiệp phải xin
phép của UBCKNN. Quyết định 55/2009/QĐ-TTg ngày 15/4/2009 của Thủ tướng
Chính phủ về tỷ lệ tham gia của các nhà đầu tư nước ngồi trên thị trường chứng khốn
Việt Nam đã quy định cụ thể mức tỷ lệ cổ phiếu tối đa mà nhà đầu tư nước ngoài được
sở hữu đối với công ty cổ phần đại chúng, chứng chỉ quỹ, cơng ty đầu tư chứng khốn
đại chúng. Tỷ lệ tối đa trong những trường hợp này cũng là 49%.
Tại các công ty chưa niêm yết, hiện tại vẫn áp dụng tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa
là 30% theo Quyết định 36/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 11/3/2003
(đối với trường hợp này sẽ phải loại trừ những doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ - được
điều chỉnh bởi cam kết gia nhập WTO của Việt Nam). Liên quan đến vấn đề này, một
dự thảo quy chế góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài đang được soạn thảo để điều chỉnh
tỷ lệ sở hữu vốn nước ngoài tại thị trường Việt Nam.

17

Khoản 1, Điều 4 Nghị định 69/2007/NĐ-CP ngày 20/4/2007 của Chính phủ về việc nhà đầu tư nước
ngoài mua cổ phần của Ngân hành thương mại Việt Nam (Nghị định 69)

22


Thêm vào đó, Nghị định 139/2007/NĐ-CP ngày 05/9/2007 của Chính phủ hướng
dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp (Nghị định 139) và phụ lục
Nghị định thư gia nhập WTO quy định các nhà đầu tư nước ngoài được quyền mua cổ
phần trong một lĩnh vực phân phối đến 99%. Và cho đến ngày 01/01/2009, tỷ lệ này sẽ
đạt đến mức 100%.
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, cũng cần phải chú ý đến những quy định cụ
thể của từng lĩnh vực riêng biệt liên quan đến điều kiện để thực hiện quyền chào bán cổ
phần, chuyển nhượng vốn góp, cổ phần của mình cho các nhà đầu tư khác. Ví dụ, để
được thực hiện hoạt động bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài, Ngân hàng Việt
Nam phải có vốn điều lệ tối thiểu là 1000 tỷ đồng; có tình hình tài chính lành mạnh,
đáp ứng đủ các điều kiện liên quan của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; bộ máy quản
lý, điều hành hoạt động có hiệu quả; và khơng bị các cơ quan có thẩm quyền xử phạt
do vi phạm các quy định an tồn trong hoạt động Ngân hàng trong vịng 24 tháng đến
thời điểm xem xét – quy định tại Điều 11 Nghị định 69.
Trong trường hợp các bên mong muốn thực hiện quyền góp vốn của mình thơng
qua quyền sử dụng đất, các bên cần tìm hiểu quyền được góp vốn bằng quyền sử dụng
đất đã được quy định cụ thể trong Luật Đất đai (từ Điều 109 đến Điều 121). Ví dụ: “Tổ
chức kinh tế được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để xây dựng các cơng
trình khơng bằng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước”, “Tổ chức kinh tế được Nhà nước
giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã trả có nguồn gốc từ ngân sách
nhà nước” chỉ được quyền góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với
đất18; Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng

đất đã trả khơng có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, hoặc tổ chức kinh tế được Nhà
nước cho thuê đất trước ngày 01/7/2004 mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê
hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn th đất đã được trả tiền cịn
lại ít nhất là năm năm, hay trong trường hợp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
mà tiền đã trả cho việc nhận chuyển nhượng đó khơng có nguồn gốc từ ngân sách nhà
nước được “góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền
với đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh với tổ chức, cá nhân, người Việt Nam định cư
ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài”19;…
Khi thực hiện hoạt động góp vốn vào cơng ty TNHH, cơng ty hợp danh, mua cổ
phần của công ty cổ phần, các nhà đầu tư cần lưu ý các trường hợp cấm của pháp luật
18

Khoản 3 Điều 109; khoản 3 Điều 110 Luật Đất đai

19

Khoản 2 Điều 110, điểm đ khoản 1 Điều 111, khoản 2 Điều 112 Luật Đất đai

23


được quy định tại khoản 4 Điều 13 của Luật Doanh nghiệp: “Cơ quan nhà nước, đơn vị
lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh
nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; Các đối tượng khơng được góp vốn
vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức”.
Hoạt động mua lại doanh nghiệp ngồi cách hiểu là hoạt động chuyển nhượng
vốn góp, chuyển nhượng cổ phần như đã phân tích ở trên, cịn được hiểu là một hình
thức mua lại doanh nghiệp đó bằng một hợp đồng mua bán. Lúc này, doanh nghiệp trở
thành hàng hóa - đối tượng của hợp đồng. Nghĩa là các chủ thể của hoạt động mua bán
doanh nghiệp có quyền mua bán doanh nghiệp mục tiêu như một loại hàng hóa thơng

qua một hợp đồng mua bán. Việc mua bán doanh nghiệp trong trường hợp này không
đơn giản là hoạt động mua lại tài sản của doanh nghiệp mà còn bao gồm cả những
quyền và nghĩa vụ liên quan đến doanh nghiệp đó. Lúc này sẽ phát sinh sự thay đổi liên
quan đến chủ sở hữu của doanh nghiệp. Và vì đối tượng của hợp đồng là một loại hàng
hóa đặc biệt nên khi thực hiện hợp đồng ngoài việc tuân theo các quy định liên quan
đến chế định hợp đồng, các bên còn phải chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp và
Luật Đầu tư.
1.2.1.3 Quyền quản lý, kiểm soát doanh nghiệp sau khi thực hiện hoạt động mua
bán doanh nghiệp
Với bản chất là nhằm kiểm soát một doanh nghiệp khác thông qua việc nắm giữ
một phần vốn góp hoặc một tỷ lệ cổ phần nhất định trong doanh nghiệp, các bên tham
gia mua bán doanh nghiệp ln mong muốn mình có được trong tay quyền quản lý, và
kiểm soát. Điều này cho thấy vấn đề một nhà đầu tư có quyền quản lý doanh nghiệp
hay khơng sau khi thực hiện hoạt động mua bán doanh nghiệp là quan trọng. Bởi nếu
mục tiêu này không được đặt ra thì xem như chưa thực hiện mua bán doanh nghiệp.
Pháp luật Việt Nam, hiện nay, đã có những quy định liên quan đến quyền quản lý
doanh nghiệp. Khoản 2, Điều 13 Luật Doanh nghiệp đã ghi nhận những đối tượng
không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, điển hình là: “Cơ quan nhà
nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành
lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; Cán bộ, cơng
chức; Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các
cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam;… Người chưa thành niên; người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; Người đang
chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Tồ án cấm hành nghề kinh doanh; Các trường
hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản.”. Loại trừ những đối tượng nêu trên,
24


các cá nhân, tổ chức Việt Nam, cá nhân, tổ chức nước ngồi cịn lại sẽ được quyền
thành lập và tham gia quản lý doanh nghiệp. Như vậy, trước khi thực hiện mua bán

doanh nghiệp, các chủ thể tham gia cũng cần xác định lại quyền tham gia quản lý
doanh nghiệp của mình song song với quyền được tham gia góp vốn, mua cổ phần tại
doanh nghiệp.
Khía cạnh kiểm sốt doanh nghiệp cịn thể hiện thơng qua khả năng đưa ra các
quyết định chi phối hoạt động của doanh nghiệp. Theo các quy định của Luật Doanh
nghiệp, trong công ty TNHH, một quyết định của Hội đồng thành viên được thơng qua
khi đạt được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp
chấp thuận, tỷ lệ trên sẽ tăng lên 75% nếu quyết định của Hội đồng thành viên liên
quan đến việc bán tài sản có giá trị từ 50% trở lên trên tổng giá trị tài sản được ghi
trong báo cáo tài chính gần nhất của cơng ty20; tương tự đối với Công ty cổ phần Điều
104 Luật Doanh nghiệp ghi nhận: quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thơng qua
nếu các cổ đơng đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của các cổ đông dự họp
chấp thuận, đối với các quyết định liên quan đến các vấn đề quan trọng của cơng ty thì
phải được sự chấp nhận của đại diện ít nhất 75% phiếu biểu quyết của các cổ đông tại
đại hội. Đối với các công ty niêm yết, khi thông qua các nghị quyết của Đại Hội đồng
Cổ đơng cũng phải đạt ít nhất các tỷ lệ 65% hoặc 75% như đã nói trên21. Liên quan đến
vấn đề này, Phụ lục Nội dung áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam đính kèm
Nghị quyết 71/2006/NQ-QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội phê chuẩn Nghị định
thư gia nhập Hiệp định thành lập tổ chức thương mại thế giới đã quy định rằng22: “các
công ty TNHH, công ty cổ phần được quyền quy định trong Điều lệ Công ty các nội
dung sau: số đại diện cần thiết để tổ chức cuộc họp và hình thức thông qua quyết định
của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng Cổ đông;…; tỷ lệ đa số phiếu cần thiết (kể cả tỷ
lệ đa số 51%) để thông qua các quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng Cổ
đông”.
1.2.1.4 Quyền được sử dụng ngoại hối để thực hiện các hoạt động liên quan đến
mua bán doanh nghiệp
Các quy định của pháp luật ngoại hối hiện hành cũng phần nào hỗ trợ cho các
hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cũng như hoạt động đầu
20


Điều 52 Luật Doanh nghiệp

21

Quyết định 15/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 19/3/2007 ban hành điều lệ mẫu của các công ty
niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán.
22

Nghị quyết 71/2006/NQ-QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp
định thành lập tổ chức thương mại thế giới sau đây được gọi là Nghị quyết 71

25


×