Tải bản đầy đủ (.pdf) (123 trang)

Pháp luật bảo vệ quyền lợi của người đi vay trong quan hệ hợp đồng tín dụng tiêu dùng (luận văn thạc sỹ luật học)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.79 MB, 123 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ HIỀN LƢƠNG

PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI
ĐI VAY TRONG QUAN HỆ HỢP ĐỒNG
TÍN DỤNG TIÊU DÙNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014.


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ HIỀN LƢƠNG

PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI
ĐI VAY TRONG QUAN HỆ HỢP ĐỒNG
TÍN DỤNG TIÊU DÙNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ
Mã số: 60.38.01.07

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Thị Mơ

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014



LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, các kết quả nghiên cứu trong luận văn là của riêng tôi. Các
kết quả nghiên cứu và số liệu là trung thực, các thông tin tham khảo đều được trích
dẫn nguồn gốc.

Tác giả

Trần Thị Hiền Lương


DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
BLDS

Bộ luật Dân sự

BLDS 1995

Bộ luật Dân sự năm 1995

BLDS 2005

Bộ luật Dân sự năm 2005

BLHS 1999

Bộ luật Hình sự năm 1999

HĐTDTD


Hợp đồng tín dụng tiêu dùng

Luật BVQLNTD
năm 2010

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
năm 2010

Luật NHNN Việt Nam
năm 2010

Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
năm 2010

NHNN

Ngân hàng Nhà nước

NHTM

Ngân hàng thương mại

TCTD

Tổ chức tín dụng

VBPL

Văn bản pháp luật



MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TIÊU
DÙNG VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI ĐI VAY
TRONG QUAN HỆ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TIÊU DÙNG ............................ 5
1.1.

Những vấn đề lý luận về hợp đồng tín dụng tiêu dùng ............................5

1.1.1.

Khái niệm về hợp đồng tín dụng tiêu dùng .............................................5

1.1.2.

Đặc điểm của hợp đồng tín dụng tiêu dùng ............................................7

1.1.3.

Phân loại hợp đồng tín dụng tiêu dùng ................................................15

1.1.4.

Vai trị của cho vay tiêu dùng thơng qua hợp đồng tín dụng tiêu dùng17

1.2. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi của ngƣời đi vay trong quan hệ hợp
đồng tín dụng tiêu dùng ......................................................................................18
1.2.1. Bảo vệ quyền lợi của người đi vay nhằm hạn chế trạng thái bất bình

đẳng giữa người đi vay và tổ chức tín dụng trong quan hệ hợp đồng tín dụng
tiêu dùng .............................................................................................................18
1.2.2. Gia tăng khả năng chủ động đàm phán của người đi vay trong giao kết
hợp đồng tín dụng tiêu dùng...............................................................................19
1.2.3. Giảm thiểu các khiếu nại của người đi vay từ đó góp phần nâng cao
chất lượng cuộc sống của người dân .................................................................19
1.2.4. Bảo vệ quyền lợi của người vay tiêu dùng nhằm tạo cơ sở thực tiễn để
xây dựng và hình thành các quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi của người
đi vay trong quan hệ hợp đồng tín dụng tiêu dùng ............................................20
1.3. Pháp luật bảo vệ quyền lợi của ngƣời đi vay trong quan hệ hợp đồng
tín dụng tiêu dùng ................................................................................................20
1.3.1. Khái niệm và đặc điểm pháp luật bảo vệ quyền lợi của người đi vay
trong quan hệ hợp đồng tín dụng tiêu dùng .......................................................21
1.3.2. Nội dung của pháp luật bảo vệ quyền lợi của người đi vay trong quan
hệ hợp đồng tín dụng tiêu dùng ..........................................................................26
Kết luận chƣơng 1 ................................................................................................36


Chƣơng 2. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI
CỦA NGƢỜI ĐI VAY TRONG QUAN HỆ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TIÊU
DÙNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HỒN THIỆN ......................................... 37
2.1. Thực trạng các sai phạm của ngân hàng làm ảnh hƣởng đến quyền lợi
của ngƣời đi vay trong quan hệ hợp đồng tín dụng tiêu dùng ........................37
2.1.1.

Các vi phạm về hình thức hợp đồng tín dụng tiêu dùng .......................37

2.1.2.

Các vi phạm chung về nội dung hợp đồng tín dụng tiêu dùng .............38


2.1.3.

Các vi phạm cụ thể trong nội dung hợp đồng tín dụng tiêu dùng ........42

2.2. Thực trạng quản lý nhà nƣớc về bảo vệ quyền lợi của ngƣời đi vay
trong quan hệ hợp đồng tín dụng tiêu dùng ......................................................51
2.2.1. Cơng tác hồn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền lợi của người đi
vay trong quan hệ hợp đồng tín dụng tiêu dùng.................................................52
2.2.2. Cơng tác thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người đi vay trong
quan hệ hợp đồng tín dụng tiêu dùng .................................................................52
2.2.3. Hoạt động kiểm sốt các mẫu hợp đồng tín dụng tiêu dùng của ngân
hàng, tổ chức tín dụng ........................................................................................53
2.2.4. Các hoạt động hỗ trợ thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi của người đi
vay trong quan hệ hợp đồng tín dụng tiêu dùng.................................................53
2.3. Một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi
của ngƣời đi vay trong quan hệ hợp đồng tín dụng tiêu dùng ........................55
2.3.1. Nhóm giải pháp hồn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của người đi
vay trong quan hệ hợp đồng tín dụng tiêu dùng.................................................56
2.3.2. Nhóm giải pháp đổi mới cơ chế bảo vệ quyền lợi của người đi vay
trong quan hệ hợp đồng tín dụng tiêu dùng .......................................................74
2.3.3.

Nhóm giải pháp đối với tổ chức tín dụng và người vay tiêu dùng .......77

Kết luận chƣơng 2 ................................................................................................79
KẾT LUẬN...................................................................................................... 80


1


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động cho vay tiêu dùng đang ngày càng phát triển mạnh mẽ và nhanh
chóng ở hầu hết các thị trường bao gồm cả các nước phát triển thuộc khu vực Bắc
Mỹ và Liên minh Châu Âu, cũng như các nước đang phát triển trải rộng từ Nam
Mỹ, Châu Á – Thái Bình Dương, Trung Đơng và Đơng Âu, như một xu hướng tất
yếu gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế. Đối với Việt Nam, trong vài năm gần
đây, lĩnh vực này đã nhận được nhiều sự quan tâm của người dân và các nhà hoạch
định chính sách, các cơ quan quản lý vì những lợi ích mang ý nghĩa cả về kinh tế và
xã hội. Hoạt động này đang được các ngân hàng truyền thống và các công ty tài
chính khai thác, vì nó đem lại nguồn lợi nhuận lớn. Đồng thời, với xã hội tiến bộ
hiện nay, thói quen tiêu dùng của người dân cũng đang thay đổi, phần đông số
người được khảo sát sẽ chọn phương án vay ngân hàng khi cần một lượng tiền lớn
cho tiêu dùng thay vì các lựa chọn khác1. Như vậy, có thể nói tín dụng tiêu dùng là
một trong những giải pháp giúp kích cầu tiêu dùng nội địa. Khi nhu cầu cuộc sống
ngày càng được nâng cao thì cuộc cạnh tranh cho vay tiêu dùng giữa các ngân hàng
sẽ ngày càng nóng lên.
Tín dụng tiêu dùng là một ngành mới tại Việt Nam, thị trường còn nhiều bỏ
ngõ cả về phương diện khn khổ pháp lý lẫn chính sách khai thác thị trường. Nó
bao gồm nhiều lĩnh vực như vay vốn để mua nhà ở, đất ở; mua sắm phương tiện đi
lại như ô tô, xe máy; mua sắm đồ gia dụng; du lịch; chữa bệnh; hiếu hỉ; … Đặc tính
chung của tín dụng tiêu dùng thường là những khoản vay nhỏ, ngân hàng phải bỏ ra
nhiều chi phí, rủi ro chậm trả và mất vốn tương đối cao, nên lãi suất thường ở mức
cao hơn so với cho vay sản xuất, kinh doanh. Mặt khác, đứng ở góc độ người đi vay
thì họ lại là những chủ thể yếu ớt, dễ dàng bị chèn ép và chịu nhiều bất lợi khi giao
kết hợp đồng tín dụng tiêu dùng (HĐTDTD) với ngân hàng. Vì hầu hết các loại hợp
đồng này đều là hợp đồng theo mẫu đã được các ngân hàng soạn sẵn, nên người đi
vay khơng có cơ hội đàm phán cũng như cơ hội lên tiếng để bảo vệ chính mình. Vì
vậy, việc bảo vệ quyền lợi của người đi vay trong những trường hợp này là điều hết

sức cần thiết. Đặc biệt, để bảo vệ quyền lợi của người đi vay trong tín dụng tiêu
dùng, người đi vay cần chú ý đến HĐTDTD và các quy định của pháp luật về
1

Kết quả một cuộc khảo sát thăm dò ý kiến trên website của Maritime bank: gần 58% người tham gia khảo
sát chọn phương án vay ngân hàng; 25,85% người được hỏi chọn phương án vay bạn bè, người thân; 12,24%
đợi khi đủ tiền mới thực hiện; 4,08% chọn vay lãi nóng bên ngồi. Số liệu được thống kê trong Báo Pháp luật
Việt Nam, số ra ngày 15/04/2009, được tác giả dẫn lại từ nguồn tin thứ cấp sau: Nguyễn Thị Hiền (2014),
“Một số vấn đề về lãi suất cho vay tiêu dùng, nhìn từ kinh nghiệm quốc tế”, Tạp chí ngân hàng, (7), tr.35.


2

HĐTDTD. Vậy pháp luật về HĐTDTD có những điểm gì đặc biệt và việc bảo vệ
quyền lợi của người đi vay trong quan hệ HĐTDTD có những quy định gì chưa hợp
lý? Để trả lời các câu hỏi nêu trên, cần phải có sự nghiên cứu vấn đề này một cách
cụ thể.
Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã lựa chọn vấn đề “Pháp luật bảo vệ quyền
lợi của người đi vay trong quan hệ hợp đồng tín dụng tiêu dùng” làm đề tài cho
luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, theo tìm hiểu, tác giả nhận thấy, vấn đề bảo
vệ quyền lợi của người đi vay trong quan hệ HĐTDTD đến nay vẫn chưa có cơng
trình nào nghiên cứu cụ thể. Tuy nhiên, một số vấn đề chung xung quanh lĩnh vực
này, như vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trong hợp đồng theo mẫu, bảo vệ người tiêu
dùng trong lĩnh vực ngân hàng, … đã được các nhà khoa học và nhiều luật gia
nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, nội dung.
Theo tìm hiểu của tác giả, có một số luận văn thạc sĩ luật học đã nghiên cứu
liên quan đến lĩnh vực này như: Luận văn thạc sĩ luật học có tên gọi “Pháp luật về
hợp đồng theo mẫu và vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” của tác giả Phạm

Thị Thanh Nhàn (Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, bảo vệ năm 2010), trong đó
tác giả này đã đưa ra một số hợp đồng theo mẫu có quy định về bảo vệ người tiêu
dùng. Tuy nhiên, luận văn này khơng phân tích vấn đề pháp luật về bảo vệ quyền
lợi của người đi vay trong một hợp đồng cụ thể là HĐTDTD. Luận văn thạc sĩ luật
học với đề tài “Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng một số nước trên thế giới và kinh
nghiệm đối với Việt Nam” của tác giả Ngô Thị Út Quyên (Đại học Quốc gia Hà
Nội, bảo vệ năm 2012) có phân tích các quy định của pháp luật bảo vệ người tiêu
dùng nói chung, nhưng khơng phân tích pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người đi
vay trong HĐTDTD. Thực tế cho thấy, các luận văn chưa nghiên cứu sâu về vấn đề
bảo vệ quyền lợi của người đi vay trong HĐTDTD mà chỉ nghiên cứu các vấn đề
chung như bảo vệ người tiêu dùng trong hợp đồng mẫu.
Đến nay, các kết quả nghiên cứu mà tác giả tìm được về pháp luật bảo vệ
quyền lợi của người đi vay trong quan hệ HĐTDTD ở Việt Nam cịn hết sức khiêm
tốn. Phần lớn các cơng trình khoa học về lĩnh vực này được cơng bố dưới hình thức
các bài viết được đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên ngành luật, kinh tế hoặc
tham luận trong các Hội thảo khoa học. Ví dụ như bài viết “Pháp luật bảo vệ người
tiêu dùng dịch vụ ngân hàng” của Trương Thanh Đức đăng trên Tạp chí Ngân hàng
số 1 (1/2011), và cũng được sử dụng trong Hội thảo Pháp ngữ khu vực bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng: từ 2 góc nhìn Á Âu, do Nhà Pháp luật Việt Pháp phối


3

hợp với Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương Việt Nam tổ chức tại Hà Nội
(9/2010). Cũng trong hội thảo này, cịn có bài viết với tựa đề “Bảo vệ người tiêu
dùng các dịch vụ ngân hàng và tài chính trong pháp luật Cộng hịa Pháp” của tác
giả M.Alain Gourio là tài liệu cũng rất đáng quan tâm. Ngoài ra, hai bài viết của tác
giả Phan Khánh An đăng trên Bản tin cạnh tranh và người tiêu dùng số 37, 39 năm
2013 có tên “Bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch ngân hàng, tổ chức tín dụng –
Cần kiểm soát hợp đồng mẫu, điều kiện giao dịch chung của ngân hàng” và “Thắt

chặt kiểm soát hợp đồng mẫu của ngân hàng và các tổ chức tín dụng – Kinh nghiệm
của Ba Lan” cũng là nguồn tài liệu hữu ích cho tác giả luận văn. Bên cạnh đó, bài
viết “Một số vấn đề lý luận xung quanh Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”
đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật (2/2010) của tác giả Nguyễn Như Phát
cũng có giá trị cho việc nghiên cứu luận văn.
Mặc dù chưa nhiều nhưng những bài viết, luận văn nêu trên là tài liệu quý
báu giúp tác giả có thêm nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu và
hồn thiện luận văn thạc sĩ của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ những bất cập của pháp luật bảo vệ
quyền lợi của người đi vay trong quan hệ HĐTDTD và thực trạng áp dụng pháp luật
trong lĩnh vực này, đề tài đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền
lợi của người đi vay trong quan hệ HĐTDTD.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài phải làm sáng tỏ
những vấn đề lý luận chung về HĐTDTD, từ đó nêu được sự cần thiết phải bảo vệ
người đi vay trong hợp đồng này. Sau đó, trên cơ sở phân tích các nội dung của
pháp luật bảo vệ quyền lợi của người đi vay trong quan hệ HĐTDTD và đánh giá
thực trạng áp dụng pháp luật ở Việt Nam, đề tài xác định được những điểm thiếu
sót, bất cập của pháp luật về lĩnh vực này và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên
quan đến HĐTDTD, bảo vệ quyền lợi của người đi vay trong HĐTDTD, và pháp
luật về bảo vệ quyền lợi của người đi vay trong quan hệ HĐTDTD.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề bảo vệ quyền lợi của người đi vay trong quan hệ
HĐTDTD và pháp luật bảo vệ quyền lợi của người đi vay trong quan hệ HĐTDTD
là vấn đề rất rộng. Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, phạm vi nghiên cứu
của đề tài được giới hạn như sau:
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của
BLDS 2005, Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, Luật Các tổ chức tín dụng năm



4

2010 và các văn bản dưới luật có liên quan về đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của người đi vay trong quan hệ HDTDTD, bao gồm các quy định về nghĩa vụ của
bên cho vay, nghĩa vụ quản lý của cơ quan nhà nước và nghĩa vụ tự bảo vệ mình
của người đi vay.
- Giới hạn về thời gian: Khi đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi
của người đi vay trong quan hệ HĐTDTD, đề tài lấy mốc từ năm 2005, năm ban
hành BLDS 2005 cho đến nay. Khi đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ
quyền lợi của người đi vay trong quan hệ HDTDTD, đề tài đề xuất giải pháp từ nay
đến năm 2018 và xa hơn, đến năm 2020.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử để giải quyết các nội dung khoa học và thực tiễn vấn đề
một cách toàn diện. Bên cạnh đó, luận văn cũng đã phân tích và làm sáng tỏ các vấn
đề trọng tâm trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc của phương pháp tổng hợp, phương
pháp so sánh. Phương pháp phân tích được áp dụng trong suốt đề tài, qua đó phân
tích các quy định pháp luật điều chỉnh, các quan điểm có liên quan đến bảo vệ
quyền lợi của người đi vay trong quan hệ HĐTDTD. Phương pháp so sánh được áp
dụng để so sánh quy định về lãi suất trong BLDS 2005 và các VBPL do NHNN ban
hành để tìm hiểu những điểm mâu thuẫn. Đối chiếu có ý nghĩa tham khảo giữa pháp
luật bảo vệ quyền lợi người đi vay trong quan hệ HĐTDTD của Việt Nam với một
số nước như Cộng hòa Pháp về thực trạng áp dụng pháp luật.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Việc nghiên cứu luận văn này một cách có hệ thống cũng như đề xuất một số
giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật bảo vệ người đi vay trong
quan hệ HĐTDTD sẽ giúp các TCTD ý thức rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình
trong HĐTDTD và nâng cao khả năng tự bảo vệ của người đi vay trước các TCTD.
Đồng thời, việc hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này cũng giúp cơ

quan nhà nước có cái nhìn cụ thể hơn và có cơ chế đổi mới phù hợp hơn khi bảo vệ
người vay vốn để sinh hoạt, tiêu dùng. Bên cạnh đó, luận văn cịn có thể là tài liệu
tham khảo đối với việc học tập và nghiên cứu của sinh viên chuyên về luật, kinh tế.
7. Kết cấu của đề tài: Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của đề tài gồm 2 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng tín dụng tiêu dùng và pháp luật
bảo vệ quyền lợi của người đi vay trong quan hệ hợp đồng tín dụng tiêu dùng.
- Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật bảo vệ quyền lợi của người đi vay
trong quan hệ hợp đồng tín dụng tiêu dùng và một số kiến nghị hoàn thiện.


5

Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TIÊU DÙNG
VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI ĐI VAY TRONG
QUAN HỆ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TIÊU DÙNG
1.1. Những vấn đề lý luận về hợp đồng tín dụng tiêu dùng
1.1.1. Khái niệm về hợp đồng tín dụng tiêu dùng
Hoạt động cho vay đã xuất hiện từ rất lâu trong xã hội, khi quan hệ lưu thơng
hàng hóa tiền tệ hình thành để cân bằng nhu cầu của con người. Ngày nay, cho vay
là một hoạt động truyền thống và chủ yếu của các TCTD nhằm đáp ứng nhu cầu về
vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống. Khái niệm cho vay đã được quy định
trong nhiều VBPL khác nhau. Dưới góc độ pháp luật ngân hàng thì hoạt động cho
vay của TCTD được định nghĩa là một trong những hình thức cấp tín dụng của
TCTD, theo đó TCTD sẽ chuyển giao cho bên vay (khách hàng) một khoản vốn tiền
tệ, bên vay sẽ sử dụng khoản vốn tiền tệ đó trong một khoảng thời gian nhất định,
sau đó sẽ hồn trả cho TCTD cả gốc và lãi theo thỏa thuận2.
Hiện tại, với sự phát triển khơng ngừng và đa dạng hóa nhiều hoạt động ngân
hàng, đã có rất nhiều hình thức cho vay mà mỗi một TCTD đã tự xây dựng nên. Đặc

biệt, thị trường tín dụng tiêu dùng thời gian gần đây đang diễn ra sự cạnh tranh sôi
động giữa các ngân hàng, các cơng ty tài chính. Đây là hình thức cấp phát vốn cho
cá nhân, hộ gia đình để đáp ứng nhu cầu mua sắm tiêu dùng, nâng cao mức sống
nhưng chưa có khả năng chi trả trong hiện tại như: nhu cầu mua sắm nhà ở, đồ dùng
gia đình, xe cộ, chi phí học hành, giải trí … Khái niệm tiêu dùng theo từ điển tiếng
Việt phổ thơng có nghĩa là “việc sử dụng của cải vật chất vào mục đích sản xuất
hoặc phục vụ đời sống3”. Do vậy, mục đích vay mượn rất đa dạng, như mua nhà,
xây dựng hay sửa chữa nhà ở, mua xe, du học, du lịch, cưới hỏi, … Cho vay tiêu
dùng đã xuất hiện khá sớm và phát triển mạnh ở các nước tiến bộ trên thế giới. Tuy
nhiên, hình thức này mới chỉ hấp dẫn tại thị trường nước ta những năm gần đây,
Theo tiến trình thời gian, với sự phát triển và biến đổi không ngừng của nền kinh tế,
hệ thống NHTM tiến hành cơ cấu lại, khái niệm tín dụng tiêu dùng cũng ngày càng
được mở rộng và có một số thay đổi. Ngoài việc cho vay để mua sắm phương tiện
đi lại; mua, sửa chữa nhà ở; mua phương tiện sinh hoạt đắt tiền khác; các NHTM
mở rộng sang cho vay đối với gia đình có con em đi du học nước ngoài, người đi
2

Khoản 16 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và khoản 1 Điều 3 Quy chế cho vay của TCTD đối
với khách hàng, ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc
NHNN.
3
Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt phổ thơng, Nxb Tp.Hồ Chí Minh, Tp. HCM, tr.912.


6

xuất khẩu lao động, chữa bệnh ở nước ngoài, … Đặc biệt là hoạt động cho vay vượt
khỏi “khái niệm tín dụng tiêu dùng” mà bao trùm ln lĩnh vực “phi sản xuất” đó là
cho vay đầu tư bất động sản, chứng khốn, mua vàng, đơ là Mỹ4,…
Hiện tại ở Việt Nam, khái niệm cho vay tiêu dùng vẫn chưa có định nghĩa

chính thức cụ thể trong một văn bản pháp lý nào, việc vay vốn nói chung, vay vốn
phục vụ nhu cầu tiêu dùng nói riêng được quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng
năm 2010 và Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng, ban hành kèm theo
Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN (đã
được sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005
và Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/05/2005). Trong các văn bản này,
không sử dụng thuật ngữ cho vay tiêu dùng, mà chỉ được gọi là cho vay để đáp ứng
nhu cầu đời sống và các dự án đầu tư phục vụ đời sống5. Riêng trong Công văn số
2956/NHNN-CSTT ngày 14/04/2011 của NHNN về kiểm soát hoạt động tín dụng
năm 2011 thì có nói đến cho vay tiêu dùng thông qua việc liệt kê các lĩnh vực thuộc
phạm vi cho vay phi sản xuất, cụ thể: “Cho vay đối với nhu cầu vốn để phục vụ đời
sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng (gọi là cho
vay tiêu dùng)6”. Như vậy, cho vay tiêu dùng chưa được định nghĩa cụ thể trong các
VBPL hiện hành mà chỉ được giải thích ngắn gọn như trên, việc xác định mục đích
kinh doanh, thương mại hay tiêu dùng lại khơng có quy định cụ thể từ phía NHNN
nên chúng ta phải hiểu gián tiếp mục đích tiêu dùng thơng qua cách loại trừ hoạt
động kinh doanh, thương mại được định nghĩa theo quy định của Luật Thương mại
2005 và Luật Doanh nghiệp 20057. Theo đó, mục đích tiêu dùng có thể hiểu là hoạt
động nhằm phục vụ cho các nhu cầu sinh hoạt, chi tiêu trong đời sống hàng ngày
của người dân không nhằm mục đích lợi nhuận.
Để tham gia xác lập quan hệ cho vay tiêu dùng giữa người đi vay và chủ thể
cho vay, các bên phải ký kết với nhau HĐTDTD theo quy định pháp luật. Đây là
4

Nguyễn Đắc Hưng, Phát triển tín dụng tiêu dùng an tồn và hiệu quả, đăng trên website:
http://www.vnba.org.vn/?option=com_content&view=article&id=1456&catid=43&Itemid=90, (truy cập
ngày 20/01/2014).
5
Khoản 16 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 1 Quy chế cho vay của TCTD đối với khách
hàng, ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN.

6
Điểm 2 Công văn số 2956/NHNN-CSTT ngày 14/04/2011 của NHNN về kiểm sốt hoạt động tín dụng năm
2011.
7
Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 về “Giải thích từ ngữ” quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư xúc tiến thương mại và
các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”; Khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 về “Giải thích từ
ngữ” quy định: “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ
sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.


7

một văn bản và cũng là bằng chứng thể hiện việc các bên tự nguyện tham gia vào
quan hệ cho vay, cũng là cơ sở để các bên thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đã
được xác lập trong hợp đồng. Việc ký kết HĐTDTD bằng văn bản thực chất là một
sự xác nhận cơng khai, chính thức về mối quan hệ pháp lý giữa các bên ký kết để
cho người thứ ba (hoặc xã hội) biết rõ về việc ký kết hợp đồng đó mà có những
cách xử sự hợp lý, an toàn trong trường hợp cần thiết. Hợp đồng tín dụng tiêu dùng,
do đó cũng là căn cứ pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành giải quyết
tranh chấp khi giữa các bên có phát sinh tranh chấp.
Hợp đồng tín dụng tiêu dùng, xét về bản chất, nó cũng là một hợp đồng dân
sự nói chung và là hợp đồng tín dụng thơng thường nói riêng. Căn cứ khái niệm về
hợp đồng dân sự được quy định tại Điều 388 BLDS 20058, ta có thể hiểu hợp đồng
tín dụng tiêu dùng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa TCTD (bên cho vay) với
khách hàng (bên vay) nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ
giữa các bên theo quy định của pháp luật, theo đó TCTD chuyển giao một khoản
vốn là khoản tiền cho khách hàng sử dụng vào mục đích phục vụ cho nhu cầu sinh
hoạt, tiêu dùng trong một thời hạn nhất định; còn bên vay (khách hàng) sẽ phải
hồn trả khoản tiền đó (tiền gốc) và lãi vay sau một thời hạn nhất định.

Từ khái niệm này có thể thấy HĐTDTD có các đặc điểm dưới đây:
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng tiêu dùng
1.1.2.1. Đặc điểm về chủ thể của hợp đồng
Chủ thể của HĐTDTD gồm 2 bên là bên cho vay và bên đi vay.
- Bên cho vay
Bên cho vay trong HĐTDTD luôn luôn là TCTD hoặc chi nhánh ngân hàng
nước ngoài tại Việt Nam9. Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, TCTD là
doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức
tín dụng bao gồm: ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi
mơ và quỹ tín dụng nhân dân10. Trong đó, các loại hình ngân hàng bao gồm NHTM,
ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã; tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao
gồm cơng ty tài chính, cơng ty cho th tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân
hàng khác11. Tổ chức tín dụng có thể được thành lập với nhiều hình thức tổ chức
8

Điều 388 BLDS 2005 quy định về “Khái niệm hợp đồng dân sự”: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa
các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
9
Trường Đại học Luật Tp. HCM (2013), Giáo trình Luật ngân hàng, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt
Nam, Hà Nội, tr. 318.
10
Khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
11
Khoản 2, khoản 4 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.


8

khác nhau, trong đó đặc biệt các TCTD liên doanh, TCTD 100% vốn nước ngồi
cũng là một loại hình NHTM, được thành lập, tổ chức dưới hình thức cơng ty trách

nhiệm hữu hạn12. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của ngân
hàng nước ngoài, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi
nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh tại Việt Nam, và được NHNN Việt Nam quy định
cụ thể nội dung hoạt động trong Giấy phép cấp cho chi nhánh ngân hàng nước ngồi
theo quy định Luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010 phù hợp với quy mơ,
loại hình, lĩnh vực hoạt động của ngân hàng nước ngoài13. Đối với hoạt động tín
dụng tiêu dùng thì dựa vào bản chất vay vốn để phục vụ cho mục đích tiêu dùng nên
chủ thể cho vay chủ yếu là các NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt
Nam và các cơng ty tài chính14. Ngồi ra, để là một bên của HĐTDTD, các TCTD
phải hội đủ các điều kiện do pháp luật quy định, cụ thể đó là các điều kiện sau15:
+ Có giấy phép thành lập và hoạt động do NHNN cấp.
+ Có điều lệ do NHNN chuẩn y.
+ Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp.
+ Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín dụng
đối với khách hàng.
Các điều kiện trên là căn cứ để xem xét một TCTD có đủ tư cách pháp lý để
giao kết HĐTDTD hay khơng và đó khơng chỉ là điều kiện dành riêng cho hoạt
động cho vay tiêu dùng của TCTD mà cũng là các điều kiện để TCTD thực hiện
hoạt động cho vay nói chung. Quy định này nhằm hạn chế rủi ro cho nền kinh tế và
làm lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng cũng như nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp cho bên đi vay.
- Bên đi vay
Bên đi vay trong HĐTDTD là cá nhân, hộ gia đình. Pháp nhân khơng là chủ
thể đi vay trong loại hợp đồng này, vì mục đích vay vốn là để phục vụ cho nhu cầu
sinh hoạt, tiêu dùng. Tính chất này chỉ phù hợp với chủ thể là cá nhân, hộ gia đình.
Để được vay vốn của các TCTD, bên đi vay phải đáp ứng các quy định của
pháp luật và điều kiện do các TCTD đưa ra. Hiện nay hoạt động cho vay tiêu dùng
vẫn chịu sự điều chỉnh của Quy chế cho vay của TCTD dành cho khách hàng nói
12


Khoản 8 Điều 4, khoản 4 Điều 6 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
Khoản 9 Điều 4, khoản 3 Điều 123 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
14
Trường Đại học Luật Tp. HCM (2013), Giáo trình Luật ngân hàng, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt
Nam, Hà Nội, tr.325-326; và khoản 3.a Điều 98, khoản 1.d Điều 108, khoản 1 Điều 123 Luật Các tổ chức tín
dụng năm 2010.
15
Khoản 1 Điều 8 và Điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
13


9

chung. Điều kiện đi vay của cá nhân, hộ gia đình như thế nào thì tùy thuộc vào đặc
thù của TCTD cũng như khoản vay của khách hàng mà các TCTD đưa ra những
quy định cụ thể riêng. Tuy nhiên, bên đi vay cũng phải đáp ứng các điều kiện của
pháp luật về hoạt động cho vay nói chung. Đó là: cá nhân, hộ gia đình phải thỏa
mãn các điều kiện về năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu
trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật16.
Ngoài các điều kiện về năng lực dân sự, để được ký kết HĐTDTD, bên đi
vay cịn phải thỏa mãn các điều kiện như: mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, có
khả năng tài chính đảm bảo trả nợ được trong thời gian cam kết, có phương án phục
vụ đời sống khả thi và phù hợp với các quy định của pháp luật, thực hiện các quy
định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam17.
Có một đặc điểm cần lưu ý là theo quy định của pháp luật Việt Nam, bên đi
vay trong HĐTDTD cịn có thể là cá nhân nước ngồi, vì pháp luật về cho vay nói
chung khơng có bất kỳ quy định nào cấm người nước ngồi ký kết hợp đồng tín
dụng. Nhưng quan hệ tín dụng tiêu dùng giữa TCTD và chủ thể này cũng khá đặc
biệt. Vì tùy từng sản phẩm cho vay cụ thể, như cho vay mua nhà, mua xe, … các
TCTD căn cứ vào quy định pháp luật chuyên ngành lĩnh vực đó như pháp luật nhà

ở, … để đưa ra các điều kiện cụ thể hơn cho từng khoản vay. Đặc biệt, đối với
người vay tiêu dùng là người nước ngồi, pháp luật nhà ở có những quy định riêng
nhằm hạn chế quyền sở hữu nhà ở của đối tượng này. Vấn đề sở hữu nhà ở của cá
nhân nước ngoài được quy định tại Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03/06/2008
của Quốc hội khóa XII về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở
hữu nhà ở tại Việt Nam, được áp dụng thí điểm trong 5 năm, hết hiệu lực vào ngày
01/01/2014, nhưng hiện tại Nghị quyết này vẫn còn đang được áp dụng vì đến nay
vẫn chưa có văn bản mới để thay thế Nghị quyết trên. Theo đó, đối tượng được mua
và sở hữu nhà ở tại Việt Nam rất hạn chế, và quyền lợi cũng bị thu hẹp rất nhiều so
với cá nhân trong nước18. Các đối tượng là các nhân nước ngoài này phải đang sinh
sống ở Việt Nam, được phép cư trú tại Việt Nam từ 1 năm trở lên và không phải là
viên chức ngoại giao. Hơn nữa, họ chỉ được phép sở hữu căn hộ chung cư trong dự
án nhà ở thương mại với số lượng rất hạn chế là chỉ 1 căn hộ. Như vậy, nếu không

16

Khoản 1 Điều 7 Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng, ban hành kèm theo Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN.
17
Khoản 2, 3, 4, 5 Điều 7 Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng, ban hành theo Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN.
18
Điều 2, Điều 3, khoản 1 Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03/06/2008 của Quốc hội về
việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam.


10

thỏa mãn các điều kiện của pháp luật về nhà ở hoặc đã sở hữu 1 căn hộ chung cư rồi
thì người nước ngồi khơng được phép vay tiêu dùng để mua nhà.

Tuy nhiên, hiện nay Luật Nhà ở đang trong giai đoạn sửa đổi để phù hợp hơn
với tình hình xã hội. Theo dự thảo Luật Nhà ở được cập nhật sau nhất19 vào thời
điểm hiện tại thì nhiều điều kiện để người nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở tại
Việt Nam đã được nới lỏng hơn trước20. Điều này hứa hẹn sẽ mở rộng điều kiện để
cá nhân người nước ngồi có thể ký kết HĐTDTD để mua nhà ở tại Việt Nam trong
thời gian tới.
1.1.2.2. Đặc điểm về hình thức của hợp đồng
Theo quy định tại Điều 17 Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng
ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN thì hợp đồng tín dụng nói
chung và HĐTDTD nói riêng phải được lập thành văn bản mới có giá trị pháp lý21.
Theo quy định hiện hành, hình thức văn bản của hợp đồng bao gồm văn bản viết và
văn bản điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu. Cũng giống như văn bản truyền
thống, thông điệp dữ liệu muốn được cơng nhận có giá trị tương đương văn bản thì
phải đáp ứng được những yêu cầu về kỹ thuật và pháp lý nhất định, sao cho bảo
đảm tính nguyên gốc và sự tồn vẹn về nội dung thơng tin, có thể lưu trữ và truy
cập khi cần thiết … Như vậy, dù ký kết ở hình thức nào thì hợp đồng cũng có giá trị
pháp lý ngang nhau và đều là chứng cứ trong q trình giao dịch22.
Thơng thường, hợp đồng tín dụng là hợp đồng mẫu do chính TCTD soạn
thảo dựa trên quy định của pháp luật và phù hợp với quy chế cho vay của chính
TCTD23. Và HĐTDTD cũng không ngoại lệ, đây cũng là loại hợp đồng do chính
TCTD soạn thảo sẵn để giao kết với người đi vay, dựa trên quy định pháp luật về tín
dụng tiêu dùng, phù hợp với quy chế cho vay của TCTD và phải đảm bảo có nội
19

Dự thảo lần thứ 4 ngày 07/08/2014 Luật nhà ở (sửa đổi) (Trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến tại
Phiên họp thứ 30, tháng 08/2014), xem toàn văn Dự thảo tại website:
http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=807&LanID
=967&TabIndex=1, (truy cập ngày 01/09/2014).
20
Xem http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/TT_TINLAPPHAP/View_Detail.aspx?ItemID=1744,

(truy cập ngày 01/09/2014).
21
Điều 17 Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng, ban hành kèm theo Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN quy định về Hợp đồng tín dụng: “Việc cho vay của TCTD và khách hàng vay phải
được lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng
vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo
đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận”.
22
Khoản 1 Điều 124 BLDS 2005 và các Điều 11, 12, 13, 14, 33, 34 Luật Giao dịch điện tử năm 2005.
23
Trường Đại học Luật Tp. HCM (2013), Giáo trình Luật ngân hàng, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt
Nam, Hà Nội, tr. 320.


11

dung cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên. Hình thức của HĐTDTD trong thực
tế thường có 2 dạng sau:
Một là, hợp đồng mẫu do ngân hàng làm sẵn và đưa ra để ký kết sau khi
người đi vay hoàn tất hồ sơ đề nghị cho vay, ngân hàng xác nhận và hồn tất các thủ
tục chun mơn để xác định việc vay vốn. Đây là dạng HĐTDTD theo mẫu đúng
nghĩa, khách hàng có thể đọc, nghiên cứu và thỏa thuận về các nội dung quy định
trong bản hợp đồng mẫu này. Nhưng phần lớn trong thực tế giao kết HĐTDTD,
khách hàng rất ít có cơ hội được thỏa thuận thay đổi các điều khoản trong hợp đồng.
Hai là, hợp đồng tín dụng tiêu dùng kiêm “Giấy đề nghị cấp tín dụng” (hay
cịn được gọi là Đơn đề nghị vay vốn, …). Theo quy định của pháp luật, thì chỉ có
HĐTDTD mới có giá trị như một hợp đồng. Song, trên thực tế, giấy đề nghị vay
vốn cũng thường có đầy đủ các nội dung cơ bản của hợp đồng tín dụng.
So với hợp đồng thương mại, hợp đồng tín dụng có điểm khác là thường có
rất nhiều văn bản kèm theo như đơn đề nghị vay vốn, khế ước nhận nợ (giấy nhận

nợ), … trong đó chứa nhiều nội dung cơ bản của hợp đồng tín dụng như số tiền vay,
mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất vay và cam kết của bên vay24, trong đó quyền
và nghĩa vụ của các bên thường sẽ được in ở mặt sau của giấy đề nghị vay vốn. Vì
vậy, thơng thường dưới tiêu đề “Giấy đề nghị cấp tín dụng” sẽ đi kèm dịng chữ
“kiêm hợp đồng tín dụng – số …/”25. Dạng giấy đề nghị cấp tín dụng kiêm
HĐTDTD thường được sử dụng cho hình thức vay tiêu dùng tín chấp đối với các
khoản vay có giá trị nhỏ, người đi vay có tài chính mạnh, nên hầu hết nhân viên tín
dụng chỉ làm việc trực tiếp với khách hàng một vài lần, hướng dẫn làm giấy đề nghị
vay vốn kiêm HĐTDTD nhằm rút ngắn thời gian và giảm bớt một số thủ tục cho
khách hàng, tiết kiệm thời gian cho cả hai bên.
1.1.2.3. Đặc điểm về nội dung của hợp đồng
Khi nói về nội dung của hợp đồng, dù đó là hợp đồng dân sự thơng thường,
hay hợp đồng tín dụng tiêu dùng, người ta thường nói đến các điều khoản của hợp
đồng và những quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hợp đồng.
- Đặc điểm về nội dung của HĐTDTD thể hiện ở các điều khoản của hợp đồng
Các điều khoản trong HĐTDTD được chia làm 2 loại: đó là các điều khoản
chủ yếu và các điều khoản thơng thường.

24

Phịng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) (2010), Cẩm nang hợp đồng thương mại, Nxb Lao
Động, Hà Nội, tr.287.
25
Xem Phụ lục số 01 ở cuối luận văn.


12

+ Các điều khoản chủ yếu: là những điều khoản không thể thiếu trong hợp
đồng, theo quy định của pháp luật, nếu các bên không thỏa thuận một trong các điều

khoản này thì hợp đồng khơng phát sinh hiệu lực pháp lý. Tính cần thiết khi pháp
luật quy định phải có các điều khoản này nhằm bảo vệ quyền lợi tối thiểu của các
bên, và sự thỏa thuận phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Các điều khoản chủ
yếu của HĐTDTD được quy định dựa vào Điều 17 Quy chế cho vay của TCTD đối
với khách hàng, ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN bao gồm:
* Điều khoản về điều kiện vay vốn: là điều khoản mà bên đi vay phải thỏa mãn
các điều kiện thì mới được vay vốn, trong đó điều kiện về năng lực chủ thể là khơng
thể thiếu trong một hợp đồng tín dụng nói chung. Và tùy theo từng loại HĐTDTD
cụ thể mà TCTD đưa ra thêm các điều kiện vay vốn khác nhau.
* Điều khoản về đối tượng của hợp đồng: đây là điều khoản liên quan đến hình
thức vay, số tiền vay, lãi suất. Thơng qua đó, ta xác định được giá trị của hợp đồng
được tính bằng một số tiền nhất định, tổng số tiền vay và tổng số tiền mà bên đi vay
phải trả trong một thời gian nhất định.
Hiện nay, hạn mức cho vay tiêu dùng chưa có quy định riêng biệt, mà vẫn áp
dụng theo các quy định chung về giới hạn cho vay. Do vậy, các TCTD hồn tồn có
thể đưa ra mức giới hạn cho vay tiêu dùng theo ý chí của mình. Ngồi ra, vấn đề lãi
suất cho vay tiêu dùng hiện nay và cả lãi suất cho vay nói chung đều do thị trường
điều tiết trên cơ sở tự thỏa thuận giữa khách hàng và các TCTD (theo quy định của
Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/04/2010 của NHNN về hướng dẫn cho
vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận), nhưng không
được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với loại cho vay tương
ứng (quy định tại khoản 1 Điều 476 BLDS 200526).
* Điều khoản về thời hạn sử dụng tiền vay: giúp ta xác định về trách nhiệm trả
nợ của bên đi vay trong một thời gian nhất định. Theo quy định của pháp luật, nếu
các bên khơng thỏa thuận gì khác thì thời hạn vay được tính từ ngày các bên giao
kết hợp đồng.
* Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay: HĐTDTD với mục đích vay vốn
là để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, đời sống. Bên đi vay phải có trách nhiệm sử
dụng vốn vay đúng với mục đích này.
* Điều khoản về đảm bảo tiền vay: các bên thỏa thuận về biện pháp bảo đảm

tiền vay bằng tài sản hoặc không bằng tài sản. Đối với trường hợp TCTD cho vay
26

Khoản 1 Điều 476 BLDS 2005 quy định: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá
150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với loại cho vay tương ứng.”


13

trên cơ sở đảm bảo bằng tài sản thì phải xem xét về điều kiện đối với tài sản bảo
đảm theo quy định của pháp luật.
* Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay: điều khoản này thỏa thuận
về cách thức trả nợ của bên đi vay: trả một lần hay nhiều lần. Trường hợp trả làm
nhiều lần thì các bên cũng phải thỏa thuận về số tiền phải trả và thời gian phải trả
cho từng lần.
+ Các điều khoản thơng thường: là những điều khoản mà sự có mặt hay
khơng có mặt của chúng trong hợp đồng khơng làm ảnh hưởng đến hiệu lực pháp lý
của hợp đồng. Tức là các bên có thể thỏa thuận đưa hoặc không đưa chúng vào hợp
đồng. Tuy nhiên, nếu đã thỏa thuận đưa vào hợp đồng thì các bên phải tuân thủ theo
đúng những gì đã cam kết. Các điều khoản thông thường giúp bổ sung và làm rõ
hơn về quyền và nghĩa vụ của các bên khi có sự phát sinh trong thời gian thực hiện
hợp đồng, chẳng hạn như điều khoản về gia hạn nợ, điều khoản về miễn giảm lãi
suất tiền vay, điều khoản về giải quyết tranh chấp, …
- Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hợp đồng tín dụng tiêu dùng
Căn cứ vào Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng, ban hành kèm
theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN, quyền và nghĩa vụ của các bên trong
hợp đồng tín dụng tiêu dùng được quy định như sau:
+ Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng với tư cách là bên cho vay
Xuất phát từ tính chất đặc thù của hoạt động cho vay, số tiền mà TCTD cho
khách hàng vay cũng là khoản tiền mà các TCTD huy động từ các tổ chức, cá nhân

khác; nên pháp luật ghi nhận một số quyền quan trọng để TCTD có thể bảo tồn
nguồn vốn của mình. Các quyền đó là27:
* Tổ chức tín dụng được quyền yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng
minh mục đích vay vốn, phương án phục vụ đời sống khả thi, khả năng tài chính
của mình trước khi quyết định cho vay.
* Quyền kiểm tra giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của
khách hàng. Hoạt động kinh doanh tiền tệ của TCTD là hoạt động đặc thù: đi vay để
cho vay. Do vậy, hoạt động tín dụng chỉ đạt hiệu quả khi nguồn vốn của TCTD đi
đúng hướng. Điều này giúp cho TCTD chủ động hơn trong việc sử dụng nguồn vốn
tín dụng, khi bên đi vay thanh tốn nợ đúng hạn sẽ tạo điều kiện cho TCTD nhanh
chóng lên kế hoạch quay vòng được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình.

27

Khoản 1 Điều 25 Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng, ban hành kèm theo Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN quy định về “Quyền của TCTD”


14

* Trong trường hợp TCTD phát hiện khách hàng vay cung cấp thông tin sai sự
thật, vi phạm HĐTDTD, TCTD được quyền chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ
trước hạn. Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên khơng có
thỏa thuận khác thì TCTD có quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn vay theo sự thỏa
thuận trong hợp đồng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
* Bên cạnh đó, TCTD còn được quyền xem xét miễn, giảm lãi vốn vay, gia hạn
nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ; được quyền khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng
tín dụng tiêu dùng theo quy định của pháp luật.
Song song với những quyền được thực hiện, pháp luật cũng quy định cho
TCTD một số nghĩa vụ nhằm bảo đảm quyền lợi của các chủ thể khác tham gia

trong quan hệ cho vay tiêu dùng như: phải thực hiện đúng thỏa thuận đã ký kết
trong HĐTDTD, phải lưu giữ hồ sơ phù hợp với quy định của pháp luật28.
+ Quyền và nghĩa vụ của cá nhân, hộ gia đình với tư cách là bên đi vay
Theo quy định của pháp luật29, bên đi vay có một số quyền sau đây:
* Quyền từ chối các yêu cầu của TCTD không đúng với các thỏa thuận trong
HĐTDTD. Theo quy định của pháp luật dân sự, hợp đồng là sự thỏa thuận của các
bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự30. Đây là cơ sở
pháp lý quan trọng đã được các bên thống nhất, vì vậy mỗi bên chỉ được yêu cầu
bên kia thực hiện nghĩa vụ được ghi nhận trong hợp đồng.
* Cá nhân, hộ gia đình khi đi vay còn được quyền khiếu nại, khiếu kiện việc vi
phạm HĐTDTD theo quy định của pháp luật. Quyền lợi này xuất phát từ nguyên tắc
khi thực hiện hợp đồng mỗi bên phải thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng,
chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác31.
Do đó, khi các TCTD vi phạm những điều khoản trong hợp đồng thì bên đi vay có
quyền khiếu nại, khởi kiện hành vi vi phạm đó nhằm đảm bảo cho những giao dịch
dân sự về hợp đồng được các bên tơn trọng, góp phần lành mạnh hóa những giao
kết hợp đồng trong đời sống.
Bên cạnh đó, cá nhân, hộ gia đình khi vay vốn tiêu dùng cũng phải thực hiện
các nghĩa vụ32 nhằm bảo đảm an toàn nguồn vốn cho TCTD như: cung cấp đầy đủ,
trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến việc vay vốn và chịu trách nhiệm về
28

Khoản 2 Điều 25 Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng, ban hành kèm theo Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN quy định về “Nghĩa vụ của TCTD”
29
Khoản 1 Điều 24 Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng, ban hành kèm theo Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN quy định về “Quyền của khách hàng vay”.
30
Điều 388 BLDS 2005.
31

Khoản 1 Điều 412 BLDS 2005.
32
Khoản 2 Điều 24 Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng, ban hành kèm theo Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN quy định về “Nghĩa vụ của khách hàng vay”.


15

tính chính xác của các thơng tin này; sử dụng vốn vay đúng mục đích; thực hiện
đúng các nội dung đã cam kết; trả nợ gốc và lãi vốn vay theo thỏa thuận; …
Như vậy, quyền của TCTD chính là nghĩa vụ của cá nhân, hộ gia đình đi vay,
và ngược lại; đây là cơ chế để các bên tôn trọng quyền lợi của nhau và là căn cứ để
cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết cho các bên khi có tranh chấp xảy ra.
1.1.3. Phân loại hợp đồng tín dụng tiêu dùng
Hợp đồng tín dụng tiêu dùng được thiết kế dựa trên sự phù hợp với từng yếu
tố cho vay tiêu dùng. Do vậy, việc phân loại HĐTDTD được xác định dựa trên cơ
sở phân loại các hoạt động cho vay tiêu dùng. Việc phân loại hoạt động cho vay tiêu
dùng của TCTD nói riêng và hoạt động cho vay nói chung có ý nghĩa quan trọng cả
về lý luận và thực tiễn. Dựa vào kết quả phân loại này mà các nhà làm luật có thể
xây dựng thành những quy chế cho vay phù hợp với hoạt động thực tiễn về nghiệp
vụ của các TCTD. Việc phân loại HĐTDTD dựa vào 3 căn cứ dưới đây:
1.1.3.1. Căn cứ vào mục đích vay
Căn cứ vào mục đích vay có thể phân hợp đồng tín dụng tiêu dùng thành 2
loại là hợp đồng cho vay tiêu dùng cư trú và hợp đồng cho vay tiêu dùng phi cư trú.
- Hợp đồng cho vay tiêu dùng cư trú: là hợp đồng theo đó các khoản vay được
cấp cho người vay nhằm phục vụ nhu cầu mua, xây dựng mới nhà ở hoặc sửa chữa,
cải tạo nhà ở đã có sẵn của cá nhân, hộ gia đình. Bản chất của hợp đồng gắn liền với
mục đích cư trú của người đi vay. Tính chất cư trú trong hợp đồng được xác định
trong phạm vi nhà ở, đất ở mà người đi vay sử dụng để ở, sinh sống ổn định lâu dài.
- Cho vay tiêu dùng phi cư trú: là các khoản vay phục vụ cho mục đích mua đồ

dùng sinh hoạt gia đình, phương tiện đi lại, chi phí học hành, du lịch, hoặc giải trí
khác, … Các khoản vay này khơng có tính chất phục vụ cho mục đích cư trú. Do
vậy, tính phi cư trú trong loại hợp đồng này được xác định là để phục vụ cho các
nhu cầu cịn lại khác, khơng liên quan đến vấn đề về đất đai, nhà ở.
1.1.3.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả tiền vay
Căn cứ vào phương thức hồn trả có thể chia thành 3 loại hợp đồng tín dụng
tiêu dùng dưới đây:
- Hợp đồng cho vay tiêu dùng trả góp: là loại hợp đồng tín dụng mà người đi
vay trả cho ngân hàng một số tiền bằng nhau nhất định trên mỗi kỳ hạn (hàng tháng,
quý hoặc 6 tháng). Loại hợp đồng theo phương thức này thường có thời hạn vay dài,
áp dụng cho những khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập định kỳ của người vay
khơng đủ khả năng thanh tốn hết một lần số nợ vay. Đây là loại hình cho vay tiêu
dùng chủ yếu của các NHTM, giúp khách hàng vay không bị áp lực trả nợ cuối kỳ.


16

- Hợp đồng cho vay tiêu dùng phi trả góp: là hợp đồng theo đó tiền vay được
khách hàng thanh toán cho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn. Thường khoản vay
tiêu dùng phi trả góp chỉ được cấp cho những khoản vay có giá trị nhỏ, thời hạn vay
không dài (thường dưới 1 năm), đối tượng khách hàng có thu nhập khá cao.
- Hợp đồng cho vay tiêu dùng tuần hồn: là hợp đồng mà theo đó ngân hàng sẽ
cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng được duy trì trong một khoảng thời gian
nhất định, khách hàng có quyền vay và trả nhiều lần mà khơng vượt q hạn mức
tín dụng của mình. Hình thức này thường áp dụng cho vay theo hạn mức thấu chi,
cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Hai hình thức cho vay trên được định nghĩa lần lượt tại khoản 8 và khoản 7
Điều 6 Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng, ban hành kèm theo Quyết
định số 1627/2001/QĐ-NHNN. Trong đó, thẻ tín dụng (Credit card) là loại thẻ cho
phép chủ thẻ sử dụng thanh tốn tiền hàng hóa, dịch vụ, rút tiền mặt trong hạn mức

tín dụng được ngân hàng phát hành thẻ chấp thuận theo hợp đồng phát hành thẻ.
Sau một thời gian nhất định, chủ thẻ phải thanh toán cho ngân hàng phát hành một
phần hoặc toàn bộ số tiền mà chủ thẻ đã sử dụng để thanh toán; nếu chủ thẻ chỉ
thanh tốn một phần số tiền đó thì chủ thẻ phải trả lãi cho khoản chưa trả cho ngân
hàng phát hành33. Như vậy, khi phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, giữa chủ thẻ và
ngân hàng phát hành cũng đã giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng thơng qua
nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Trong những năm gần đây, việc cạnh
tranh thẻ tín dụng trên thị trường ngân hàng bán lẻ khá sôi động và đa dạng, nhiều
ngân hàng đã thi nhau khuyến mãi, tung ra các loại thẻ thấu chi, thẻ tín dụng với lãi
suất hấp dẫn và cạnh tranh. Tuy nhiên, lãi suất vay tiêu dùng qua thẻ tín dụng hiện
nay khá cao, dao động từ 25% đến 31%/năm34. Ngồi mức lãi suất này, chủ thẻ cịn
chịu nhiều loại chi phí khác như phí chậm thanh tốn, phí vượt hạn mức tín dụng,
phí rút tiền mặt, … Giải thích về lãi suất cao như vậy, có chun gia cho rằng:
“trong lãi suất cho vay tiêu dùng có tính phần trăm độ rủi ro. Khi khách hàng không
thể trả nợ thì phần thu lãi từ khoản vay sau sẽ bù đắp cho khoản rủi ro trên35”.
1.1.3.3. Căn cứ vào nguồn gốc khoản vay

33

Khoản 5 Điều 2 Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân
hàng, ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 của Thống đốc NHNN.
34
Linh Chi, Tiêu dùng qua thẻ:lãi suất đi đôi với tài sản đảm bảo, đăng trên website: http://bizlive.vn/vangtien/tieu-dung-qua-the-lai-suat-di-doi-voi-tai-san-dam-bao-154726.html, (truy cập ngày 02/03/2014).
35
Trích nhận định của Lê Thẩm Dương, theo tác giả Thanh Xuân, Lãi suất vay tiêu dùng qua thẻ cao chót
vót, đăng trên website: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140115/lai-suat-vay-tieu-dung-qua-the-caochot-vot.aspx, (truy cập ngày 05/03/2014).


17


Căn cứ vào nguồn gốc khoản vay có thể phân loại HĐTDTD thành 2 loại là
hợp đồng cho vay tiêu dùng gián tiếp và hợp đồng cho vay tiêu dùng trực tiếp.
- Hợp đồng cho vay tiêu dùng gián tiếp: là loại hợp đồng cho vay, trong đó
ngân hàng mua lại các khoản nợ từ các doanh nghiệp đã bán chịu hàng hóa, dịch vụ
cho người đi vay, và thu lại từ khách hàng. Hình thức này ngân hàng cho vay thông
qua các doanh nghiệp bán hàng hoặc làm các dịch vụ mà không tiếp xúc trực tiếp
với khách hàng.
- Hợp đồng cho vay tiêu dùng trực tiếp: là hợp đồng mà ngân hàng và khách
hàng sẽ trực tiếp gặp nhau để tiến hành đàm phán, ký kết HĐTDTD; khách hàng sẽ
nhận tiền vay từ ngân hàng hoặc chuyển vào tài khoản của doanh nghiệp mà họ sẽ
mua hàng hóa, dịch vụ …
1.1.4. Vai trò của cho vay tiêu dùng thơng qua hợp đồng tín dụng tiêu dùng
Vai trị của cho vay tiêu dùng thơng qua hợp đồng tín dụng tiêu dùng được
thể hiện trên 3 phương diện là phương diện người đi vay, phương diện người cho
vay và phương diện nền kinh tế.
1.1.4.1. Xét trên phương diện người đi vay
Từ góc độ người đi vay, cho vay tiêu dùng thơng qua HĐTDTD có vai trị
tích cực trong việc hỗ trợ người dân về vấn đề chi tiêu (như: mua, xây dựng, sửa
chữa nhà ở, mua xe, du lịch, du học, tiêu dùng, …) nhằm đáp ứng nhu cầu trong đời
sống hằng ngày, từ đó nâng cao mức sống và trình độ dân trí của họ. Nhu cầu chi
tiêu được đáp ứng sẽ giúp cho người lao động được thỏa mãn, tái tạo sức lao động,
kích thích người dân lao động làm việc tích cực, sáng tạo, năng suất cao. Mở rộng
cho vay tiêu dùng qua các ngân hàng trên cơ sở các HĐTDTD sẽ làm giảm đi các
hiện tượng cho vay nặng lãi, giảm các hoạt động phi pháp từ đó giúp người nghèo
giảm bớt gánh nặng trong việc trả lãi tiền vay mượn.
1.1.4.2. Xét trên phương diện người cho vay
Người cho vay, như đã phân tích ở trên, chủ yếu là các NHTM và các cơng
ty tài chính. Vai trị cho vay tiêu dùng thơng qua HĐTDTD mở ra cho các ngân
hàng nhiều cơ hội phát triển. Việt Nam với dân số hơn 90 triệu người36 là một thị
trường đầy tiềm năng đối với các NHTM, đặc biệt là khi các ngân hàng cung cấp

cho họ các sản phẩm dịch vụ cá nhân như cho vay tiêu dùng. Mức sống người dân
ngày càng cao là một thị trường hấp dẫn để các ngân hàng thu hút vốn (dưới dạng
tiền gửi thanh tốn, tiền tiết kiệm), thu phí dịch vụ thanh tốn (chuyển tiền, phí
36

Minh Khang, Dân số việt Nam đạt mốc 90 triệu người – cơ hội lớn thách thức nhiều, đăng trên website
http://www.sggp.org.vn/xahoi/2013/11/331722/, (truy cập vào 27/03/2014).


18

kiểm đếm tiền, phí giữ hộ, …) và có được lợi nhuận từ cấp tín dụng, trong đó có tín
dụng tiêu dùng.
1.1.4.3. Xét trên phương diện nền kinh tế
Hợp đồng tín dụng tiêu dùng được ký kết nhằm tài trợ cho các chi tiêu về
mua sắm hàng hóa và dịch vụ trong nước, từ đó góp phần kích cầu và thúc đẩy nền
kinh tế phát triển. Thông qua việc thực hiện HĐTDTD, người đi vay có điều kiện
tích cực tiêu thụ hàng hóa37, ngân hàng rút ngắn khoảng thời gian lưu thơng dịng
vốn, nền kinh tế khởi sắc, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hoạt động cho
vay tiêu dùng thông qua HĐTDTD đang phát triển rất mạnh mẽ trong thời gian gần
đây và dự đoán sẽ càng mở rộng hơn nữa trong tương lai. Sự phát triển của hoạt
động này có vai trị tích cực trong việc kích cầu, từ đó góp phần đáng kể để các
doanh nghiệp tăng cường các hoạt động sản xuất ra của cải vật chất để đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng của người dân. Như vậy, xét trên phương diện nền kinh tế, cho vay
tiêu dùng thơng qua HĐTDTD có vai trị thúc đẩy kinh tế phát triển.
1.2. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi của ngƣời đi vay trong quan hệ hợp
đồng tín dụng tiêu dùng
1.2.1. Bảo vệ quyền lợi của người đi vay nhằm hạn chế trạng thái bất bình đẳng
giữa người đi vay và tổ chức tín dụng trong quan hệ hợp đồng tín dụng tiêu dùng
Tổ chức tín dụng nói chung và các ngân hàng nói riêng là những chủ thể hết

sức đặc biệt của nền kinh tế. Đặc biệt, trong quan hệ HĐTDTD, khi mà khách hàng
chỉ bao gồm các cá nhân và hộ gia đình, những chủ thể đơn lẻ có tiềm lực kinh tế rất
nhỏ bé so với các ngân hàng, người đi vay dễ dàng bị lấn át, nên cán cân vị thế có
thể nói hồn tồn nghiêng về phía các ngân hàng. Do vậy, một nền pháp chế văn
minh phải ưu tiên bảo vệ kẻ yếu38. Người đi vay trong quan hệ HĐTDTD (sau đây
gọi là người vay tiêu dùng) ở vị thế yếu hơn so với các TCTD bởi sự hạn chế về
thông tin, hạn chế về kiến thức chuyên môn và khả năng tự bảo vệ mình. Với xã hội
ngày càng phát triển và hiện đại hóa, các dịch vụ cho vay tiêu dùng ngày càng đa
dạng về hình thức và nội dung cho vay, và lẽ thông thường là bên cho vay sẽ là chủ
thể nắm rõ nhất các đặc điểm và tính chất pháp lý của loại giao dịch này. Ngày nay
37

Con số thống kê từ Tổng cục Thống kê mới đây đã thể hiện được kết quả kích cầu tiêu dùng nói trên. Cụ
thể tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng đầu năm 2014 tăng 11,4% so với cùng
kỳ năm 2013, nếu loại trừ yếu tố giá, tăng 6,4%.
(nguồn từ http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=403&idmid=2&ItemID=15127,
(truy cập ngày 06/09/2014)).
38
Nguyễn Như Phát (2003), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.10.


19

với sự phát triển của công nghệ thông tin, các mối quan hệ xã hội và với sự tư vấn
hỗ trợ của nhân viên ngân hàng, việc tìm hiểu các thông tin cơ bản về vay vốn tiêu
dùng không phải là khó, nhưng người đi vay vẫn khơng dễ dàng để biết hết được tất
cả đặc điểm cụ thể về khoản vay mà họ đang cần, đặc biệt là kiến thức chun mơn,
các quy định pháp luật có liên quan. Các nhân viên ngân hàng chỉ có thể tư vấn cho
họ một cách đủ để hiểu về khoản vay, còn cách tính lãi cụ thể ra sao, phí phạt như

thế nào, … người đi vay hầu như không nắm chắc, mà chỉ khi ngân hàng gửi giấy
thông báo cho họ thì họ mới thắc mắc về những khoản tiền này, có hợp lý và đúng
với quy định pháp luật hay khơng? Thực tế, các đặc điểm của hợp đồng có thể sẽ
gây bất lợi cho người đi vay thường được các nhân viên tín dụng cung cấp rất qua
loa, sơ sài, đến khi xảy ra trường hợp đó thì người đi vay mới vỡ lẽ. Chính vì sự hạn
chế về thông tin và kiến thức chuyên môn, cơ chế quản lý nhà nước về bảo vệ người
vay tiêu dùng còn chưa sâu sát, nên ý thức tự bảo vệ mình của người đi vay cũng
chưa được tận dụng. Do vậy, khi vấn đề quyền lợi của người vay tiêu dùng được
Nhà nước, pháp luật can thiệp để bảo vệ đúng mức sẽ góp phần làm tăng vị thế của
người đi vay trước các TCTD, từ đó giảm thiểu sự bất bình đẳng giữa các chủ thể
này.
1.2.2. Gia tăng khả năng chủ động đàm phán của người đi vay trong giao kết hợp
đồng tín dụng tiêu dùng
Người vay tiêu dùng hiện nay mặc dù được sự tư vấn, quảng cáo ồ ạt từ các
ngân hàng với hàng loạt chương trình ưu đãi, nhưng thực chất hoàn toàn bị động
trước các điều khoản mẫu mang tính ép buộc đã được ngân hàng soạn sẵn, và ít khi
có quyền được tự do thỏa thuận như các loại hợp đồng thơng thường. Vì vậy, khi
được pháp luật ưu tiên bảo vệ quyền lợi người đi vay trong quan hệ HĐTDTD, điều
chỉnh chặt chẽ hơn các mẫu HĐTDTD, người đi vay có được kiến thức các quy
định về hợp đồng, từ đó họ sẽ tự tin hơn khi đàm phán với ngân hàng trong các giao
dịch cho vay tiêu dùng, giảm sự lệ thuộc và bị động hiện đang tồn tại.
1.2.3. Giảm thiểu các khiếu nại của người đi vay từ đó góp phần nâng cao chất
lượng cuộc sống của người dân
Trong thời gian gần đây, người vay tiêu dùng đang rất bất bình trước cách
hành xử của một số ngân hàng. Các khiếu nại của họ ngày càng nhiều thông qua các
phương tiện thông tin đại chúng, các đường dây tiếp nhận thông tin người tiêu dùng
của các cơ quan quản lý và tổ chức xã hội tham gia bảo vệ người tiêu dùng39. Phần
lớn, người đi vay tỏ ra bức xúc trước sự tăng đột ngột của lãi suất và các loại phí rất
39


Phan Khánh An (2013), “Bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch ngân hàng, TCTD – Cần kiểm soát hợp
đồng mẫu, điều kiện giao dịch chung của ngân hàng”, Bản tin Cạnh tranh và người tiêu dùng, (37), tr.8.


×